09/06/2024
Lecture by Venerable Thich Phap Hoa - The Meaning of Worshiping Buddha and Ancestors
Thầy Thích Pháp Hòa giảng về Ý nghĩa thờ cúng Phật, thờ cúng Ông bà. Ngẫm thấy thấm từng lời thầy giảng:
- Cây mà không có rễ làm sao sống, người không có cội nguồn thì cũng không phát triển được
- Hình ảnh ông bà trên bàn thờ giúp cho con cháu luôn nhớ tới ông bà
- Mâm cơm cúng thể hiện tình cảm của con cháu dành cho ông bà, chứ việc ông bà có về ăn hay không, chẳng ai biết
- Hoa là nhân, trái cây là quả, nhắc nhở khi ta đi chợ, lựa trái đẹp, cũng như sống ở đời lựa việc thiện mà làm
- Thắp nén hương thơm thể hiện sự đức hạnh, đức hạnh của cả ông bà và con cháu
- Mình làm mà mình không hiểu mới là mê tín dị đoan, chứ mình làm mà mình hiểu thì thấy được ý nghĩa của việc mình đang làm
- Cái hay ở Đạo Phật nằm ở chỗ, Đạo Phật đi đến đâu, đều hoà mình vào văn hoá nơi đó. Ở Vn mà không thờ ông bà thì Phật cũng buồn. Vì phải có Nhân Đạo trước, rồi mới có Thiên Đạo.
If one is Vietnamese, one may recall the proverb:
"The river flows only with a source,
The rice sprout grows from a root.
From commoners to sages,
Without parents, how could this body exist?
Roots yield green leaves,
Water springs from its source to nourish rivers and streams."
To be human is to have ancestors; without ancestors, it is as a river without a source. The tradition of venerating ancestors is deeply rooted in Vietnamese culture. For any Vietnamese, it is essential to practice this ancestral veneration.
Buddhism, in its wisdom, embraces and integrates this cultural tradition, not merely because it is compatible but also because it enhances its beauty.
For instance, the Buddha statues in temples may embody the cultural aesthetics of various nations. Thai Buddha, Khmer Buddha, Sri Lankan Buddha, etc. Each country adorns the Buddha with its own cultural beauty, and Buddhism respects and integrates these diverse expressions. The Thai Buddha looks Thai, while the Vietnamese Bodhisattva (Quan Âm) has the features of a Vietnamese deity.
Buddhism also emphasizes filial piety. Upon arriving in Vietnam, the practice of ancestor veneration was found to be so profoundly meaningful that it naturally became a part of the cultural fabric, enriching the tradition further.
The act of offering to the ancestors is not merely to ensure they are well-fed, but to express respect and remembrance. Setting food on the altar symbolizes the offering of one’s heart. Such offerings are not about physical sustenance but about maintaining tradition and teaching descendants about filial piety.
Children, when they look at the ancestral altar, recognize the images of their forebears, instilling a sense of gratitude and remembrance of their roots. This practice ensures that the tradition and the image of the ancestors remain alive in the consciousness of future generations.
If we do not venerate our ancestors, our descendants will lack a visual and spiritual connection to their roots. Veneration is not solely for the ancestors but for ourselves, to set an example for our descendants.
Ancestor veneration reminds us of the law of cause and effect. Flowers are the cause, fruits are the effect, encouraging everyone to live virtuously, spreading the fragrance of morality like the incense on the altar.
Veneration also serves to remind us of our gratitude to our ancestors. Just like Thanksgiving, Vu Lan (Vietnamese Ancestor's Day), and other such holidays, these celebrations aim to remind everyone not to forget their gratitude and origins.
Thus, the practice of ancestor veneration transcends mere rituals of eating and drinking. It is about preserving and imparting the noble values and traditions of the Vietnamese people.
Bài giảng của Thầy Thích Pháp Hòa:
Nếu mình là người Việt Nam, mình đều nhớ câu:
"Nước sông có nguồn mới chảy,
Hạt thóc kia có cây mới lên.
Phàm phu cho đến thánh hiền,
Ví không cha mẹ sao nên thân này.
Có cội mới nảy mầm xanh lá,
Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông."
Làm người phải có tổ tông, tổ tông không có như sông không nguồn. Truyền thống thờ cúng ông bà là của dân tộc Việt Nam, ai là người Việt Nam thì không thể không thờ cúng ông bà. Đạo Phật chấp nhận và hòa nhập vào truyền thống văn hóa này, không chỉ vì phù hợp mà còn làm đẹp hơn.
Ví dụ, tượng Phật ở chùa có thể mang nét văn hóa của nhiều quốc gia khác nhau. Phật Thái Lan, Phật Miên, Phật Tích Lan... Mỗi đất nước đều có nét đẹp riêng của mình, và Đạo Phật luôn tôn trọng và hòa nhập vào những nét đẹp đó. Đức Phật Thái Lan nhìn giống người Thái Lan, đức Quan Âm Việt Nam mang dáng vẻ của người Việt Nam.
Đạo Phật cũng đề cao chữ Hiếu. Khi đến Việt Nam, thấy ý nghĩa thờ cúng ông bà quá phù hợp nên đã hội nhập vào văn hóa đó và làm cho truyền thống này phong phú, ý nghĩa hơn.
Việc cúng ông bà không chỉ đơn thuần là để ăn no, mà là để bày tỏ lòng kính trọng, tưởng nhớ. Việc bày thức ăn lên bàn thờ là hình thức bày tỏ lòng thành kính. Việc cúng như vậy không phải là để ông bà về ăn, mà là để giữ gìn truyền thống, dạy cho con cháu lòng hiếu thảo.
Có những em nhỏ khi nhìn lên bàn thờ, biết được hình ảnh của ông bà, để rồi nhớ ơn và không quên cội nguồn của mình. Điều này giúp cho truyền thống và hình ảnh ông bà luôn hiện hữu trong tâm thức của các thế hệ sau.
Nếu không cúng ông bà, con cháu sẽ không có một hình ảnh cội nguồn để học hỏi. Việc thờ cúng không chỉ là cho ông bà, mà còn là cho chính mình, để con cháu thấy mà noi theo.
Việc cúng ông bà là để nhắc nhở đạo lý nhân quả, để mọi người sống có đức hạnh, lan tỏa hương đức hạnh như cây hương trên bàn thờ.
Việc thờ cúng còn để nhắc nhở mọi người nhớ ơn ông bà tổ tiên. Như ngày lễ Tạ ơn, lễ Vu Lan, những ngày lễ này không ngoài mục đích nhắc nhở mọi người không quên ơn tổ tiên, không quên cội nguồn.
Thờ cúng ông bà không phải là vấn đề ăn uống đói khát, mà là để giữ gìn và truyền dạy đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.