THẬP THIỆN

THẬP THIỆN Nơi chia sẻ tài liệu tu học để thực hành con đường Bát Chánh Đạo

NGÀI SOPÀKA TU TỨ VÔ LƯỢNG TÂM“Như người mẹ tốt lànhThương người con độc nhất,Cũng vậy đối với chúng sanh,Đủ mọi loài, m...
19/01/2024

NGÀI SOPÀKA TU TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

“Như người mẹ tốt lành
Thương người con độc nhất,
Cũng vậy đối với chúng sanh,
Đủ mọi loài, mọi chỗ,
Hãy có lòng tốt đẹp,
Thương mến và từ ái.”

(Trích bài giảng đường lối tu tập của đạo Phật- Trưởng Lão Thích Thông Lạc)

Đây là một gương hạnh của một vị cao tăng thời Đức Phật:

Ngài Sopàka.

Ngài là đứa bé vừa sanh ra là mẹ đã mất. Ngài được một người cha nuôi nuôi dưỡng đến bảy tuổi, được cha nuôi cho xuất gia theo Phật, Ngài cũng được đi tu lúc bảy tuổi.

Khi được xuất gia theo Đức Phật, Đức Phật đã thấu hiểu được hoàn cảnh Ngài nên cho Ngài một đề tài thiền quán Tứ Vô Lượng Tâm.

Như hồi trước Thầy đã nhắc đó - như lúc trước Thầy đã nhắc đó, thì em của ông Cấp Cô Độc là ông Subhuti, ông cũng tu cái đề tài thiền quán Tứ Vô Lượng Tâm. Thì cái vị Thánh Tăng này, ông Sopàka ông cũng tu cái đề tài thiền quán Tứ Vô Lượng Tâm được Phật trao cho ông.

Tại sao vậy? Tại vì ông đi tu trong lúc bảy tuổi, mẹ mất sớm, không được cái sự chăm sóc, cho nên ông thực hiện cái Tứ Vô Lượng Tâm tức là lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả đó.

Ngài khai triển thiền quán này và chứng quả A La Hán.
Nghĩa là ngay cái thiền quán Tứ Vô Lượng Tâm thì Ngài cũng đã chứng quả A La Hán.

Sau khi chứng quả A La Hán, Ngài có bài kệ để nói lên công đức và kinh nghiệm tu hành của mình.

Ngài nói lên bài kệ trong khi Ngài thực hiện cái Tứ Vô Lượng Tâm đó. Ngài dùng cái bài kệ này Ngài làm cái pháp hướng để thường nhắc tâm Ngài. Ngài ví như Ngài là một người mẹ cho nên ngài viết cái bài kệ như thế này:

“Như người mẹ tốt lành
Thương người con độc nhất,
Cũng vậy đối với chúng sanh,
Đủ mọi loài, mọi chỗ,
Hãy có lòng tốt đẹp,
Thương mến và từ ái.”

Đó thì Ngài dùng cái pháp hướng, tức là cái đề mục thiền Tứ Vô Lượng Tâm đó. Ngài dùng cái pháp hướng này, Ngài trạch pháp cái câu kệ này ra, rồi Ngài thường nhắc cái tâm của Ngài để thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm.

Cho nên cuối cùng thì cái tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả của Ngài nó phủ trùm các vạn hữu ở trong thế gian, các vạn vật, từ đó Ngài thấy cái lòng thương mến và cái từ ái của Ngài phủ trùm mọi phương, từ đó Ngài đã thành tựu, chứng quả A La Hán, giải thoát hoàn toàn.

Như vậy là chúng ta đâu cần gì phải tu cho nhiều pháp môn, chỉ cần một trong những pháp môn mà Phật đã dạy, dùng một cái đề tài thiền quán, rồi từ đó chúng ta trạch pháp ra những cái câu phù hợp với thích hợp tâm chúng ta.

Hàng ngày, chúng ta dựng thân, ngồi kiết già dựng lưng thẳng đứng, rồi đặt cái niệm ở trước mặt, rồi dùng cái pháp hướng mà nhắc nhở tâm mình, để cho ngày ngày thấm nhuần ở trong cái đề mục đó, tạo cho chúng ta cái niềm thương yêu rộng lớn gọi là Tứ Vô Lượng Tâm.

Như vậy là Ngài cũng thành tựu, không phải thiền định bằng cách là nhiếp tâm, ức chế tâm, mà chỉ thực hiện cái lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả của mình đến với muôn loài, muôn vật mà đã thành bậc quả A La Hán.

Như vậy chúng ta thấy con đường của đạo Phật đâu phải là khó? Đâu phải có sự mà ức chế làm cho chúng ta phải khó khăn, phải sanh ra bệnh tật thế này, thế khác? Chỉ cần sử dụng đúng pháp và đúng cái hoàn cảnh của mình.

Vì tại sao? Vì Ngài - vì Đức Phật dạy người hợp căn cơ của họ là như thế nào?

Ngài là một đứa bé vừa sanh ra đã mất mẹ, mồ côi, Ngài mất đi cái niềm thương, rồi được cha nuôi nuôi dưỡng cho lớn cho đến bảy tuổi rồi cho theo Phật xuất gia. Ngài sống ở trong cái cảnh thiếu tình thương, chỉ đến nương với Đức Phật, nhờ Đức Phật hiểu thông, cảm thông được cái nỗi khổ của một đứa bé mất mẹ, cho nên Đức Phật trao cho cái đề tài Tứ Vô Lượng Tâm.

Vì vậy mà Ngài thấm thía, thấm thía vô cùng. Mình là người mất tình thương, vì vậy mình phải thực hiện cái tâm tình thương của mình đối với muôn vật! Cho nên Ngài thực hiện rất nhanh chóng, vì nó hợp với căn cơ Ngài.

Còn nếu mà Ngài đầy đủ một cái tình thương thì Ngài sẽ xem thường cái tình thương. Còn Ngài là thiếu tình thương, cho nên Ngài thực hiện đúng với tâm nguyện của Ngài. Vì vậy mà Ngài đã thành tựu được Phật pháp.

Do như vậy mà hiện đời bây giờ, tùy theo căn cơ của mọi người mà dạy họ chắc chắn họ không tin mình đâu. Vì họ đã có những cái kiến chấp, những cái kiến chấp của họ, họ nghĩ rằng phải thiền này, thiền kia, thiền nọ, do hiểu những cái kiến chấp đó, họ phải tìm, họ phải dính mắc trong những cái pháp môn đó.

Bây giờ, vào căn cơ của họ, biết họ có cái duyên gì đúng cái căn cơ của họ, dạy họ pháp, thì họ chẳng tin cái pháp đó. Pháp đó họ nói đó là không thiền đâu, đó là cái thứ quán, cái thứ làm cho động tâm, không bao giờ thiền đâu. Nhưng mà không ngờ khi mà đạt được cái mục đích của cái pháp đó thì trái lại, cái tâm nó thanh tịnh, mà nó thanh tịnh tức là thiền định chớ gì!

Vì vậy mà cái người tu theo đạo Phật thì cần phải tin vào một bậc thầy. Một bậc thầy có kinh nghiệm, người ta sáng suốt, người ta soi rõ từng cái căn cơ của mình nó hợp lý, hợp căn (cơ), để người ta hướng dẫn cái đề tài thiền quán hoặc là thiền định để giúp cho mình đạt được cái sở nguyện giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi.

Đó là cái mục đích chung nhưng mà cái hành - trên cái hành pháp thì người ta tùy cái căn cơ của mỗi người, người ta giúp. Còn như Thầy bây giờ mà tùy căn cơ của mọi người, chắc chắn là không ai tin hết:

“Tui muốn tu thiền định, tui ngồi tui muốn nhập định, tui muốn hưởng hỷ lạc, tui muốn nhập Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền” hoặc là “tui muốn tìm Phật Tánh, tui ngồi đó để tui làm Phật, mà Thầy dạy cái kiểu này - Tứ Vô Lượng Tâm, biểu thương yêu người này, người kia hay hoặc là dạy Tứ Chánh Cần biểu phải xả, hay hoặc là tu bốn cái sự thật Tứ Diệu Đế, thì cái chuyện này nó xa vời quá, nó không đúng với cái chỗ mà ham thích của tui tu.

Tui muốn làm sao tui xuất hồn, tui muốn làm sao tui có hào quang, ánh sáng, tui muốn làm sao tui biết được ông Phật của tui, thế mà Thầy dạy cái kiểu này nó trật cái ý muốn của tui rồi!

Tui muốn làm sao tui tu thiền công án kìa, tui tham thoại đầu nè, tui phá triệt, tui ngộ triệt tất cả những công án, tui thông suốt tất cả những công án. Còn Thầy dạy vầy tui làm sao mà tui thông được cái công án nào đâu? Tui đâu có hiểu, người ta hỏi “Phật là gì” tui biết đâu tui trả lời?

Do đó nó không đúng với cái sở nguyện, cái ước ao của tui muốn, cho nên Thầy dạy kiểu này nó không đúng!”

Nhưng mà biết cái hoàn cảnh của họ trong cái căn cơ của họ phải tu cái pháp gì, thì lúc bấy giờ dạy họ thì họ không nghe, thì làm sao mà dạy được!

Cho nên Thầy thấy thời đại này rất là khó dạy người ta tu hành chớ không phải dễ, qua những cái gương hạnh mà Đức Phật tùy theo căn cơ của mọi người mà Đức Phật dạy cho người ta tu hành.

Hiện nay, kinh sách – Pháp Bảo đã và đang được lan tỏa đến khắp mọi nơi. Đã có rất nhiều quý Phật tử sau khi áp dụng Đạo...
19/01/2024

Hiện nay, kinh sách – Pháp Bảo đã và đang được lan tỏa đến khắp mọi nơi. Đã có rất nhiều quý Phật tử sau khi áp dụng Đạo Đức thì cuộc sống đã có nhiều lợi ích tốt đẹp. Họ như những người đuối nước bắt gặp được phao. Cuộc sống trở nên bình an, gia đình hạnh phúc và sung sướng hơn, không gì có thể so sánh được. Từ đó, với Lòng Yêu Thương cao thượng ban rải đến với tất cả mọi người và muôn loài chúng sanh trên hành tinh này...

Tâm thư Tu viện Chơn Như trả lời về vấn đề số tài khoản cúng dường với chủ đề Làm Chủ Sanh Y

07/11/2023

NGÃ VÀ VÔ NGÃ
Câu hỏi của Diệu Minh

Hỏi: Kính bạch Thầy! Câu tác ý: (“Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành”). Con hỏi: Đã phá bản ngã thì là gì có tôi và của tôi. Vậy thay bằng chữ thân đi kinh hành có khác nhau không?

Đáp: Dù có thay danh từ nào thì nghĩa của nó cũng chỉ là “tôi”. Người ta đã chịu ảnh hưởng của Thiền Tông và kinh sách phát triển quá sâu cho là con người tu theo đạo Phật thì phải không có ngã, không có cái ta, không có (279) cái của ta thì người ấy mới giải thoát, cho nên thường tránh những danh từ xưng hô cái tôi, cái ta mà xưng hô là trò, là con v.v.. là có ý dẹp ngã, đó là một việc làm sai. Theo đạo Phật sự cung kính trước mặt cũng như sau lưng thì đó là đạo đức chân thật lợi ích cho mình cho người, còn trước mặt xưng hô là trò, là con mà sau lưng thì khác thì cái đó là giả dối chứ không phải diệt ngã xả tâm.

Chúng tôi hiểu theo đức Phật dạy: “Vô thường, khổ, vô ngã”, đây là tam pháp ấn để xác định một sự thật về thế giới hiện tượng này, do chúng ta không hiểu ý này nên lo đập phá cái ngã của mình. Bởi vì người ta thường lầm chấp cho thế giới này là thường hằng, không khổ, là hạnh phúc, vì sự lầm chấp dính mắc này nên đức Phật dạy cho chúng ta hiểu để không dính mắc, chứ đức Phật không bảo chúng ta tu hành để trở thành cây đá (vô ngã, không ta, không cái của ta).

Đức Phật dạy: “diệt ngã” là xả lòng ham muốn của mình, chứ không phải diệt cái ngã, xả lòng ham muốn của mình là diệt đế, diệt đế là một chân lý trong bốn chân lý của đạo Phật, chứ không phải diệt ngã như người ta hiểu. (280)

Vô thường, khổ thì ai cũng rõ, nhưng vô ngã thì người hiểu như thế này, kẻ hiểu như thế kia. Có người lại hiểu rằng: Vô ngã là Niết bàn, hiểu như vậy có nghĩa là trong Niết bàn không có ngã. Vậy không có ngã thì ai là người biết Niết bàn? Không người biết Niết bàn sao đức Phật lại biết mà dạy cho chúng ta Diệt đế. Trong Diệt đế theo chúng tôi hiểu thì phải có ngã, vì Diệt đế là mục đích giải thoát của con người cho nên nó là một chân lý của loài người không ai chối cãi được. Một sự giải thoát chân thật không ai phủ nhận được vì nó có người biết Niết bàn, có người biết tự Niết bàn trong tâm của mình thì không thể nào là vô ngã được.

Đức Phật dạy: “Pháp không có thời gian đến để mà thấy”. Vậy khi tu theo đạo Phật chúng ta thấy sự giải thoát rõ ràng, vậy không thể nào vô ngã được.

Ngăn ác diệt ác sanh thiện tăng trưởng thiện pháp, vậy cái gì ngăn và diệt ác pháp, cái gì sanh thiện tăng trưởng thiện?

Thưa quý vị! Cái gì không giải thoát, cái gì giải thoát? Ác pháp là không giải thoát, thiện pháp là giải thoát. Như vậy người tu có (281) cần gì diệt ngã, cái ngã chỉ cần biết sống trong thiện pháp là Niết bàn rồi.

Đạo Phật ra đời vốn vì con người khổ chứ không phải vì cái ngã của con người. Đạo Phật biết lấy cái ngã ác của con người tu sửa trở lại để trở thành cái ngã thiện, nhờ thế con người sống toàn thiện, đó là Niết bàn, chứ không phải vô ngã là Niết bàn như kinh sách phát triển dạy.

Đại Thừa và Thiền Đông Độ đã lầm, nên đã ca ngợi những người vô niệm, vô trụ, vô chứng là tối thượng, vô niệm, vô trụ, vô chứng là vô ngã mà vô ngã là gốc cây cục đá rồi. Nếu còn có cái biết thì không thể nào gọi là vô ngã được.

Con người tu để vô ngã thì không bao giờ tu vô ngã được, cũng như con người bảo rằng không tài sản thì không thể nào có người không tài sản được.

Vì thế, hữu ngã thiện pháp mới thật sự là vô ngã. Có của cải tài sản mà không dính mắc của cải tài sản mới thật sự là không tài sản, nhờ đó mà tâm được an vui, hạnh phúc. Cho nên, hữu ngã thiện mới không làm khổ mình, khổ người, gọi là giải thoát. Tu hành theo đạo Phật để hiểu biết rõ thiện và ác, lúc nào cũng (282) ngăn và diệt ác pháp thì mục đích của Phật giáo nơi đó là đã chứng đạo.

(Trích lời Trưởng lão Thích Thông Lạc - sách Đường Về Xứ Phật - Tập X - Trang 279 tại website: https://thuvienchonnhu.net)

14/09/2023

Chơn Như, ngày 05 tháng 01 năm 2008
PHÂN BIỆT TĨNH GIÁC VÀ TỈNH THỨC

Kính gửi: Kim Quang!

Để trả lời những câu hỏi của con:

1- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là lối hành văn của người Trung Hoa, còn lối hành văn của người Việt Nam thì dùng đảo ngược lại TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM.

2- Theo pháp hành văn của người Việt Nam thì TĨNH GIÁC trước rồi sau mới CHÁNH NIỆM. Cho nên, khi đọc CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là biết người ta dùng theo Hán văn. Cụm từ này chỉ có một nghĩa chứ không có hai nghĩa.

3- Trong TĨNH GIÁC đã có nghĩa CẨN THẬN, cho nên dùng TĨNH GIÁC thì không dùng CẨN THẬN.

4- Dùng từ CẨN THẬN thì không đi đôi với CHÁNH NIỆM được, vì CẨN THẬN CÓ TÀ CÓ CHÁNH, nếu muốn dùng với từ CHÁNH NIỆM thì phải thêm từ “TRONG”, CẨN THẬN TRONG CHÁNH NIỆM.

5- TỪ CẨN THẬN nó mang theo hai tính chất, chánh và tà như trên đã nói: CẨN THẬN TRONG CHÁNH NIỆM hoặc CẨN THẬN TRONG TÀ NIỆM.

6- TĨNH GIÁC có sự thanh tịnh và bình tĩnh nên thường dùng TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM chứ không dùng TĨNH GIÁC TÀ NIỆM.

7- TĨNH GIÁC là một giới đức trong pháp môn QUÁN VÔ LẬU của Phật giáo nên nó có phương pháp tu tập, vì thế nó có sức gạn lọc tâm tư thanh tịnh không còn các ác pháp và trong khi tu tập nó còn có một sức bình tĩnh kỳ lạ, khi đứng trước ác pháp nó rất định tĩnh nếu tu tập đúng đặc tướng.

8- Đức CẨN THẬN không có phương pháp tu tập, chỉ hằng ngày tập sống CẨN THẬN mà thành thói quen, nên nó không có phương pháp gạn lọc tâm tư trong sạch toàn thiện. Vì vậy, trong các pháp ác nó vẫn có sự cẩn thận, cẩn thận để tăng trưởng pháp ác.

9- Trong bài “TÂM HỒN CAO THƯỢNG”:

Đáp án thứ 2: Vì cô bé THIẾU ĐỨC CẨN THẬN Ý HÀNH, nhớ lại quên đem sách âm nhạc nên lo lắng, nhưng ở đây tác giả dùng từ “hoảng hốt” không đúng, vì hoảng hốt là phải có đối tượng gây ra ấn tượng sợ hãi dao động tâm quá mạnh, còn mới quên hay nhớ đó là một trạng thái bình thường làm sao có sự hoảng hốt như vậy. Cho nên, đáp án 2, cô bé THIẾU ĐỨC CẨN THẬN Ý HÀNH là đúng.
Đáp án 3: Cô bé THIẾU ĐỨC TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM Ý HÀNH là đúng, vì lúc bấy giờ cô bé không còn bình tĩnh, quá sợ hãi.

10- TĨNH GIÁC và TỈNH THỨC khác nghĩa, khác hình dạng, chỉ có đồng âm. Chữ TĨNH GIÁC dấu ngã (-), chữ TỈNH THỨC dấu hỏi (?).
Chữ “GIÁC” có nghĩa là “GIÁC NGỘ”, mà GIÁC NGỘ có nghĩa là phân biệt biết rõ các pháp nào ác và các pháp nào thiện. Nên chữ “GIÁC” có nghĩa là “QUÁN XÉT” hay “SUY XÉT”.
Chữ “THỨC” có nghĩa là tỉnh táo biết rất rõ nhưng không biết pháp nào thiện hay pháp nào ác. Thiện ác hai pháp như nhau, nên chữ “THỨC” có nghĩa là “TẬP TRUNG”.

11- Pháp TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM trong kinh Phật dạy dùng sức “BÌNH TĨNH” quan sát phân biệt các pháp nào thiện để tăng trưởng và ngăn chặn, diệt trừ các pháp nào ác để “XẢ TÂM”, đó là để giúp tâm bất động trước các ác pháp; là để giúp tâm thanh thản, an lạc và vô sự; đó là bảo vệ CHÂN LÝ, nơi bất sinh bất diệt của loài người.

12- Pháp TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM trong kinh Phật dạy dùng sức “TỈNH TÁO” tập trung vào một đối tượng duy nhất để thực hiện “NHIẾP TÂM” và “AN TRÚ TÂM” luyện nội lực “TỨ THẦN TÚC”.

13- Vì thế, chúng ta phải hiểu: TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM là pháp môn dùng để XẢ TÂM. Còn TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM dùng để NHIẾP TÂM LUYỆN TẬP NỘI LỰC.

14- Trong TĨNH GIÁC không có TỈNH THỨC, VÌ CÓ TỈNH THỨC thì TĨNH GIÁC mất cũng như TỈNH THỨC không có TĨNH GIÁC, VÌ có TĨNH GIÁC thì TỈNH THỨC mất. Cho nên, hai pháp này không phải một pháp mà là hai pháp môn. Hai pháp môn này là hai giai đoạn tu tập của Phật giáo “GIỚI, ĐỊNH”. Vì thế, các con đừng hiểu lầm lạc. Hiểu lầm lạc là không biết đường tu tập.

15- Các con nên nhớ kỹ: Pháp môn TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM dùng để tu tập TỨ CHÁNH CẦN xả phần thô; còn pháp môn TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM dùng để tu tập TỨ NIỆM XỨ luyện nội lực thiền định để xả tâm phần vi tế.

16- Người tu tập mà hôn trầm, thùy miên còn nhiều, nếu muốn phá hôn trầm, thùy miên thì không nên ngồi nhiều mà nên đi kinh hành theo pháp môn TĨNH GIÁC CHÁNH NIỆM xả tâm, chứ không được tu tập pháp môn TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM, vì tu tập TỈNH THỨC CHÁNH NIỆM dễ rơi vào trạng thái “KHÔNG”.

Chúc các con tu tập thành công tốt đẹp.
Kính ghi,

(Trích lời Trưởng lão Thích Thông Lạc - sách Những Bức Tâm Thư - Tập 1 - Trang 305 tại website: https://thuvienchonnhu.net)

12/09/2023

Giáo Án Đường Lối Tu Tập Của Đạo Phật (Băng 1- 16) Dành cho Cư Sĩ.

(01:35:24) Cho nên những cái cuộn băng mà Thầy giảng cho quý vị mà được thu như thế này, nó là một cái gia tài quý báu mà của Phật đã từng để lại, mà từ xưa đến giờ nó là những cái bài kinh rải rác; nó không kết tập được cái thấp, cái cao, cái dễ, cái khó, cho nên quý vị không biết cái đường nào mà quý vị vào.

Còn hôm nay Thầy đã chỉ cho quý vị biết cái đường vào, biết cách thức tu tập. Như nãy giờ quý vị đã nghe rõ rồi, chắc chắn là quý vị sẽ biết được cái đường lối mà quý vị sẽ tập gì trước, tập gì sau...
Cho nên ở đây, trên con đường tu tập, Thầy thấy quý vị là những người có phước nhất ở trong cái cuộc đời này; được nghe những cái này mà do từ cái kinh nghiệm tu hành của Thầy nói ra; mà không sai một mảy của Đức Phật ngày xưa đã dạy các đệ tử của mình.

Cho nên chúng ta không bao giờ chúng ta lầm lạc nữa. Chúng ta có một cái bản đồ, chúng ta có một cái lối đi, có một cái con đường tu tập thật sự, rõ ràng bằng hành động chúng ta để chúng ta làm chủ được cái sống chết, và chúng ta sẽ chấm dứt được sự tái sanh luân hồi của mình cụ thể, rõ ràng; không còn mơ hồ nữa, không còn lạc lầm nữa.

Thầy xác định điều đó là điều thực! Đạo Phật thực rất thực, không có dối ai hết, không có gạt người, không nói như vậy mà không làm được. Làm được nhưng mà phải tu tập cho đúng cách, chớ tu tập không đúng cách thì không đạt được.

(Trích lời Trưởng lão Thích Thông Lạc - sách GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 06 - SỐNG MƯỜI ĐIỀU LÀNH - PHẦN 2 - Thời gian 01:33:15 tại website: https://thuvienchonnhu.net)

1. Hòa thượng Thích Trí Quảng (Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam) nói về thiền định Trưởng Lão Thích Thông Lạc:https:...
12/09/2023

1. Hòa thượng Thích Trí Quảng (Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam) nói về thiền định Trưởng Lão Thích Thông Lạc:
https://drive.google.com/file/d/1h0YPWNX4P9NfuWlRkTJaX9yy3BBnWZHR/view?rm=minimal

2. Vụ trưởng Vụ Phật giáo - Ban Tôn giáo Chính Phủ- Tiến sĩ Bùi Hữu Dược chia sẻ những lời tâm huyết tại lễ tưởng niệm 2 năm ngày Đức Trưởng Lão Thích Thông Lạc nhập Niết Bàn (01-01-2015)
https://drive.google.com/file/d/1C0Nac8XTnLPNiPLChbRw4bsRBBlyzvzv/view?rm=minimal

3. Tài liệu Unesco Việt Nam về Trưởng lão Thích Thông Lạc, người đã tu tập làm chủ sanh tử, dựng lại chánh pháp của Đức Phật, thắp sáng lên ngọn đèn đạo đức nhân bản – nhân quả, sống không làm khổ mình khổ người giúp cho loài người sống hạnh phúc, bình an, giải thoát trong cuộc sống.

07/08/2023

SAY MÊ KỸ NHẠC
(11:22) Say mê kỹ nhạc có sáu lỗi:

Tức là cái người mà hay ca hát thì có sáu lỗi, đó là điều thứ tư. Vì vậy đó:

1. Ưa ca hát;

Cái người mà say mê kỹ nhạc là hay ca hát bài ca này cho đến bài ca khác, ngâm, vịnh, đó là cái sự ưa thích ca hát.

2. Thích khiêu vũ;

Tức là thích nhảy múa. Hễ người mà ưa ca hát thì họ lại thích khiêu vũ.

3. Mê đàn địch;

Tức là họ ưa ca hát thì họ phải thích đàn địch.

4. Chuộng tiêu, sáo;

Hễ họ ca hát, đàn địch, khiêu vũ thì họ cũng thổi sáo, thổi tiêu. Cho nên họ cũng thích những cái điều sáo, tiêu.

5. Ưa đánh trống;

Họ cũng ưa thích đánh trống

6. Mê thổi kèn.

Tất cả những cái nhạc cụ mà để phát ra âm thanh, thì cái người mà say mê kỹ nhạc đương nhiên là họ phải thông suốt những cái điều này.

Vì vậy mà khi thông suốt những điều này thì họ (chỉ) còn biết đặt tâm hồn của họ vào trong say mê của âm thanh và những điệu nhảy nhót, khiêu vũ chớ họ không có còn nghĩ đến cái sự sống của một cái người mà biết đạo, một cái người mà rất là sợ hãi về sự cám dỗ của cái sự ca hát, khiêu vũ.

Vì đó nó có thể đưa đến cái chỗ mà sanh ra cái tâm không có - theo người xưa nói - không có đạo luân lý. Nghĩa là người ta nói “xướng ca vô loài”, nghĩa là họ cho rằng những cái người ưa ca hát thì họ không có giữ được cái đạo đức luân thường, nay thì người này, mai thì họ kết với người kia. Cho nên ở đây, theo ngày xưa người ta kết (luận) cái điều đó.

Nhưng trái lại, theo Thầy nghĩ thì ở đây Phật không có nghĩ như vậy, mà Phật muốn thấy rằng: cái người ưa ca hát, khiêu vũ, đàn địch, tiêu sáo, đánh trống, thổi kèn thì những cái người này họ không có làm ăn theo những cái người mà an vui, yên ổn, mà bằng cách là họ đem những câu hát tình tứ gợi cho những người khác thương vay, khóc mướn, làm cho người khác do những tiếng tiêu, tiếng sầu đó mà làm cho người ta khổ đau, cho nên vừa là mình thổn thức trong lòng của mình mà vừa tạo cho người ta thổn thức trong lòng của người ta.

Do như vậy mà Đức Phật - khi mà người cư sĩ đến với đạo Phật thì Đức Phật muốn khuyên họ không nên làm những cái điều đó, là vì mình nghe âm nhạc, mình nghe tiếng đàn, tiếng ca làm cho tâm hồn mình dào dạt, làm cho tâm hồn mình bất an chớ không được giải thoát.

Chớ không phải gọi là “xướng ca vô loài” cũng như ngày xưa người ta đặt cho những người ca hát là không đàng hoàng, nay thì cặp người này, mai thì lấy người khác, nó không đúng.

(14:31) Nhưng ở đây, cái mục đích của đạo Phật là không hiểu như vậy, mà phải hiểu: Qua tiếng hát, tiếng ca, tiếng đờn, tiếng trống nó làm cho tâm hồn chúng ta lúc vui, lúc buồn, nó không có giữ cho tâm hồn chúng ta được thanh thản, được giải thoát, làm chúng ta say mê mà quên đi những công việc làm để sống bằng cách lương thiện chớ không phải vô lương thiện.

Đó là những cách mà ở đây Phật dạy để nhằm mục đích chúng ta tránh những cái điều làm cho mình dao động tâm và đau khổ, cũng như người khác. Cho nên chúng ta không nên say mê kỹ nhạc mà hãy giữ tâm của mình luôn luôn được thanh thản, được an ổn thì tốt nhất.

Hầu hết trong thế gian này, nói về ca nhạc, khiêu vũ và tiêu, sáo, đờn địch thì chắc chắn ai cũng mê thích vì họ cho đó là một môn giải trí.

Nhưng sự thật theo Thầy thiết nghĩ, qua một bài nhạc nó làm cho người ta xúc động, nhưng sự thật nó không phải như vậy. Một cái bài nhạc làm cho họ khích động, họ có thể chết họ cũng không từ nan! Đó là những lời ca tiếng nhạc làm cho tâm hồn người ta có thể bất an theo điệu nhạc, theo lời ca, theo văn thơ.

Cho nên Phật muốn là cuộc sống của người cư sĩ cũng như người tu sĩ luôn luôn phải bình thản, phải vững vàng, phải bất động thì đó là một cuộc sống mới được an vui. Còn lúc thì còn thương vay, khóc mướn qua tiếng ca, tiếng nhạc như vậy là nó giả dối, nó không thật.

Người nào mải mê kỹ nhạc thì sản nghiệp, nhà cửa của họ ngày một sa sút.

Thật sự ngày xưa thì như vậy, nhưng người mà chuyên môn hiện giờ ca nhạc, khiêu vũ, đàn địch, tiêu sáo thì họ cũng lấy cái nghề mà làm sống thì cũng có khá giả chớ không phải như sự xác định nhà cửa họ suy sụp.

Nhưng ở đây theo Thầy thiết nghĩ, nó không phải do sợ sản nghiệp, của cải sa sút, suy mòn mà chỉ ngại cho tâm chúng ta thương vay, khóc mướn theo giọng ca, tiếng hát mà thôi; làm cho tâm chúng ta bất an và cũng từ đó mà tâm hồn chúng ta luôn luôn dễ bị dao động, không được tự chủ.

(Trích lời Trưởng lão Thích Thông Lạc - sách GIÁO ÁN ĐƯỜNG LỐI TU TẬP ĐẠO PHẬT 07 - ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI CƯ SĨ - PHẦN 1 - Thời gian 08:29 tại website: https://thuvienchonnhu.net)
https://thuvienchonnhu.net/phap-am/giao-an-duong-loi-tu-tap-dao-phat-07-dao-duc-cua-nguoi-cu-si-phan-1?query=say%20m%C3%AA%20k%E1%BB%B9%20nh%E1%BA%A1c&position=1122

07/08/2023

“ Lòng thương yêu là thiện pháp, không phải là ác pháp. Có người đọc trong kinh sách thấy trong kinh dạy: “Ghét cũng khổ, thương cũng khổ”, từ đó họ suy ra không thương cũng không ghét, vì thương ghét là pháp đối đãi, pháp đối đãi là pháp khổ. Do đó, người ta cố gắng để diệt lòng thương yêu. Hiểu như vậy là hiểu sai, hiểu sai thì ta tu hành chẳng có kết quả.

Lòng yêu thương là một đạo đức cao quý trong Đạo Phật. Người không có lòng thương yêu thì chúng ta sẽ trở thành cây đá. Nếu một người tu mà diệt lòng thương thì họ là người không có đạo đức, đạo đức đối với con người và đạo đức đối với mọi loài chúng sanh. Nếu con người không có lòng thương yêu thì hành tinh này sẽ bị huỷ diệt, nhờ thương yêu mà con người không huỷ diệt hành tinh này.”

Trích:

04/08/2023

Trích bài giảng: Nhân Quả Gì Khiến Một Người Ưa Thích Một Pháp Môn Nào Đó?

Phật tử: Kính bạch Thầy có một số rất đông người trong đó cũng có người có học thức, trí thức, tiến sĩ, kĩ sư, bác sĩ…. Họ tu theo những pháp môn không đạt được giải thoát hoặc theo những ông thầy có lối thực hành kì hoặc, mê tín nhưng họ lại tin tưởng cuồng tín, say mê. Vậy do duyên gì? Nhân gì, quả gì mà họ không gặp hoặc chưa gặp được Chánh Phật pháp. Và làm sao để chuyển hóa họ? Chúng con kính xin Thầy dạy cho chúng con được hiểu.

Trưởng Lão: Ở đây duyên gì? Nhân gì? Nghĩa là từ lâu tới giờ họ từ kiếp trước. Mặc dù hiện giờ họ là tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ. Nghĩa là hầu hết một số sách mà viết về thiền, viết về Thiền tông. Đời trước họ đã gieo một cái duyên đó, một cái duyên đó họ đã tu tập theo cái những cái pháp đó, cho nên đời nay họ sanh lên, họ có trình độ, có kiến thức như tiến sĩ, kĩ sư, bác sĩ, cái trình độ kiến thức họ hiểu biết. Nhưng đối với họ, họ vẫn mê mờ trên những cái pháp gì - cái nhân đời trước họ đã gieo, cho nên đời nay họ vẫn thích cái pháp đó. Cho nên chúng ta nói gì thì nói, họ cũng không nghe. Nhưng mà họ vẫn tin những cái pháp mà họ đã từng gieo trong cái đời trước...

Mặc dù đó là giới trí thức. Thầy thấy rõ giới trí thức cũng bị lầm các con. Cho nên con hỏi Thầy. Vậy do duyên gì? Nghĩa là duyên đời trước họ đã gieo. Nhân gì? Tức là cái nhân, cái duyên họ đã gieo thì cái nhân đó thì cái quả hôm nay họ gặp cái pháp này họ thích. Cho nên nói là ái kiết sử, họ kiến kiết sử. Không phải trong một đời nay mà người ta muốn trong đầu mà người ta chấp như vậy đâu. Mà đã nhiều đời ông theo Đại thừa như thế nào cho nên bây giờ ai nói đến Đại thừa sai là họ lồng lộng họ tức lên liền, chứ không phải dễ. Đó là đời trước họ đã gieo.

Cho nên cái kiến kiết sử của họ nó trói chặt họ trong đời trước chứ không phải là trong đời nay. Mà đời nay mà nếu mà chúng ta nghe giảng kinh. Thí dụ như bây giờ một đời nay chúng ta nghe giảng kinh Thủ lăng nghiêm nói về Phật tánh cái tánh thấy tính nghe tính biết đó. Mà nếu đời trước chúng ta không gieo thì đời nay mà nghe nói thì có người nói đó là sai, không có đúng. Thì cái ông này ổng bỏ liền được liền. Còn cái đời trước đã gieo rồi, nói ông này nói sai, kinh này nói sai không đúng thì ổng tức lòng lộng lên liền. Bởi vì đời trước ổng đã huân tập cái đó rồi. Cho nên Thầy biết rõ cho nên vì vậy mà tùy theo duyên.

Nhưng mà đời nay Thầy đã nói sai, là gieo ổng cái duyên mới rồi đó. Bây giờ đó, khi mà ổng tu đến cái mức độ nào bị lạc, sai đi. Thì bắt đầu ổng trực nhớ được cái lời nói đó. Cái lời nói của Thầy là cái duyên gieo cho ông đó, thì khi mà đó thì ổng trực nhớ đi, ổng bây giờ ổng mới thấy đây là đúng. Đó là bắt đầu ổng có cái nhân, ổng tạo thành cái nhân mới rồi. Cái nhân mới để cho nó phá cái kiến kiết sử của ổng. Đó là do những kinh sách của Thầy viết ra, Thầy không sợ, không vô ích. Miễn làm sao họ được đọc. Họ được đọc, họ nói Thầy viết sai, họ nói gì kệ nói. Nhưng mà đó là cái duyên để tạo cho cái người đó.

Trong khi họ đã cái nhân họ đã gieo thành một cái nghiệp của họ ở trong cái phương pháp đó rồi, thì do bây giờ họ chưa bỏ giờ đâu, nhưng ít hôm họ sẽ bỏ, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm hoặc năm năm, ba năm họ sẽ bỏ, chắc chắn là người đó sẽ có duyên. Cho nên các con biết, biết bây giờ có nhiều người họ đọc kinh sách Thầy, họ chóng mặt nhưng mà rồi lần lượt họ sẽ tỉnh lại. Thầy tin rằng một cái chánh pháp nó sẽ giúp họ.
Cho nên do duyên gì, nhân gì, quả gì mà họ không gặp chưa gặp được Chánh pháp Phật và làm sao để chuyển hóa họ. Nghĩa là con nói làm sao chuyển hóa? Kinh sách Thầy sẽ chuyển hóa họ đó. Chuyển hóa cái sai của họ từ lâu họ kiến chấp ở Đại thừa. Cho nên mấy con đó chưa huân ở trong đời trước mấy con nhiều cho nên mấy con đọc cái mấy con thấy đây đúng rồi.

Còn mấy con mà huân ở đời trước như mấy con đã tu như các vị hòa thượng rồi thì bắt đầu mấy con chỉ còn nước ném cuốn sách này xuống thôi hoặc là đem đốt. Nghĩa là mấy con biết khi ở Trúc Lâm, có một thầy ở trên đó nói với Thầy. Ở trên đó nó gom góp của Phật tử sách của Thầy mà gởi cho Phật tử, nó gom góp mấy thùng vậy nó đem về nó đốt ở Trúc Lâm. Hòa thượng Thanh Từ cho đốt hết, chứ không phải dễ đâu. Cho nên con tưởng bởi vậy cho nên vì vậy mà cái kiến chấp của người ta nó cũng ghê lắm bởi vì người ta huân đời trước rồi.

Cho nên qua câu hỏi của con, thì muốn chuyển họ làm sao muốn chuyển hóa họ làm sao. Thì kinh sách của Thầy nó sẽ chuyển mặc dù họ đốt vậy chứ ở trong đầu họ cũng còn, nó chưa mất đâu. Đó là cái duyên Thầy đã tạo trong đầu họ, lần lượt rồi họ sẽ trở thành một cái người tốt. Khi nào mà Thầy nói thật sự ra mấy con thấy khi nào mà lớp học của Thầy mà đào tạo người chứng quả Alahan. Thì một cái duyên đó là chuyển hóa họ đó mấy con. Họ nghe nói tu viện Chơn Như hôm nay, mười người chứng quả Alahan. Thì mấy con biết sao không? Bao nhiêu cái kiến chấp của họ nó đổ vỡ xuống liền tức khắc, nó phá đó. Đó là cái sự chuyển hóa, cho nên con nói làm sao để chuyển hóa họ, mình ráng tu đi, thì chuyển hóa chứ có gì.

- Nếu pháp hướng là ý thức thì phải có đối tượng nghĩa là cụ thể mới có kết quả, nếu pháp hướng mà trừu tượng thì tu tập...
29/07/2023

- Nếu pháp hướng là ý thức thì phải có đối tượng nghĩa là cụ thể mới có kết quả, nếu pháp hướng mà trừu tượng thì tu tập nhiều năm cũng không có kết quả.
- Ví dụ như ta ngồi quán thây ma bộ xương trắng, nhưng thực tế không có thây ma và bộ xương trắng trước mặt, chỉ do tâm ta tưởng tượng ra. Vậy đề mục đó là trừu tượng, nhưng ta dùng pháp hướng để nhắc tâm là ta ứng dụng pháp hướng đúng cách.
- Còn trước mặt có hơi thở ra vô là ý thức chứ không phải là tưởng thức. Các bạn hãy cẩn thận khi ứng dụng trong trường hợp này, kéo dùng tưởng cứ cho là ý thức. Dùng lẫn lộn ý thức và trừu tượng thì không có kết quả và đưa đến thiền sai.

https://thuvienthaythonglac.net/pdfviewer/pdfviewer.php?file=ZWJvb2tfMTA1ODk=

Address

Đường Chùa Am, Gia Lộc
Trang Bang

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when THẬP THIỆN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to THẬP THIỆN:

Shortcuts

Share