Tử Vi Cổ Học

Tử Vi Cổ Học

Share

Đây là fanpage chính thức của website: http://tuvi.cohoc.net

09/03/2025

6. Nhận thức toàn bộ tinh hệ

"Tử Vi Đẩu Số" có người hiện nay chia ra Giáp cấp tinh, Ất cấp tinh,...cho đến Mậu cấp tinh (1), cách phân loại này có nguồn gốc từ danh gia Bắc phái là Trương Khai Quyển tiên sinh, nhưng Vương Đình Chi cho rằng đáng bàn thảo để đưa đến xác thực, bởi vì cho dù là một sao trong Mậu cấp tinh có khi cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi lưỡng cấp tinh Giáp Ất tạo thành tính chất của tinh hệ, như Tham Lang Liêm Trinh đồng thủ cung Tật Ách, giải thích thông thường là "can dương thượng kháng chi bệnh" (bệnh do gan hoạt động thái quá gây ra), nhưng chỉ cần gặp một sao Thiên Nguyệt trong nhóm "Đinh cấp tinh" thì lại chủ cái mũi mẫn cảm quá, dễ bị cảm lạnh gây nghẹt mũi hay thường chảy nước mũi, chính điều này bị tác động bởi sao Thiên Nguyệt, há chỉ là "Đinh cấp" thôi sao.

Bởi vậy, Vương Đình Chi cho rằng đừng quay lưng lại với những kiến thức Tử vi cổ xưa, không cần sáng tạo thành cái mới hoàn toàn mà vẫn theo cổ nhân lấy tinh diệu chia ra làm năm loại chủ yếu là "Chính diệu", "Phụ diệu Tá diệu", "Hóa diệu", "Tạp diệu" và "Lưu diệu" ; và một điều nữa Vương Đình Chi hy vọng độc giả học tập "Đẩu Số" thì quan trọng có một khái niệm về nó, không thể truy nhặt từng sao hội chiếu đến mà hiểu rõ đặc tính được của nó, mà ắt hẳn phải nhận thức trọn cả tinh hệ thủ chiếu. Tỷ như tinh hệ có liên quan với Tử Vi thì có 6 cách cục là "Tử Vi Thiên Phủ", "Tử Vi Thất Sát" "Tử Vi Phá Quân", "Tử Vi Tham Lang", "Tử Vi Thiên Tướng" cùng với "Tử Vi độc tọa"; xa hơn việc giải thích đặc tính 6 hệ này, là tương tác biến hóa với các sao phụ tá, sao hóa, tạp diệu cùng sao lưu, tính chất tinh hệ lập tức sẽ phức tạp lên, hình thành nên những đặc tính mới mà khả năng suy đoán ra những tính chất khác nhau và không nhất quán, phải đi cùng với hoàn cảnh gặp gỡ.

Nếu chỉ nhận thức, nghiên cứu mỗi một sao có khi khó tránh khỏi tình trạng hoàn toàn không ăn nhập gì nhau, và cố gắng nhận thức toàn bộ tinh hệ là điều cần nhấn mạnh nhất từ "Trung Châu Phái".

Chú thích:

(1) Phân nhóm các sao thành các cấp có khác một chút so với phái Tử Vi VN (như bàng tinh, hung tinh, quý tinh,...) nhưng chi tiết hơn, có sự tác động qua lại hoặc không tác động trong những điều kiện nhất định. Còn lấy tên Giáp, Ất, Bính, Đinh,... chẳng qua là một trong những cách đánh dấu kiểu liệt kê của tiếng Hoa.

(Vương Đình Chi đàm đẩu số - PhuocLoc biên dịch)

08/03/2025

5. Phải học "Phép An sao"

Vương Đình Chi từng tham gia "Hội nghiên cứu thảo luận Tử vi Đẩu số" do Ích Triệu hội chủ sáng lập, một đêm tập thể hội viên trú ở thôn Trừng Bích, thảo luận nghiên cứu đến hai giờ khuya, đến khi người tham gia vừa lòng mới giải tán. Nhưng Vương Đình Chi lại không hài lòng, do phát hiện rằng người tham gia nghiên cứu thảo luận phần lớn không coi trọng "Phép an sao".

Ngày nay người học tập Tử vi Đẩu số do mỗi quyển sách đều có bảng để tra cho nên lười ghi nhớ "An tinh pháp" chỉ là lật sách kiếm sao trong bảng mà an ra, cho dù đã xong việc song bởi thế mà sinh ra cái tai hại. Tai hại ở lúc suy tính đại hạn lưu niên, không thông thạo "An tinh pháp" liền lập tức phát sinh trở ngại, vì một chút suy tính này mà không thông thạo hệ thống sao lưu niên tạp diệu không thể an các sao lưu theo Can như tứ Hóa; lưu Lộc tồn; lưu Dương; Lưu Đà; Lưu Xương; lưu Khúc; lưu Khôi; lưu Việt cộng là 11 sao, cùng với ba vòng sao lưu niên tạp diệu, tức Bác Sỹ, Lực Sỹ, Thái Tuế, Hối Khí…Tướng Tinh, Phàn An…, cộng lại là 36 sao.

Vương Đình Chi không tin rằng lúc suy tính đại vận lưu niên có thể một mặt tra biểu một mặt động não, hơn nữa lại có khả năng suy đoán ra được tính chất biến hóa của tinh hệ. Không chỉ như vậy, cho dù là sắp xếp tạp diệu cố định ở trên lá số, vào suy đoán thì cũng có quan hệ lớn, tỷ như xem tình huống Bệnh mãn tính chủ yếu tìm sao Thiên Nguyệt (1), xem tiêu tai giải nạn lại xem sao Hoa Cái, nếu thành thục "An tinh pháp" thì cứ căn cứ năm sanh, tháng sanh, gần như ngay lập tức mà hoàn toàn không cần động não để có thể tìm ra cung đóng của những sao này trên lá số, còn ví như tra bảng sẽ khiến suy đoán phân tâm ảnh hưởng đến sự chuẩn xác của suy đoán.

Trung Châu phái có một bộ "An tinh chưởng quyết", có khả năng sổ bấm ngón tay tìm ra cả trăm cung vị của sao, người y theo đó mà tập cho thành thục đều hiểu được so với tra biểu thì thuận tiện hơn. Năm ấy, Trương Khai Quyển tiên sinh sáng tạo ra "Bảng an nhanh" chỉ là vì muốn thuận tiện cho người mới học, người già nhập môn, Vương Đình Chi hy vọng học giả lúc nhập môn vẫn nên dành thời gian luyện tập và ghi nhớ "Phép an sao". Khi quen thuộc an sao sẽ không gặp trở ngại khi lưu thời vận suy đoán, hơn nữa, có thể mọi lúc mọi nơi chỉ cầm một tờ giấy trắng mà an sao ra lá số, lấy nó làm đề tài câu chuyện khi "trà dư tửu hậu".

Chú thích:

(1) Thiên Nguyệt: an theo tháng sinh

An Thiên nguyệt quyết:

Chánh nguyệt tại tuất nhị nguyệt tị, tam nguyệt thìn hề tứ nguyệt dần,

Ngũ nguyệt mùi lai lục nguyệt mão, thất hợi bát mùi cửu tại dần,

Thập nguyệt tại ngọ thập nhất tuất, thập nhị thiên nguyệt dần thượng tầm.

hoặc:

Nhất khuyển nhị xà tam tại long tứ hổ ngũ dương lục thỏ cung,

Thất trư bát dương cửu tại hổ thập mã đông khuyển tịch dần chung.

(Vương Đình Chi đàm đẩu số - PhuocLoc biên dịch)

05/03/2025

2. Giải thích "Tử Vi Đẩu Số"

Bài này là muốn giải thích tên gọi "Tử Vi Đẩu Số". Tên "Tử Vi" chính là chỉ một "Tinh viên" (1) mà không phải một tinh diệu. Ở cực bắc cũng tức là vào "Hợi vị" của la bàn, tức "Tử Vi viên" lấy sao Bắc cực làm chủ, căn cứ thuyết pháp của tinh gia (2) qua các thời kỳ cùng lấy đây là "Đế tọa", cũng tức đại biểu đế vương nên "Tử Vi viên" nên sáng không nên ám, ám thì quân vương vô đạo chủ quốc gia loạn lạc.

"Tử Vi Đẩu Số" kế thừa phát triển từ "Ngũ tinh" để đoán sự tốt lành của số mệnh, khởi nguyên từ các đạo gia thời nhà Tống, vì việc đoán mệnh Ngũ tinh lưu truyền lại của "Cầm đường phái" truyện không chuẩn, nguyên nhân chủ yếu ở trình độ thuật đoán mệnh thời xưa không tinh, cách mấy trăm năm vẫn y khẩu quyết mà suy đoán tinh diệu phân bố ở mười hai cung, thường gặp sai ở một cung vị nào đó, bởi vậy có người nghĩ nếu mà dùng vị trí bắc cực chủ tinh cố định lại làm chuẩn tắc, phát triển thuật xem mệnh bằng một hệ tinh diệu hẳn là có thể giải quyết được vấn đề nan giải không chính xác này.

Căn cứ vào ý niệm này phát triển thành thuật số, có hai hệ là "Thái Ất số" và "Tử Vi Đẩu Số"; gọi là Thái Ất và Tử Vi, kỳ thực đều là trỏ về bắc cực tinh, đều là "Thí như bắc thần, chúng tinh củng chi" (Tất cả sao đều chắp tay cung kính thần phương Bắc). Nhìn nhận từ quan điểm thiên văn học hiện đại, khái niệm này có sai lầm, nhưng khái niệm của các nhà thuật số lúc ấy lại chính xác.

"Đẩu" là chỉ nam bắc đẩu, lấy nam bắc đẩu trên bầu trời là chính tinh phân bố vào mệnh bàn (lá số) dùng để suy đoán tốt xấu của mệnh, xưng là "Đẩu Số", bởi sự phân bố tinh đẩu theo sao Tử Vi là chuẩn tắc, khi định vị được sao Tử Vi tất 14 sao nam bắc đẩu cũng được định vị, cho nên mới gọi là "Tử Vi Đẩu Số".

Chú thích:

(1) "Tinh viên": chỉ khu vực của ngôi sao.

(2) "Tinh gia": Nghề, người xem sao, người coi về các việc xem sao để nghiệm sự tốt sự xấu gọi là tinh gia.

(Vương Đình Chi đàm đẩu số - PhuocLoc biên dịch)

01/03/2025

THÁI DƯƠNG

(VƯƠNG ĐÌNH CHI ĐÀM TINH)

(Dịch và bình chú: Hà Phong)

"Tử Vi đẩu số toàn thư" luận Thái Dương có câu rằng: "Từ ái rộng lượng, phúc thọ hưởng dài lâu." (慈爱量宽大, 福寿享遐龄.) Khi luận về Thái Dương nhất định phải coi trọng nhận định này.

Cái gọi là "Từ ái rộng lượng", thì trong "Trung Châu phái" gọi là bản chất "Làm cho người mà không nhận lại" (施而不受) của Thái Dương. Thái Dương chiếu sáng khắp vạn vật, vạn vật không có ánh sáng thì không thể sinh trưởng, thậm chí không có dương quang thì chẳng có mưa móc (ơn mưa móc), nhưng vạn vật tuyệt không thể "báo đáp" Thái Dương, đây chính là "Làm cho người mà không nhận lại" vậy. Đối với câu "Từ ái rộng lượng", cũng cần hiểu giống như vậy, thì mới có thể tránh khỏi võ đoán.

Hiểu được bản chất này, thì mới có thể hiểu được "động cơ" của Thái Dương không giống "động cơ" của Thái Âm. Động cơ của Thái Dương là phục vụ người khác, động cơ của Thái Âm (thì) lại là tư lợi. Cho nên người Mệnh Thái Dương , rất nên làm việc trong lĩnh vực có tính chất phục vụ, như bác sĩ, luật sư, công tác xã hội, hoặc trong giới truyền thông… Cái gọi là "Quí mà không phú", tức cũng chỉ người này chủ yếu hướng tới có vị trí xã hội vậy. (Hà Phong: hướng tới vị trí có thể phục vụ tốt cho xã hội).

Bởi vì Thái Dương chủ quí, cho nên khi đoán Mệnh cho người Thái Dương, cần phải lưu ý vị trí xã hội của đương số, đại khái một đời tài phú của người này sẽ tương ứng với địa vị xã hội mà họ có. Địa vị càng cao càng phú, địa vị thấp kém thì (phú) giảm đi.

Có 2 nguyên tắc quan sát, để xem người Mệnh Thái Dương có địa vị thế nào:

Thứ nhất, (đầu tiên) cần xem Thái Dương có quang huy hay không. Tại các 6 cung Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi là có quang huy; tại 6 cung Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu là mất quang huy. Người sinh ban ngày, từ giờ Dần đến giờ Mùi, quang huy là tốt đẹp nhất; người sinh ban đêm, từ giờ Thân đến giờ Sửu, quang huy kém đi một bậc. Người sinh ban ngày mà Thái Dương mất quang huy thì cát hung tương bán; người sinh ban đêm mà Thái Dương mất quang huy thì là hung.

Thứ hai, cần xem tổ hợp tinh diệu, bởi vì Thái Dương là chủ tinh của Trung Thiên tinh hệ, cho nên cũng ưa thích "Bách quan triều củng" giống như Tử Vi vậy, chỉ là không có cách cục "Phủ Tướng triều viên", mà thay vào đó là cách cục "Nhật Nguyệt tịnh minh", tức là kết cấu Thái Dương tại Thìn, Thái Âm tại Tuất tương chiếu.

Thái Dương tại Hợi, gọi là "phản bối", đây là một trong những cách cục lớn của Tử Vi Đẩu Số. Phàm đã là cách cục lớn, thì hoặc là rất cát lợi, không thì sẽ là rất khốn trệ (困滞), rất hiếm khi ở trạng thái trung bình.

Thái Dương ở cung Hợi là bị mất đi ánh sáng, chủ cho đương số một đời vất vả cực nhọc, vị trí xã hội không cao, cho dù có đồng hội (cùng một lúc hội) các cát tinh như Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt, cũng chỉ có thể cải thiện vị trí xã hội, còn cực nhọc vất vả vẫn khó tránh. (Hà Phong: Có 2 vấn đề. Thứ nhất, hội được cả 3 cặp cát tinh kia là không dễ, cho nên hội được ít sao hơn vẫn phải có tác dụng. Thứ hai, có lý luận cho rằng Thái Dương tại Hợi hội nhiều cát tinh phù hợp, thì chỉ là sau chừng 40 tuổi mới có công danh, mới bớt vất vả, nên lưu ý điều này).

Tuy nhiên Thái Dượng tại Hợi rất thích hợp gặp cách cục "Lộc Mã giao trì", tức Mệnh hoặc Di gặp Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, lại gặp Thiên Mã, tức là hình thành cách cục có được phú quí lớn nhờ việc ly hương lập nghiệp. Nếu lại gặp các cát tinh như Xương Khúc hội hợp, thì lại càng thêm đẹp. Thái Dương tại Hợi, thời trẻ bất lợi cho cha, "Lộc Mã giao trì" cũng lại giống thế. Vì điểm chung là cả hai cách cục này đều chỉ việc tha hương lập nghiệp, cho nên ít nhất thì cũng là không được hưởng phúc ấm của cha mẹ. Nếu như có cách cục này, mà không ly hương, thì vẫn chủ về khốn trệ.

Thiên "Chư tinh vấn đáp luận" lúc bàn về Thái Dương viết: "Mệnh có cát tinh thủ chiếu, tốt nhất là đắc Thái Âm đồng chiếu, phú quí toàn mĩ" (命逢诸吉守照, 更得太阴同照, 富贵全美.), lại nói: "Nếu như Thân cư Thái Dương, gặp nhiều cát tinh, thì làm kẻ môn khách của quí nhân, nếu không thì là kẻ sai dịch cho bậc công khanh" (若身居之, 逢吉众, 则可在贵人门下客, 否则公卿走卒.)

Đoạn này, rất dễ khiến người ta sơ suất. Sự phân biệt chủ yếu là ở chỗ khác biệt giữa Thái Dương tại cung Mệnh và Thái Dương tại cung Thân. Thái Dương thủ Mệnh, nếu cát thì có thể phú quí, Thái Dương thủ Thân, trừ phi Mệnh cũng có cách cục khác, nếu không thì tuy là cát nhưng chủ cho việc làm dâu trăm họ (为人作嫁).

Nếu như cung Thân cư cung Phu Thê mà có Thái Dương tọa thủ (lại) gặp nhiều cát tinh hội hợp, nếu là nữ mệnh thì chủ việc cưới được người chồng phú quí, nếu là nam mệnh cũng chủ nhờ vợ mà được quí.

Cái gọi là "Vì vợ được quí" (因妻得贵), thời xưa chuyên chỉ nhờ nhạc phụ đề bạt, nhưng thời nay sẽ tương đối phức tạp khi phán đoán, có thể chủ về việc được vợ giúp sức mà giành được phú quí, mà cũng có thể cưới được người vợ mà bản thân họ có sự nghiệp lớn, lúc suy đoán không thể chỉ rập khuôn theo lời cổ nhân.

Ảnh hưởng của các sát tinh đối với Thái Dương, mỗi sát tinh lại mỗi khác.

Thái Dương tốt nhất là không hóa Kị. Nếu như Thái Dương hóa Kị thủ Mệnh, nữ mệnh rất không có lợi cho người thân là nam giới, thời trẻ khắc bố, hôn nhân sóng gió, về già lại sinh ly với con cái. Đặc biệt là về việc sóng gió trong hôn nhân, thường biểu hiện thành việc bị người khác bội tình bạc nghĩa (始乱终弃), cho nên nếu nữ mệnh như thế này, rất cần cẩn thận trong vấn đề tình cảm, không nên kết hôn sớm, cũng không nên yêu đương quá sớm. Trong vấn đề con cái, cũng nên đề phòng việc sẩy thai/phá thai hoặc sinh non… (Hà Phong: tôi cho rằng nên phân biệt chủ-khách, nghĩa là người làm hại cho ta, hay ta làm hại cho người.)

Linh Tinh không nên cùng với Thiên Hình đồng chiếu Thái Dương hóa Kị, nếu như 3 sao này đồng độ, chủ tai họa bệnh tật, quan phi, thất bại, hình khắc. Ứng vào tính chất nào, cần xem thật kĩ tinh diệu ở các cung để quyết định. Ví dụ như cung Quan Lộc không cát, thì chủ sự nghiệp khuynh bại.

Nếu như Kình Dương Đà La cùng chiếu Thái Dương hóa Kị, thì chủ tật bệnh, rất dễ là tật bệnh của hệ thống thần kinh. Người nghiên cứu thuật số nước ta (lời Vương Đình Chi) cũng xem tật bệnh đó ở hệ thống thần kinh, hoặc cũng có thể là tật ở huyết quản và tâm tạng, đồng thời chủ cho hệ nội tiết mất điều hòa.

Mệnh Thái Dương, có một cách cục rất trọng yếu, gọi là "Nhật xuất lôi môn". Tức là Mệnh Thái Dương tại Mão. Do vì Thái Dương tại cung Mão xem như là mặt trời bắt đầu mọc từ phương Đông, ánh sáng chiếu khắp vạn trượng, nên xem là cát. Gọi là "lôi môn" là vì cung Mão thuộc quẻ Chấn, Chấn vi Lôi, cho nên trong thuật số gọi cung Mão là "lôi môn" vậy.

Thái Dương tại Mão tất đồng cung với Thiên Lương. Tốt nhất là được Thái Âm hóa Lộc đắc Xương Khúc tại Hợi hội hợp, tức là thành cách cục "Dương Lương Xương Lộc", cổ nhân cho rằng có lợi cho thi cử, có câu "Dương Lương Xương Lộc, (sẽ) được xướng danh là kẻ đỗ đầu" (阳梁昌禄, 胪传第一名), ở thời nay, được coi là tinh hệ của nghiên cứu học thuật. Cũng chủ có lợi cho việc cạnh tranh, giống như là cây cột nổi trội trên một khoảng đất vậy.

Duy (nhất) không thích Thiên Lương hóa Lộc, cho dù thành cách "Dương Lương Xương Lộc" cũng chỉ chủ là người có chuyên môn (không quá cao), nhưng không thể có thành tựu cao trong học thuật. Ví dụ như có thể trở thành bác sỹ, những không thể (không nên) làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu y dược (nghiên cứu sâu), cách cục bị giới hạn tương đối lớn.

"Thái Dương Cự Môn" đồng độ, cũng là một tổ hợp trọng yếu, gọi là "Cự Nhật đồng lâm cách". Phàm cách cục này thì sẽ thành lập trên 2 cung Dần/Thân. Cổ ca có câu: "Cự Môn bất tương phạm", chủ yếu là chỉ Cự Nhật tại Dần, nếu tại Thân, do vì Thái Dương mất đi ánh sáng, cho nên nam mệnh lục thân sẽ có khuyết điểm, càng rõ hơn nếu là nữ mệnh, không nên kết hôn sớm. (Hà Phong: câu "Cự Môn bất tương phạm" là ý nói tuy Cự Nhật đồng cung, nhưng nếu là tại Dần thì Thái Dương sáng, nên tính thị phi của Cự Môn không làm hại đến quí khí của Thái Dương).

Cự Nhật đồng cung có một đặc điểm lớn đó là có khẩu tài. Ở thời nay, chủ về thiên tài ngôn ngữ, có thể học tập nhiều phương ngôn và ngoại ngữ. Riêng về phương diện khẩu tài chủ về có thể phát huy năng lực thuyết phục.

Có thêm một ý nghĩa nữa của Cự Nhật, là chủ về người nơi khác hoặc người không cùng chủng tộc. Cho nên lúc Thái Dương hóa Quyền, Cự Môn hóa Lộc, thường được người nơi khác hoặc người khác chủng tộc (hoặc người nước ngoài) đề bạt, tán thưởng.

Thái Dương hóa Kị, hoặc Cự Môn hóa Kị, dễ dính mắc thị phi, cho nên nên làm việc mà vốn sẵn có tính chất của thị phi yêu ghét, như là luật sư, ngoại giao… Nếu không thì cũng chủ tốn nước bọt để kiếm tiền (费唇舌以求财), như là người môi giới vậy.

27/02/2025

THIÊN ĐỒNG

(VƯƠNG ĐÌNH CHI ĐÀM TINH)

(Dịch và bình chú: Hà Phong)

Thiên Đồng là phúc tinh. Cho nên "Tử Vi đẩu số toàn thư" nói rằng: "Là chủ tể của cung Phúc Đức, có thể hóa phúc" (为福德宫之主宰, 云化福). Lại viết: "Trong 12 cung đều là phúc, không bị "phá tổn" thì cát tường" (十二宫中皆日福, 无破绽为祥).

Thiên Đồng là phúc tinh, trong thực tế còn mang ý nghĩa của việc chuyển họa thành phúc, từ bất lợi mà thành có lợi, (cũng) chính vì lý do này mà gọi Thiên Đồng là phúc tinh. Tại 12 cung đều có tính chất căn bản này. (Hà Phong: như vậy là khiến hung hóa cát là tính-tình của Thiên Đồng, cần tìm hiểu xem trước tiên cần có hung rồi mới hóa giải hoặc hóa thành cát, hay là nhất nhất đều khiến mọi việc tốt lên).

Thiên Đồng cũng chủ về tâm tình cảm và ý chí (情绪及意志). Cho nên thích gặp cát tinh, cũng thích/cần gặp một chút sát kị trong những tình huống phù hợp (亦喜在适当的情形下见一点煞忌). Tình huống trước (gặp cát không gặp sát) thì sẽ bình ổn trên phương diện tâm tình; tình huống sau (gặp một chút sát kị) thì sẽ có lực kích động/kích phát (về mặt ý chí). So sánh 2 tình huống này, thì Thiên Đồng nhận được sự kích phát sẽ có thành tựu tương đối lớn. Cho nên mới có 2 cách cục "Mã đầu đới tiễn" và "Tuất cung phản bối".

Mã đầu đới tiễn là Thiên Đồng cũng với Kình Dương đồng cung tại Ngọ. Người xưa nói rằng: Mã đầu đới tiễn uy trấn biên cương.

Tuất cung phản bối là Thiên Đồng tại Tuất, nhưng (cần có) Cự Môn hóa Lộc và Văn Xương hóa Kị đồng triền tại Thìn cung, thì có tượng bĩ cực thái lai.

"Tử Vi đẩu số toàn thư" luận Mệnh cung, liệt kê tường tận các tình huống cát hung của Mệnh Thiên Đồng, (ở đây tôi – Vương Đình Chi) không ngại đưa thêm vào đó sự nghiên cứu của mình.

Người sinh năm Bính, Mệnh Thiên Đồng tại Tị Hợi Dậu cung, tài quan song mĩ phúc không nhỏ, Mùi cung thì kém hơn (次之).

Thiên Đồng tại Tị Hợi, đối cung là Thiên Lương. Người sinh năm Bính, Thiên Đồng hóa Lộc, Lộc Tồn tại Tị, hình thành điệp lộc cách. Phàm là điệp lộc sẽ chủ phú, nếu gặp Tả Hữu, Khôi Việt tất là quí cách, cho nên gọi là tài quan song mĩ.

Tại cung Dậu, Thiên Đồng và Thái Âm xung đối, hội với Cự Môn tại Tị (cung Tài Bạch), người sinh năm Bính, Thiên Đồng tại Mệnh hóa Lộc, Tài Bạch cung có Lộc của Cự Môn (Cự Môn Lộc Tồn), cho nên là phú cách, nếu gặp trợ diệu cũng chủ phú quí song mĩ.

Tại cung Mùi, Thiên Đồng Cự Môn đồng độ, người sinh năm Bính Thiên Đồng hóa Lộc, Lộc Tồn tại cung Phu Thê, cho nên không đẹp bằng điệp lộc, nên phú quí không bằng. Do những luận cứ này nên nói Thiên Đồng (rất) thích điệp lộc.

"Tử Vi đẩu số toàn thư" luận Mệnh Thiên Đồng lại có câu: Ngọ là hãm địa, người sinh năm Đinh thì tốt (丁生人宜之).

Tại cung Ngọ, Thiên Đồng Thái Âm đồng độ, người sinh năm Đinh, Lộc Tồn tại Ngọ, Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền; vậy là đã gặp điệp lộc, (mà) Thiên Đồng hóa Quyền tất tăng cường thêm ý chí, cho nên tuy Thiên Đồng ở Ngọ là hãm địa nhưng vẫn chủ có sự phát triển vượt bậc (发越).

Cũng là kết cấu này, nếu là người sinh năm Mậu thì sẽ có Kình Dương tại Ngọ đồng cung với Đồng Âm, liền trở thành cách cục mã đầu đới tiễn. Mã đầu là chỉ cung Ngọ, bởi vì trong 12 con giáp thì Ngọ thuộc vào loài ngựa. Đây là một cách cục lớn trong Tử Vi đẩu số, chủ cho việc đương số trải qua trùng trùng hiểm trở mà sau phát triển thành (rất) tốt đẹp (主人经历重重险阻而后发迹变泰).

Nhưng Thiên Đồng Thái Âm chủ về việc tâm tình có biên độ biến hóa lớn, cho nên người sinh năm Mậu (với Mệnh Đồng Âm tại Ngọ) sau khi trở nên tốt đẹp, thường thường trên phương diện tâm lý không thể/khó mà có được sự bình ổn, sẽ có tư tưởng bi quan, thậm chí đa nghi đa kị (往往心理上反而不能平稳, 有悲观思想, 甚至多疑多忌), thường là ở đại vận thứ 5 sẽ ứng kì, tức cũng là lúc trên 60 tuổi.

"Toàn thư" luận Thiên Đồng lại nói: "Nếu ở tại cung Hợi, người sinh năm Canh là hạ cục. Nếu lại gặp Dương Đà Linh Kị xung hội, tất là cô đơn phá tướng mắt có tật". Thiên Đồng tại Hợi, người sinh năm Canh thì Thiên Đồng hóa Kị, cho nên mới nhận định là hạ cục. Hiện nay các phái Tử Vi có người cho rằng Thiên Đồng không hóa Kị, (mà là) người sinh năm Canh thì Thái Âm hóa Kị, dựa vào "Toàn thư" mà nói, thì (dường như) vẫn định là Thiên Đồng hóa Kị.

Ngoài ra còn có thể tham khảo, là trong "Toàn thư" còn có nhận định như sau: Thìn Tuất bình hòa, người sinh năm Bính Đinh thì có lợi và thành đạt, người sinh năm Canh Quí phúc chẳng lâu dài (辰戌平和, 丙丁生人利达, 庚癸生人福不耐久).

Thiên Đồng độc tọa tại Thìn Tuất, đối cung là Cự Môn, người sinh năm Bính Thiên Đồng hóa Lộc, người sinh năm Đinh Thiên Đồng hóa Quyền, cho nên gọi là lợi đạt (利达); nhưng người sinh năm Canh, Thiên Đồng hóa Kị nên mới nói là phúc chẳng được dài lâu. (Hà Phong: Xem ra lợi đạt mang ý nghĩa tài quan song mĩ, lợi là tiền chăng? đạt là danh chăng, là thành đạt chăng?). Cho đến người sinh năm Quí có sự bất lợi, là do đối cung Cự Môn hóa Quyền, chủ về li hương lập nghiệp (背井离乡), cho nên cổ nhân không ưa thích (Thiên Đồng tại Thìn Tuất đối với người sinh năm Canh).

Thiên Đồng phản bối tại Thìn Tuất, có hai tổ hợp tinh diệu khác nhau.

Thứ nhất, là người sinh năm Tân, Thiên Đồng tại Tuất, có Cự Môn hóa Lộc đối cung, (lại còn cần) Văn Xương hóa Kị đồng triền.

Thứ hai, là người sinh năm Đinh, Thiên Đồng hóa Quyền tại Tuất, hội với Thái Âm hóa Lộc và Thiên Cơ hóa Khoa tại cung Quan Lộc, đồng thời Cự Môn tại Thìn hóa Kị, hình thành cách cục tứ hóa hội hợp.

Chính vì vậy mà cổ nhân mới có kiến giải cho rằng Thiên Đồng tại Tuất với người sinh năm Đinh chính là cách cục (Thiên Đồng tại) Tuất cung phản bối.

Thiên Đồng ưa thích Hóa Lộc, tuy nhiên tại một số tình huống phù hợp, (ngược lại cũng) ưa thích Hóa Kị (nhằm) gia tăng sự kích thích, đây chính là nguyên lý của các cục phản bối. Cần nhớ khi đã nhận sự kích thích, liền nhất định (có dấu hiệu) của việc từ bất lợi chuyển thành có lợi, từ hàn vi trở thành thông suốt và đẹp đẽ (但既受激发, 便一定是由不利转变为有利, 由寒微转变为通泰), nên mang ý nghĩa của bĩ cực thái lai, đại khái là cách cục điển hình của việc bạch thủ hưng gia.

Nhưng mà cách cục này cổ nhân cho rằng đối với phụ nữ là bất lợi.

Nữ Mệnh Thiên Đồng, cổ nhân không ưa thích Thiên Đồng đồng cung hoặc đối cung với Thái Âm (tức là Thiên Đồng tại Tý Ngọ Mão Dậu), và cũng không ưa thích Thiên Đồng đồng cung hoặc đối cung với Thiên Lương (tức là Thiên Đồng tại Dần Thân Tị Hợi), là do cho rằng là cách cục tuy mĩ nhi dâm. Kì thực, then chốt để phán đoán nằm tại " mức độ của ý chí" (推断的关键在于意志力). (Hà Phong: dâm là một khái niệm rất thú vị, đại để có thể nói dâm là "cái gì bị xâm nhiễm quá mức đến độ gây hại").

Thiên Đồng chịu sự ảnh hưởng của Thái Âm, ý chí tương đối bạc nhược, (lúc này sẽ) càng không nên chịu sự kích thích của Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh.

Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thiên Lương, dễ có cảm giác rằng nhân sinh như mộng, nên không nên gặp Kình Dương hoặc Đa La.

Nên "Toàn thư" mới nhận định rằng: "Nữ gặp sát xung phá, thì hình phu khắc tử; Thiên Lương xung phá thì làm vợ lẽ. Lại đặc biệt chỉ rõ là do ảnh hưởng của Thái Âm, Thiên Lương đối với Thiên Đồng.

Kì thực Thiên Đồng đắc Lộc quá nhiều, thì sẽ dẫn đến trên phương diện tâm tình sẽ mất cân bằng, mà trên mặt này thì (cổ nhân cho rằng) đối với mệnh nữ là không thích hợp. Nhưng đây là quan niệm theo tiêu chuẩn đạo đức của người xưa, e rằng không phù hợp (hoàn toàn) với trào lưu của thời đại này.

Thiên Đồng chủ về tâm tình và ý chí, cho nên tinh diệu này rất khó luận đoán, nên khi gặp Lộc, Quyền, Khoa, Kị càng nên chú ý tính chất của Thiên Đồng đủ hay không đủ sự quân bình.

Cổ nhân luận mệnh, rất coi trọng Thiên Đồng đắc Lộc, bất luận Hóa Lộc hay Lộc Tồn đều là tốt đẹp, đó là vì tài lộc có thể nuôi dưỡng sinh mệnh (và cuộc sống), cho nên dễ được vừa ý, tuy nhiên ở đây lại không đề cập đến vấn đề tâm tình. Đại để vì xã hội xưa, không có chuyện (không bàn về) tình yêu nam nữ, hôn nhân chính thức đều là do cha mẹ, do mai mối cả, cho nên về điểm này (cổ nhân) không tránh khỏi (luận giải) có phần sơ sài.

Nếu chỉ nói trên phương diện tâm tình, Thiên Đồng không nên gặp nhiều Lộc, nhất là khi Thiên Đồng Cự Môn đồng độ (tại Sửu Mùi), thường dễ gặp phải tình yêu mà mang tới nỗi khổ nội tâm. Đây là vì Cự Môn là ám diệu, có khả năng ngăn cản/chôn lấp tâm tư và nội tâm (của Thiên Đồng).

Thiên Đồng gặp trọng Lộc (nhiều lộc) thì gặp nhiều sự quấy nhiễu của tâm tình có một câu tục ngữ, có thể lấy để hình dung: No cơm ấm cật (饱暖思淫欲).

26/02/2025

LIÊM TRINH

(VƯƠNG ĐÌNH CHI ĐÀM TINH)

(Dịch và bình chú: Hà Phong)

Sao Liêm Trinh cát hung vô định; khi hội hợp với các cát tinh thì chủ cho việc có địa vị cao quí, thậm chí còn có lợi cho sự phát triển trong giới chính trị; khi hội hợp với các sát diệu, tất chủ triền miên hung họa, thậm chí còn có tai nạn về máu huyết/máu mủ.

Vào thời Hán, nhà Dịch học Dực Phụng đã từng đề cập đến cái tên của Tham Lang và Liêm Trinh, lại còn nói: "Tham Lang thiện hành, Liêm Trinh ác hành" (贪狼善行, 廉贞恶行), tức là nói về sự biến đổi và bản chất tương phản của 2 tinh diệu này. Liêm Trinh vốn dĩ chủ sự tốt đẹp của phẩm trật (phẩm hàm/phẩm chất và trật tự), nhưng mà lại có thể biến chuyển thành ác. Cổ nhân cho rằng Liêm Trinh hóa khí là Tù, tức là giống như cách Dực Phụng nói.

Tính chất căn bản của Liêm Trinh là về "cảm tình", lúc là thiện tinh thì chủ về tình cảm hòa hợp, nhưng khi biến thành ác tinh thì chủ về rạn nứt đổ vỡ trong tình cảm. Khi Liêm Trinh đóng ở các cung thuộc về lục thân, thì dựa vào sao này, có thể đoán về quan hệ giao tế của đương số, là tốt hay là xấu. Liêm Trinh là thứ đào hoa, cũng là do từ phương diện cảm tình mà có vậy.

Do vì sắc thái cảm tình của Liêm Trinh rất nồng hậu, cho nên nữ mệnh thì biến hóa nhiều hơn so với nam mệnh. Khi gặp các sao sát, kị, hình, thì chủ hôn nhân có đến 2-3 lần đổ vỡ. Hội Tham Lang, Phá Quân, Thất Sát thì sẽ là người làm lẽ hoặc là người vợ/chồng thứ 2 (thứ 3), hoặc chủ về hôn nhân mà không có lễ nghi chính thức. Tuy nhiên cũng có cách cục mà Liêm Trinh là thanh bạch, kết cấu này có thể phân thành 3 loại:

1. Liêm Sát Sửu Mùi, mà Liêm Trinh hóa Lộc.

2. Liêm Trinh độc tọa tại Dần Thân, có Lộc Tồn đồng độ hoặc ở đối cung.

Nhưng mà cái gọi là Liêm Trinh thanh bạch, chỉ là nói về số lần kết hôn không nhiều, còn sau khi bị thất vọng trong tình cảm, thì trong tâm tư vẫn còn quyến luyến, cho nên mới nói Liêm Trinh (khi) thanh bạch thì có thể sống lâu dài với nhau (相守). 2 kết cấu này, đều lấy Lộc làm chủ, cho nên có thể thấy muốn sống lâu dài được với nhau thì cần phải có nền tảng tài chính tốt. Nếu như Hình Kị xâm phạm, thì có khả năng vì (chỉ vì để đảm bảo) cuộc sống mà mất đi chí hướng (即可能为了生活而丧志), liền biến thành cách cục trụy lạc, sa đọa. (Hà Phong: 堕落 – có nghĩa là trụy lạc hoặc lưu lạc, có lẽ lưu lạc thì hợp lý hơn.)

Nam mệnh Liêm Trinh, thì rất (cần) xem thật kĩ mối quan hệ với Thất Sát. Khi Liêm Sát đồng cung tại Mùi, hay khi Liêm Trinh tại Thân còn Thất Sát tại Ngọ, chỉ cần không gặp sát diệu, (và) có sự trợ giúp của cát diệu, thì sẽ thành Hùng tú càn nguyên cách, chủ cho người trước tiên sẽ trải qua gian nan rồi sau sẽ "tỏa sáng rực rỡ" (光华吐露), từ sau tuổi trung niên thì có sự thành đạt (大器晚成). Nhưng nếu Liêm Sát Sửu Mùi gặp kị sát hình, thì trở thành cách "da ngựa bọc thây" (马革裹尸), chủ cho người theo nghiệp vũ chức "(dám) chết vì cương vị của mình". Cho nên lúc gặp cung Mệnh có cách cục này, không nên chọn nghiệp vũ chức. Tại hai cung Tị Hợi, Liêm Tham đồng độ, nếu như cung Thiên Di có sát kị hình hội hợp, thì chủ chết nơi đất khách quê người. Gặp cách cục này thì không nên rời khỏi gia đình (故见到这结构以不出门为宜). Đây chính là đạo lý của việc xu cát tị hung. Tại 2 cung Mão Dậu thì Liêm Phá đồng độ, nếu hội sát kị hình, thì chủ cho bị đổ xe hoặc bị thú làm tổn thương. Các cấu trúc tại Mệnh hay Thiên Di cũng luận như vậy.

Tóm lại, Liêm Trinh cùng Sát Phá Tham đồng cung, gặp các sao sát kị hình, đều cần đề phòng các tai nạn ngoài dự liệu.

Liêm Trinh thích Hóa Lộc, mà không ưa Hóa Kị, đây là 2 cực đoan. Liêm Trinh hóa Lộc, chủ phú quí; hóa Kị chủ có tai nạn đổ máu. Duy có nữ mệnh gặp phải trường hợp này, thì khi sinh nở sẽ tránh khỏi được.

Phá Quân Thất Sát hội chiếu Liêm Tham, mà Liêm Trinh hóa Kị, lại gặp tứ sát, Không Kiếp, Thiên Hình, chủ gặp tai nạn khó mà đo lường được, thời cổ đại thậm chí còn cho rằng có khả năng gặp hình lục (Hà Phong: tức là bị tử hình).

Liêm Trinh và Phá Quân đồng độ, hoặc Liêm Trinh Thiên Tướng tại Tí Ngọ gặp Phá Quân ở đối cung, mà Liêm Trinh hóa Kị, lại gặp tứ sát, Không Kiếp, Thiên Hình, rồi lại gặp Hỏa Linh đồng độ, chủ cho đương số có ý muốn tự sát.

Liêm Trinh tại Sửu Mùi (đồng cung với Thất Sát), hoặc tại Tị Hợi (Liêm Tham), mà Liêm Trinh hóa Kị, nếu lại gặp các sao sát hình không, thì chủ bị (tường) đè bị thương, hoặc bị thú vật làm bị thương.

Thông thường, Liêm Trinh khi lạc hãm lại hóa Kị, đều chủ tai nạn máu huyết, cần đề phòng tai nạn giao thông ngoài dự. Nếu đóng tại cung Tật Ách thì lại chủ về bệnh tình dục, bởi vì đó cũng là một dạng nạn máu huyết/máu mủ (脓血). Trong trường hợp này, nữ mệnh đang trong kì thai sản thì có thể tránh được.

Liêm Trinh thích nhất là đồng cung với Thiên Phủ ở Thìn Tuất, chủ cho người có nội tâm khoan hậu. Nhất là nếu lại gặp Xương Khúc tương hội, thì là người hài hước, trung hậu mà lại còn tao nhã lễ phép. Lúc này, là lúc phát huy tối đa tính chất tốt đẹp của Liêm Trinh.

Ngoài ra, Liêm Trinh tại Thân cung đắc Lộc, hoặc là Liêm Trinh hóa Lộc mà cung Thiên Di gặp Lộc Mã giao trì, thì cũng là phú quí thượng cách, nếu lại có Xương Khúc giao hội, thì người này phú quí không nhỏ.

Tại tứ vượng cung (Tí Ngọ Mão Dậu) là kết cấu của Liêm Tướng hoặc Liêm Phá, nếu Liêm Trinh hóa Kị, chủ cho người một đời sóng gió rất lớn, lên voi xuống chó. Rất cần hiểu đạo xu tị (xu cát tị hung), sau khi bạo phát cần chú ý giữ gìn thành quả, tránh kiêu ngạo nóng nảy, lại dám rút lui khi trên đỉnh cao, thì có thể tốt đẹp. Nếu Liêm Trinh hóa Lộc, thì chủ cho người này sau khi kinh qua sự bất lợi thì sau có được phú quí, cho dù sát diệu hội hợp, cũng chỉ là gặp thất bại nhất thời.

Thông thường, Liêm Trinh ngoài ưa gặp Thiên Phủ thì cũng thích gặp Thiên Tướng, tức là Liêm Tướng tại Tí Ngọ. Liêm Tướng lại ưa Liêm Trinh hóa Lộc; hoặc Lộc Tồn đồng độ; hoặc Tài Ấm hiệp. Cả 3 kết cấu này, đều chủ là người có phú quí dài lâu, một đời không có sóng gió trắc trở.

Trong tình huống thông thường, chỉ cần không gặp sát diệu đồng độ, thì Thiên Tướng có thể điều hòa đặc tính của Liêm Trinh, khiến cho có thể phát huy cái tâm đồng cảm, cho nên chủ cho người coi trọng hữu nghị (故主人重友谊), coi trọng sự thành tín. Cổ nhân vì thế, nói rằng Thiên Tướng có thể làm mất đi cái ác tính của Liêm Trinh. Nếu như có sao phụ tá đồng triền, thì nên theo nghiệp chính trị, và có thể tung hoành ngang dọc (发扬蹈厉 – Hà Phong: câu này dịch có chút quá lời).

Liêm Tướng và Liêm Phủ không giống nhau. Liêm Tướng cần dựa trên thực tế và làm ra làm, chơi ra chơi để phát triển (必须脚踏实地发展). Liêm Phủ thì có thể dựa vào "tay trắng" mà "thu phục thiên hạ" (空打出天下), cho nên lực sáng tạo tương đối mạnh.

Nếu như không có cát diệu hỗ trợ đến hội hợp, mà ngược lại lại gặp sát diệu xâm phạm, tất chủ cho một đời sóng gió, lên voi xuống chó (主人一生波涛起伏甚大).

Cổ ca có câu: Liêm Trinh Tham Sát Phá Quân phùng, Văn Xương Thiên Di tác bối nhung (廉贞贪杀破军逢, 文曲迁移作贝戎). Cái gọi là bối-nhung chính là chiết tự của chữ tặc (贼 – giặc cướp). Thời nay không ít người hiểu nhầm.

Phần trước đã nói, Liêm Trinh không ưa thích Sát Phá Lang đồng độ hay hội hợp, (tuy nhiên chỉ) khi gặp các sao sát kị hình hao, mà lại gặp Văn Khúc hay e ngại nhất là Văn Khúc hóa Kị, sau đó mới chủ cho người này thích chiếm những cái lợi nhỏ, phẩm hạnh không tốt (然后始主其人好小便宜, 品行不端).

Khi Lưu niên Liêm Trinh tại cung Mệnh, hoặc sát diệu, lưu niên Bạch Hổ đồng độ, thì chủ về có tai nạn ngục tù.

Nếu cung Quan Lộc có Liêm Trinh Kình Dương đồng độ, thì chủ về do quan tư kiện tụng mà mang họa.

Liêm Trinh lạc hãm cùng với Văn Khúc hóa Kị đồng cung, tất chủ cho người thích (và muốn) chiếm lợi ích (则主其人好贪便宜), dù là người làm kinh doanh hay chính trị cũng đều tham (Hà Phong: tham muốn chiếm tiện nghi).

Liêm Trinh và các sao Đào Hoa đồng cung, chủ bệnh phụ khoa (với phụ nữ) hoặc bệnh thận (với nam giới). Hóa Kị thì thậm chí là bị liệt dương (阳痿).

Want your school to be the top-listed School/college in Trieu Khuc?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Hà Nôi
Trieu Khuc