12/06/2022
NHỮNG BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM CỦA BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.
Các thể bệnh đái tháo đường:
- Đái tháo đường type 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối).
- Đái tháo đường type 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin).
- Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ type 1, type 2 trước đó).
- Ngoài ra, đái tháo đường do các nguyên nhân khác, như: Đái tháo đường sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid.
- Tại Việt Nam để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán đái tháo đường
Nếu bệnh đái tháo đường không được kiểm soát và điều trị thường xuyên sẽ dễ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như:
1. Biến chứng cấp tính
- Nhiễm toan ceton: Insulin thường đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa đường - một nguồn năng lượng cho cơ bắp và các mô khác. Nếu không có đủ insulin, cơ thể bắt đầu phân hủy chất béo như một nhiên liệu thay thế. Đổi lại, quá trình này sản xuất axit độc hại trong máu gọi là ceton, cuối cùng dẫn đến nhiễm toan ceton bệnh tiểu đường nếu không được điều trị. Bệnh nhân có thể mệt mỏi, lơ mơ, hôn mê hay nguy hiểm nhất là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
- Tăng áp lực thẩm thấu máu : Đường huyết quá cao có thể gây hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu, đây là biến chứng nặng. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu máu thiếu Insulin tuyệt đối hoặc tương đối trầm trọng, kèm theo sự gia tăng các hormon kháng insulin. Khi thiếu Insulin, sự thu nạp glucose vào mô giảm và sử dụng glucose ở mô cũng giảm. Thiếu Insulin, gan sẽ tăng sản xuất glucose đưa vào máu. Sự giảm thu nạp glucose ở mô cơ và tăng sản xuất glucose từ gan sẽ làm tăng đường huyết, nếu đường huyết lớn hơn 200 mg/dL sẽ có đường xuất hiện trong nước tiểu, đường là chất có áp lực thẩm thấu cao gây đa niệu thẩm thấu, bệnh nhân bị mất nước và các chất điện giải nhất là kali, natri.
- Hạ đường huyết: Xảy ra khi đường huyết xuống dưới 3,6mmol/l. Nguyên nhân có thể là dùng quá liều thuốc hạ đường huyết, ăn uống kiêng khem quá mức hoặc không ăn nhưng vẫn dùng thuốc, tập luyện quá sức hay uống quá nhiều rượu.Những bệnh nhân có biều hiện của hạ đường huyết là đói cồn cào, mệt mỏi, run chân tay, bủn rủn, vã mồ hôi, choáng váng, hồi hộp đánh trống ngực. Nếu không được điều trị kịp thời có thể hôn mê hay tử vong.
2. Biến chứng mạn tính
- Biến chứng thần kinh: Tổn thương dây thần kinh: Là biến chứng phổ biến và thường xuất hiện sớm nhất ở người bệnh đái tháo đường. Biểu hiện ở các chi: tê bì, mất cảm giác hoặc rối loạn cảm giác, teo cơ, đau, thiểu dưỡng và loét do thiếu dinh dưỡng là nguy cơ của nhiễm trùng dẫn đến đoạn chi (cắt bỏ một phần của chi). Tổn thương dây thần kinh sọ có thể gây sụp mi, lác trong, liệt mặt. Tổn thương thần kinh thực vật còn có thể gây nhồi máu cơ tim, liệt bàng quang, liệt dương, rối loạn tiêu hóa
- Biến chứng thận: Bệnh tiểu đường gây ra các tổn thương mạch máu nhỏ ở thận dẫn đến thận hoạt động kém hiệu quả hoặc suy thận. Bệnh thận phổ biến ở những người mắc tiểu đường hơn những người không mắc.
- Biến chứng tim mạch: Đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị cao huyết áp, xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não
- Biến chứng về thị giác: Hầu hết những người mắc bệnh tiểu đường sẽ phát triển một số loại bệnh về mắt làm giảm thị lực hoặc mù lòa. Mức glucose máu cao liên tục cùng với huyết áp tăng và cholesterol cao là những nguyên nhân chính gây ra bệnh lý võng mạc. Tình trạng này có thể được kiểm soát qua kiểm tra mắt thường xuyên, giữ ổn định mức glucose máu và huyết áp gần hoặc bình thường.
- Nguy cơ nhiễm trùng: Đường trong máu cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, đồng thời làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể vì vậy rất dễ bị nhiễm trùng như nhiễm trùng răng lợi, tiết niệu hay sinh dục, vết loét lâu liền,... Tình trạng viêm nhiễm thường kéo dài, dai dẳng và khó điều trị,...
Vì vậy cần phát hiện sớm và tuân thủ điều trị để phòng tránh những biến chứng nguy hiểm mà đái tháo đường gây nên.