TRẺ CHẬM NÓI, THANG ĐO, CÁCH CAN THIỆP
1. Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ bình thường của trẻ như sau:
• Từ 3 - 6 tháng: trẻ bắt đầu chăm chú nhìn vào người nói chuyện. Quay đầu về phía có tiếng động phát ra.
• Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau.
• Nói được nguyên âm “a”, từ “ba”, “bà”.
• Từ 6 - 9 tháng: nói được 2 âm khác nhau như “ma ma”, “da da”.
• Từ 9 - 12 tháng: trẻ phát âm “ê”, “a” kéo dài thành một chuỗi âm thanh như người lớn nhưng không rõ từ.
• Tùy theo mỗi trẻ, nhưng khi được khoảng 11 tháng hay 1 tuổi có trẻ nói được khoảng 2 - 3 từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà.
• Từ 12 - 15 tháng: trẻ có thể phát âm như tiết tấu âm nhạc để giữ cho câu chuyện tiếp tục.
• Từ 15 - 18 tháng: sử dụng được 4 từ, thường là tên con vật kết hợp với cử chỉ, đưa tay vẫy, chỉ. Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau. Ở giai đoạn này, trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu. Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộc khi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố, hình con cá hoặc hình con chó…
• Từ 18 tháng đến 2 năm: biết khoảng 25 từ, gọi tên người, chào hỏi, từ chối.
• Từ 2 - 3 tuổi: nói rất nhiều, biết từ 50 - 200 từ, tự nói chuyện khi chơi. Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị. Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản.
Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/không?. Sau giai đoạn này, trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều các câu phức tạp, hình thành được các câu chuyện dài với nội dung khá logic.
• Từ 3 - 4 tuổi: trẻ nói được các câu phức tạp trẻ bắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt. Tự kiểm soát được cường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái gì, ở đâu, tại sao...
2. Nguyên nhân khiến trẻ chậm nói
Có 2 nhóm nguyên nhân chính là nguyên nhân thực thể và nguyên nhân tâm lý:
• Nguyên nhân thực thể là do trẻ có những vấn đề về cơ quan phát âm (tai, mũi, họng).Cụ thể trẻ chậm nói có thể do khiếm khuyết ở miệng, như vấn đề về lưỡi hoặc hở hàm ếch. Nếu lưỡi bị ngắn (do nếp gấp dưới lưỡi) có thể hạn chế chuyển động lưỡi khi nói. Nhiều trẻ em bị chậm phát triển nói do có vấn đề về răng miệng. Trẻ gặp khó khăn trong sử dụng và phối hợp giữa môi, lưỡi, và hàm để tạo âm thanh lời nói. Lúc này, vấn đề khó khăn bé gặp phải không chỉ là nói mà còn khó khăn trong một số hoạt động khác như khi ăn, uống. cơ quan chỉ huy (não bị dị tật bẩm sinh, bại não, những di chứng sau xuất huyết não, viêm màng não...)
• Nguyên nhân tâm lý là do gia đình hoặc quá cưng chiều, hay bỏ bê trẻ, hoặc đã xảy ra một biến cố nào đó làm ảnh hưởng đến tâm lý trẻ.
Khi nào cần can thiệp?
Trước tiên cha mẹ, người thân cần chú ý chăm sóc, quan tâm phát triển kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ phù hợp với độ tuổi, và cần can thiệp sớm khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường về phát triển ngôn ngữ.
3. Dấu hiệu cho thấy trẻ chậm nói
- Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 – 8 tuần tuổi.
- Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng.
- Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng.
- Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng.
- Không cười tự phát lúc 6 tháng.
-Không bập bẹ lúc 8 tháng.
- Ở thời điểm 12 tháng không sử dụng cử chỉ, ví dụ chỉ tay hoặc vẫy tay bye-bye.
- Ở thời điểm 18 tháng tuổi bé vẫn dùng những cử chỉ thay cho phát âm để giao tiếp.
- Có vấn đề rắc rối nếu không bắt chước được âm thanh khi 18 tháng tuổi. Vốn từ của bé ít hơn 6 từ. Bé thích dùng cử chỉ hơn là phát âm để giao tiếp. Không hiểu các yêu cầu bằng lời nói đơn giản.
-Không nói được từ đơn lúc bé 2 tuổi. Chỉ nhắc đi nhắc lại vài từ mà không thể sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp theo đúng sự phát triển bình thường.
- Không nói được một câu đơn giản khi bé 3 tuổi.
Nếu thấy trẻ có một trong những biểu hiện trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra. Tùy theo mức độ chậm nói và độ tuổi của trẻ các bác sĩ, nhà trị liệu sẽ có nhiều hình thức can thiệp khác nhau như tư vấn, hướng dẫn cha mẹ huấn luyện ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình, hoặc cần kết hợp chuyên gia ngôn ngữ, tâm lý và bác sĩ để can thiệp thúc đẩy ngôn ngữ ở trẻ.
Đối với trẻ chậm nói do nguyên nhân thực thể, đa phần là do trẻ có vấn đề về thính lực. Các bác sĩ phải điều trị về thính lực cho trẻ. Đối với trẻ bị điếc nhẹ và điếc trung bình thì việc điều trị trước 5 tuổi rất có hiệu quả. Trong những trường hợp điếc do viêm tai, thủng màng nhĩ, trẻ sẽ được điều trị bằng phẫu thuật, vá màng nhĩ để nâng sức nghe. Với những trường hợp không nghe lại được thì phải can thiệp bằng cách đeo máy nghe.
4. Các nguyên tắc cơ bản giúp cho trẻ cải thiện khó khăn về ngôn ngữ:
4.1. Giúp trẻ xây dựng mối quan hệ gắn bó:
Cha mẹ cần giúp trẻ hình thành mối quan hệ gắn bó với mình trong việc gần gũi với trẻ, cùng chơi đùa, cùng ăn uống, cùng trò chuyện với sự thân thiện và tôn trọng trong một môi trường an toàn và vui vẻ.
Cha mẹ nên khám phá những mặt mạnh, những điểm tích cực của trẻ để khuyến khích, nâng đỡ chứ không lèo lái các hoạt động của trẻ theo ý mính, không “ xâm phạm lãnh thổ cá nhân” của trẻ. Tuyệt đối không la mắng, trừng phạt bằng đòn roi mà chỉ là sự nhắc nhở rõ ràng và kiên quyết.
4.2. Giúp trẻ biết cách bầy tỏ nhu cầu:
Cha mẹ cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay (làm thay cho trẻ). Những hành vi bùng nổ, la hét, tự hành hạ ( đập đầu, cào cấu, nằm lăn ra đất…) cũng chỉ là một loại “ngôn ngữ không lời” che dấu một nhu cầu, một ước muốn. Cha mẹ nên hết sức bình tĩnh để phân biệt các nhu cầu thực sự và những đòi hỏi, nhõng nhẽo quá đáng của trẻ. Cho trẻ biết đâu là sự giới hạn, sự cho phép và những điều không được phép làm với một ngôn ngữ không đe dọa hay mua chuộc.
Phải biết nói KHÔNG với những yêu cầu không thích hợp, nhưng đồng thời cũng cho phép trẻ có thể TỪ CHỐI bằng lời nói hay những hành động đơn sơ của mình, và cũng thông báo điều này cho mọi người có liên hệ với trẻ. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.
4.3. Giúp trẻ tham gia các hoạt động tâm vận động:
Trong một ngày, trẻ cần có một khoản thời gian nhất định ( tuỳ điều kiện để bố trí vào buổi sáng hay chiều, tối và chỉ kéo dài tối đa 60 – 90 phút ) – Trong buổi sinh hoạt này, trẻ sẽ vừa chơi vừa học bằng những họat động tạo vui thú như leo trèo, nhảy, xây dựng – phá hủy ( mô hình – khối gỗ…) trốn tìm ( chơi bịt mắt – chơi tìm và đoán các đồ vật bị che dấu).
Qua các trò chơi tương tác giữa mẹ và con, trẻ học được cách chờ đợi ( lần lượt làm, đến phiên mình) qua đó cũng biết luôn về giá trị của thời gian, biết phân biệt trước, sau. Hoạt động này giúp trẻ giải tỏa ức chế, phóng ngoại và xây dựng ý thức về bản thân, tạo điều kiện cho trẻ biết chọn lựa, vui thú và hành động tự chủ.
4.4. Trò chơi “Bập bẹ - líu lo” vận dụng các cơ quan phát âm của trẻ:
Cha mẹ khích lệ trẻ tự nói, dù chỉ là những tiếng bập bẹ, líu lo. Hãy xem đó như một trò chơi, khi trẻ nói cha mẹ sẽ bắt chước nói lại với những âm thanh tương tự, nhưng sẽ có những điều chỉnh và mở rộng hơn. Cha mẹ cũng có thể thu băng các lời nói của trẻ và sau đó phát lại cho trẻ nghe, điều này sẽ khích lệ trẻ phát âm nhiều hơn.
4.5. Lặp lại một số âm thanh và từ ngữ có trong ngôn ngữ bình thường:
Sau khi trẻ đã phát ra nhiều âm thanh trong lúc vui đùa, cha mẹ chọn lọc những âm thanh nào tương tự, gần giống với những từ phổ biến hàng ngày để nhắc lại cho trẻ ghi vào bộ nhớ.
Ví dụ : trẻ nói :Mờ, mờ - Mẹ: Má , trẻ: Bờ bờ - Mẹ: Ba, Trẻ: Chờ, chờ - Mẹ: Chơi, trẻ: Cờ cờ - Mẹ: Con.
Hoạt động này giúp trẻ biết cách phát ra ngôn ngữ bình thường. Tập cho trẻ phát ra những câu có 2 từ : ba về, đi chơi, cho con, cho má….
4.6. Giúp trẻ biết cách kết hợp và sắp xếp các đồ vật, hình ảnh và ngôn từ với nhau:
Cha mẹ xếp đặt một số mẫu vật dụng trước mặt trẻ và bảo trẻ làm lại giống như mình: Xếp cốc vào một chỗ, xếp thìa lại với nhau, xếp hình các con vật giống nhau cạnh nhau, xếp từ ghi tên đồ vật, con vật vào dưới ảnh của đồ vật hay ảnh con vật đó.
Cho trẻ xếp theo trình tự:
1/ Hình thể và màu sắc hoàn toàn giống nhau.
2/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc – kích thước tương tự
3/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc và kích cỡ khác nhau
4/ Chữ và hình đồ vật ( chữ GẤU dưới hình con Gấu)
Sắp xếp theo công dụng:
1/ Các dụng cụ học tập ( viết, tập, gôm…)
2/ Các dụng cụ làm bếp, các dụng cụ trong phòng khách, phòng ăn…
Sắp xếp theo khu vực hoạt động:
1/ Các sinh vật trên trời, dưới biển, trong rừng
2/ Các đồ vật ở nhà, trong Siêu thị, ngoài đường phố.
7. Giúp trẻ nghe và hiểu một số từ thông thường, qua việc thi hành những mệnh lệnh đơn sơ:
Bước đầu tập cho trẻ đi lấy những món đồ chơi, những đồ dùng hàng ngày, sau đó thông qua hình ảnh, nâng cao vốn từ cho trẻ để có thể nhận ra và chỉ từ 25 – 100 món đồ.
8. Giúp trẻ gọi tên từ 25 – 100 đồ dùng và các hoạt động thường ngày:
Thông qua các hình ảnh, trò chơi và các hoạt động hàng ngày để tạo điều kiện và khuyến khích trẻ có thể gọi tên các đồ vật và hoạt động hàng ngày.
9. Giúp trẻ hiểu biết và nói về các hoạt động trong gia đình:
Xây dựng một lịch hoạt động để trẻ ý thức được các hoạt động trong ngày, biết và xác định được các thời điểm ( trước/sau) các công việc nối tiếp để tạo sự ổn định tâm lý cho trẻ.
Lịch hoạt động ghi lại những hoạt động chính trong 1 ngày ( từ sáng đến tối) và trong 1 tuần ( từ thứ 2 – chủ nhật) bằng các hình vẽ đơn giản và lời minh họa ngắn gọn.
10. Biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu hỏi gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì bỏ qua và nhắc lại câu hỏi. Đừng hỏi nhiều và tản mạn, cần tập trung vào một chủ đề ( Ví dụ: các loại bánh – các loại đồ dùng trong nhà bếp/phòng ăn/phòng ngủ)
11. Giúp trẻ nhận biết và sử dụng chữ và số:
Thông qua các trò chơi kết hợp hình ảnh và chữ viết
Khi tập cho trẻ nhận biết về con số, không phải là biết nhìn ra từ số 1 -10 hay đọc được đến 100, mà là biết rõ số lượng ( hai cái bánh, hai cái chén, hai con vịt…ba cái ly ) và mối tương quan ( hai cái ly thì nhiều hơn một cái ly ) – Khi được yêu cầu, trẻ có khả năng lấy ra 2,3 hình cái ly trong một loạt các hình bầy trước mắt. Trẻ có thể ghép được chữ Bàn ở dưới hình cái bàn.
12. Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè
Chơi đùa là một hoạt động rất quan trọng, qua các trò chơi trẻ có thể thiết lập mối quan hệ tốt với bố mẹ và bạn bè. Ngay cả trong các hoạt động hàng ngày cũng nên đưa vào những câu nói và ý tưởng như một trò chơi ( Đố con lấy được cho mẹ hai cái chén sứ trong tủ chén – Đố con lên cầu thang trước mẹ …) Trong các ngày nghỉ, Lễ Tết, sinh nhật hãy tạo điều kiện cho trẻ đến chơi các công viên, khu vui chơi hay mời các trẻ quen biết lại nhà chơi.
Tài liệu sưu tầm
Tài Liệu Nuôi Dạy Con
Nơi đây chia sẻ tài liệu nuôi dạy con theo từng giai đoạn và đặc biệt có tài liệu dành cho trẻ VIP nhé
👍GIÚP TRẺ TỰ KỶ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG GIAO TIẾP
- Tự kỷ là một “phổ” rối loạn về phát triển do các triệu chứng rất khác nhau, nhưng hầu hết các em đều có có khó khăn về giao tiếp và tương tác xã hội. Trẻ cũng có thể có các hành vi rập khuôn và lặp đi lặp lại gây cản trở đến việc học.
- Có bốn yếu tố cơ bản trong việc can thiệp để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ là tương tác xã hội, phát triển ngôn ngữ, bắt chước trong hoạt động xã hội và hoạt động vui chơi. Trẻ cần được hướng dẫn trong cả bốn lĩnh vực này
👉👉👉KỸ THUẬT VỀ CÁCH NÓI
Chúng ta biết rằng, một trong những khả năng thu hút sự chú ý của người nghe của các nhà hùng biện là cách mà họ nói. Sự lên xuống, nhấn nhá, pha lẫn những yếu tố khôi hài… với một giọng nói êm ái hay sôi nổi ..là những yếu tố quan trọng. Cũng thế, khi can thiệp bằng ngôn ngữ lên trẻ, thì ngoài các yếu tố vui vẻ, chấp nhận hành vi của các em, dựa theo ý thích và sự chọn lựa để trẻ thoải mái trong các hoạt động , thì sự thể hiện bằng cách nói , giọng nói và những sự nhấn nhá, lên xuống cũng là yếu tố …giúp cho trẻ có sự chú ý vào các yêu cầu của chúng ta để phát triển kỹ năng giao tiếp.
⭐Nói về những gì trẻ thích : Hãy nói về những thứ mà bé chú ý đến. Làm như vậy sẽ giúp bé áp dụng ngôn ngữ của bạn thành kinh nghiệm của chính bé. .
⭐ Nói song song : Hãy nói về thứ mà bé đang nhìn thấy, nghe thấy hoặc đang làm. Lời nói của bạn phải gắn với hành động thì mới có nghĩa. Nhưng chỉ là một vài hành động thôi
ví dụ về nói song song:
• Khi bé đang uống nước cam, hãy nói “Nước cam ” (chỉ tay vào cốc nước cam), “Uống nước cam”, hay “Con đang uống nước cam”
• Khi bé đang chơi ô tô, hãy nói “ô tô” (và chỉ vào chiếc xe ), “Cho xe chạy nào”, hoặc “ô tô đang chạy”
⭐ Tự nói với mình Hãy nói về những gì bạn đang làm trong khi bé đang quan sát. Dùng các câu ngắn để nói về điều bạn đang làm, và nhắc đi nhắc lại. Ví dụ, khi bạn đang đẩy ô tô, hãy nói “Đẩy ô tô”, “Cô đẩy ô tô” hoặc “Đẩy ô tô nhanh nào”
Biện pháp Phát triển ngôn ngữ
Hãy nói thêm vào các từ ngữ mà trẻ đã nói được và có thể thêm các khái niệm mới một cách ngắn gọn.
• Bé: “Tàu hỏa”. Cô: “Đẩy tàu hỏa”
• Bé: “Đẩy tàu hỏa”. Cô: “Đẩy tàu hỏa chạy nhanh”
• Bé: “Đẩy tàu hỏa chạy nhanh”. Cô: “Đẩy tàu hỏa màu đỏ chạy nhanh”
• Bé: “Đẩy tàu hỏa màu đỏ chạy nhanh”. Cô: “Đẩy tàu hỏa chạy nhanh qua đường hầm”
Để dạy bé ngữ pháp và cú pháp đúng, hãy nhắc lại lời của bé, nhưng dùng ngữ pháp và cú pháp đúng. Bạn có thể nhấn vào các từ đúng. Sau đây là một số ví dụ về làm mẫu ngữ pháp và cú pháp đúng:
Bé: “Em bé khóc” (không chia động từ). cô “Em bé đang khóc” (chia động từ đúng)
Bé: “Nước cam uống”. Cô: “À, con muốn uống nước cam”
Khuyến khích có trọng tâm :
Bạn có thể nâng cao ngôn ngữ cho bé bằng cách nói lại nhiều lần trong ngày trong các tình huống khác nhau môt số từ ngữ có liên quan đến sở thích và hoạt động mà bạn muốn bé nhớ từ 15-20 lần mỗi ngày.
Tránh đặt câu hỏi :
Hãy bình luận và gọi tên. Làm như vậy để cho trẻ có cơ hội giao tiếp và làm mẫu lời nói mà bé có thể dùng. Khi giao tiếp chúng ta thường có xu hướng đưa ra các câu hỏi ví dụ “Con đang làm gì vui à?” Thay vào đó hãy dùng các câu mô tả - ví dụ, “con đang trượt cầu trượt” hay “Con đang chơi vui vẻ”
Bạn cũng nên tránh hỏi các câu “kiểm tra” ví dụ “Quả bóng màu gì đấy?” hay “Con có bao nhiêu khối xếp hình?” Hãy tưởng tượng mỗi lần trẻ gặp mặt, trẻ lại bị hỏi các câu hỏi kiểm tra. Trẻ sẽ rất chán. Và sẽ không muốn ngồi chơi với ta nữa.
Chúng ta có thể tác động một cách chừng mực, vui vẻ và linh động trong giờ ăn, lúc tắm, khi thay quần áo …bằng những từ ngữ có liên quan đến các hoạt động đó.
Nếu bé đang ở bên cạnh và có sự chú ý khi bạn đang làm các công việc nhà, như rửa bát đĩa, giặt áo quần, dọn nhà, bạn hãy kể cho bé bạn đang làm gì bằng ngôn ngữ đơn giản. Đây là các cơ hội tuyệt vời để dạy bé về các đặc tính (như màu sắc, kích cỡ, sạch hay bẩn, v.v.) Ví dụ, khi bạn đang xếp bát đĩa vào máy hay lấy bát đĩa ra, bạn có thể cho bé xem từng đồ vật trước khi bỏ vào và gọi tên đồ vật đó.
Lên xuống trong giọng nói : Khi trao đổi với trẻ, tránh dùng cách nói phẳng, với một giọng đều đều, một cách chán chường. Hãy lên xuống, nhấn nhá , có khi kéo dài, có khi dừng đột ngột trong lúc trẻ đang nghe chúng ta nói. Hãy thay đổi các cách gọi với trẻ, đừng nên chỉ sử dụng tên hay từ Con, mà hãy gọi bằng nhiều “bí danh” khác nhau : Đằng ấy, ông ơi, thôi đi cha nội … con gấu cưng của cô/mẹ ..đâu rồi ?....
👉👉KỸ THUẬT DÙNG ĐỒ CHƠI TƯƠNG TÁC
Trong kỹ thuật này, bạn hãy làm gián đoạn trò chơi của bé một cách vui vẻ. Bạn có thể làm như vậy với đồ chơi hoặc các hoạt động vận động.
Kỹ thuật dùng các đồ chơi tương tác có bốn bước.
⭐ Hãy dùng cùng một cụm từ ngắn gọn trước khi bắt đầu, để nói cho bé biết trước là điều gì đó sắp xảy ra.
⭐Hãy làm gián đoạn hoặc ngăn cản trò chơi của bé một cách vui vẻ.
⭐Hãy đợi bé giao tiếp hoặc phản ứng lại theo một cách nào đó.
⭐Hãy đáp lại sự giao tiếp của bé.
Điều quan trọng là khi bạn ngăn cản các hoạt động hay trò chơi của trẻ bằng một món đồ chơi – hay một dụng cụ, thì bạn hãy sử dụng các cụm từ, và động tác có tính chất mô tả hành động mà bạn sẽ làm , điều này sẽ giúp bé không bị bất ngờ trong trò chơi của bé,
Hãy sử dụng cụm từ có tính chất mô tà trước khi có hành động
Luôn luôn nhắc đi nhắc lại cùng một cụm từ trước khi bạn làm gián đoạn trò chơi của bé, để bé biết rằng điều gì đó sắp thay đổi. Nhưng nếu bé phản đổi, thì hãy dừng lại và tìm cách khác để tác động.
Đưa ra một món đồ chơi thú vị khác. : Sau khi đã báo trước Bạn có thể dùng một con rối, một cái chăn, hoặc các đồ chơi khác để tiếp cận với đồ chơi của bé hoặc ngăn không cho bé chơi đồ chơi .
Hãy đợi bé tham gia - giao tiếp: Hãy thử xem bé có giao tiếp mắt, di chuyển hay có cử chỉ điệu bộ , phát ra âm thanh, hoặc nói không. Đó là dấu hiệu cho thấy bé nhận biết bạn đang giao tiếp với bé.
Hãy đáp lại sự giao tiếp: Hãy đáp lại bằng cách đưa thứ bé muốn hoặc dừng các hành vi mà bé phản đối. Nhưng nếu bé phản đối trước khi bạn ngăn cản trò chơi của bé thì bạn sẽ không ngăn trở nữa..
👉👉👉CÁC BÍ QUYẾT
🌟Chơi đồ chơi : Hãy ngăn cản trò chơi của bé một cách “có ý nghĩa”. Ví dụ, nếu bé chơi đẩy ô tô, bạn hãy chặn đường đi của bé bằng một ô tô khác và nói “bíp bíp”. Nếu bé chơi một món đồ chơi nhỏ, bạn hãy dùng một con rối hoặc một con thú nhồi bông để “ăn thịt” món đồ chơi đó từ tay của bé “Con gấu đang đói bụng đây, ngon quá, ngon quá”
Đặt tay bạn lên đồ chơi của bé để ngăn cản bé. Ví dụ, nếu bé đang ném bóng vào một đường trượt, hãy đặt hai tay bạn chặn lên đường trượt để bé không thể đặt bóng vào. Hãy làm điệu bộ như sắp chặn đường trượt của bé, và mô tả “Bây giờ... dừng lại!”
🌟Chơi vận động thô : Nếu bé đang chạy hãy tìm cách đập vào người bé khi bé tới đích. Nếu bé chạy đến đu quay, hãy chạy đến đu quay trước và ngồi lên nó. Nhớ phải làm một cách vui vẻ, đừng làm cho trẻ phát cáu . Chúng ta chơi chứ không phải là chọc giận trẻ. Hoặc bạn có thể ngăn cản bằng trò “đóng cổng” bằng cách đặt tay của bạn quanh người bé để bé phải dừng lại, sau đó “mở cổng” và để bé đi. Sau vài lần, hãy đợi xem bé tương tác với bạn như thế nào trước khi để bé đi.
Đây là các kỹ thuât cơ bản - đơn giản để bước đầu trong hoạt động can thiệp. Bởi vì để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ , hay tập nói cho trẻ là một tiến trình lâu dài với nhiều kỹ thuật và phương pháp khác nhau . hãy cần tập luyện cho mình liên tục để có được những năng lực cần thiết khi bước vào một hành trình dài với trẻ Tự kỷ.
📍Nguồn: CV TL Lê Khanh
16/08/2020
👉👉10 BÍ QUYẾT ĐỂ TRỞ THÀNH ĐỐI TÁC GIAO TIẾP TỐT CỦA TRẺ👈👈
🚩Việc phát triển các kỹ năng tương tác giao tiếp hiệu quả là nhu cầu sống còn đối với trẻ rối loạn phổ tự kỷ và trẻ có các khiếm khuyết giao tiếp khác .
☀️MẶT ĐỐI MẶT VỚI TRẺ
Hãy ngồi xuống ,cúi xuống ,ngồi xổm hay làm bất cứ điều gì cần thiết để làm cho khuôn mặt bạn ở ngang tầm mắt trẻ .
☀️THIẾT LẬP SỰ CHÚ Ý:
⚡Di chuyển cơ thể gần trẻ hơn ,cần quan sát và xem xét cẩn thận để tìm được khoảng cách hiệu quả nhất
⚡Hãy đặt bản thân mình vào tầm nhìn của trẻ ,nếu trẻ quay đi bạn thường hay yêu cầu trẻ quay lại để nhìn bạn . Nhưng có thể sẽ tốt hơn nếu bạn tự di chuyển để có thể đặt mình vào tầm nhìn mới của trẻ
⚡Theo dõi để trẻ hướng về phía bạn trẻ không nhất thiết phải nhìn chằm chằm vào bạn để giao tiếp. Việc trẻ quay người hay quay đầu theo hướng của bạn hay đổi hướng nhìn đã đủ để nói lên rằng chúng đang chú ý tới bạn
⚡Hãy tỏ ra thật sinh động như các nhân vật trong phim hoạt hình,đôi khi điều này khiến bạn trở nên ngớ ngẩn nhưng tuyệt nhiên các biểu hiện cường điệu trên khuôn mặt ,những cử chỉ hay chuyển động của cơ thể sẽ giúp trẻ rất nhiều. Ngoài ra hãy thay đổi âm lượng,ngữ điệu và giọng nói
⚡Hãy sử dụng một bức tranh trực quan sặc sỡ, cầm một vật hay cức tranh mà bạn định nói về nó .Hãy giữ cho vật đó luôn ở trong tầm mắt của trẻ và di chuyển vật đó cho tới khi bạn chắc chắn trẻ đã nhìn thấy ( cố gắng giữ vật đó trước mặt bạn và gần miện của bạn để trẻ có thể nhìn thấy cả hai)
☀️CHUẨN BỊ NHỮNG GÌ BẠN SẮP TRUYỀN ĐẠT
⚡Hãy sử dụng một tín hiệu bằng lời để nhắc trẻ ẵn sàn nhận thông điệp của bạn . Hãy thử gọi tên trẻ,hay chọn 1 cách nói để trẻ chuẩn bị như:
• “Nhìn này “
• “Nghe này “
• “Xem này “
• “ ồ ”
• “được rồi”
• “sẵn sàng chưa “
⚡Sử dụng hình ảnh thu hút để trẻ hướng suy nghĩ về chủ đề bạn đang nói .
☀️ SỬ DỤNG CỬ CHỈ VÀ NGÔN NGỮ CƠ THỂ MỘT CÁCH Ý NGHĨA:
⚡Cử chỉ và ngôn ngữ cơ thể rất quan trọng trong việc làm rõ nội dung giao tiếp .Chúng có thể giúp trẻ chú ý và hiểu được điều bạn đang nói .
⚡Hãy cường điệu hóa các chuyển động
⚡Sử dụng các cử chỉ và chuyển động của cơ thể thật chậm và rõ ràng
⚡Nếu đang chỉ tay hãy giữ động tác lâu hơn .Giữ đúng vị trí Trẻ có thể không để ý đến động tác chỉ nhẹ và nhanh .Hãy nhớ ,một động tác chỉ tay tốt có thể rất giá trị trong việc giúp trẻ hướng tới vật tương tác .Khi cả trẻ và bạn cùng hướng về một vật hiệu quả giao tiếp sẽ tăng lên.
⚡Giao tiếp không chỉ là lời nói .Cánh tay ,khuôn mặt và cơ thể của bạn đều là nhừng công cụ giao tiếp rất quan trọng
Vật tương tác là thứ cả hai cùng chú ý tại một thời điểm
☀️HỖ TRỢ GIAO TIẾP MỘT CÁCH TRỰC QUAN
⚡Hãy nhớ ,công cụ hỗ trợ trực quan không chỉ là những bức tranh ,chúng chỉ là một trong số rất nhiều công cụ trực quan .Cơ thể của bạn cũng là một công cụng trực quan . Đồ vật, con người ,các hướng dẫn trên tivi hay bất cứ thứ gì bạn có thể nhìn thấy đều là các công cụ trực quan .
☀️NÓI CHẬM VÀ RÕ RÀNG
⚡Đối với trẻ ,việc xử lý ngôn ngữ chậm hơn chậm hơn người bình thường .Nếu chúng ta nói nhanh có thể ngôn ngữ của chúng ta nghe như ấn nút “Tua” trên băng cát- xét .Một số người có thói quen “nói nhanh và nói không ngừng nghỉ “ sẽ khiến trẻ cực kỳ bối rối .Việc giảm tốc độ nói có thể ải thiện giao tiếp một câchs đáng kể .Hãy nói chậm đến mức có thể làm người khác buồn cười .Khi đó bạn đã bắt được đúng tốc độ chậm cần thiết đối với trẻ .
☀️GIỚI HẠN LỜI NÓI:
⚡Nói nhiều hơn không có nghĩa là tốt hơn .Nói ít mới la cách hiệu quả , đặc biệt đối với trẻ nhũng cụm từ ngắn gọn trẻ sẽ hiểu hơn là những cụm từ dài lê thê .Nếu trẻ nói được những cụm từ ngắn có nghĩa là chúng hiểu được các từ đơn lẻ và cụm từ ngắn tốt hơn là những câu dài
☀️DÀNH THỜI GIAN CHỜ ĐỢI:
⚡Khi đặt câu hỏi hãy đợi trẻ phản hồi .Khi đưa ra yêu cầu hãy dừng lại một chút để trẻ có thời gian xử lý yêu cầu của bạn .
Việc này cũng như bạn khởi động máy tính ,bạn phải đợi mọi trình duyệt cần thiết hiện lên trước khi gõ bàn phím .Người lớn rất hay đột ngột nhảy bổ vào ,lặp lại yêu cầu ,hay trợ giúp trẻ ngay ,mà không cho chúng thời gian để để phản ứng
⚡ Hãy đếm thầm đến 5,7,hay 20 sau khi đặt câu hỏi hay yêu cầu trẻ làm gì đó .Hãy quan sát trẻ cần bao lâu để phản ứng
⚡ Đợi theo kiểu mong chờ .Điều đó có nghĩa là bạn nhìn trẻ và tìm kiếm phản ứng của chúng như thể bạn đang mong mỏi điều đó vô cùng
⚡Tiếp tục duy trì tương tác với trẻ trong khi chờ đợi .Hãy tiếp tục nhìn vào mắt trẻ .Hyã làm điều gì đó để trẻ tiếp tục duy trì mối liên hệ với bạn trong thời gian chờ đợi này .Đối với một số trẻ điều này rất khó khăn ,bạn có thể duy chuyển cơ thể để ngang tầm nhìn với trẻ ,bạn cũng có giữ một vật hay chỉ vào một bức tranh để duy trì sự chú của trẻ
⚡ Hãy thử bắt trẻ nhắc lại nhưng mệnh lệnh ,đây không phải là cách áp dụng được nhiều lần ,tuy nhiên việc nhắc lại có thể giúp trẻ ử lý thông tin để bắt đầu một hành động và phản ứng
☀️ THỤC DỤC HOẶC HƯỚNG DẪN TRẺ DÚNG LÚC
⚡Sau khi chờ đợi ,bạn có thể sẽ quyết định là trẻ cần được thúc dục để phản ứng .Sự thúc dục có thể chỉ đơn giản và tinh tế như:
❣Các hướng dẫn bằng cơ thể :
* Di chuyển đồ vật ( ví dụ : khi yêu cầu trẻ ngồi xuống hãy đẩy ghế một chút về phía chúng )
* Chỉ vào vị trí mà trẻ cần nhìn
* Quay đầu trẻ một chút
* Chạm vào bàn tay hay cánh tay để trẻ nhẹ nhàng di chuyển nó theo hướng của hành động trẻ cần làm
* Đưa cho trẻ một bức tranh hay một vật thể giúp trẻ khởi động
❣ Những hành động thúc dục để cải thiện khả năng phản ứng bằng lời của trẻ :
* Làm khẩu hình miệng của bạn theo như cách trẻ cần làm
* Bật ra tiếng đầu tiên của câu trả lời mà
* Nói phần đầu của một câu và sau đó dừng lại một lúc để trẻ tiếp nối câu nói ( ví dụ : bạn nói “ con muốn ………….” Rồi dừng lại để trẻ nói tiếp )
* Chỉ vào vật hay vào tranh để giúp trẻ tìm đúng từ
☀️DUY TRÌ TƯƠNG TÁC:
⚡Để tương tác hiệu quả với trẻ ,có khó khăn trong giao tiếp ,chúng ta buộc phải thay đổi thói quen vội vã của mình .Làm mọi thứ quá nhanh sẽ làm triệt tiêu những khoảng khắc bạn có thể sử dụng để dạy trẻ .Khi đó chúng ta sẽ rất dễ bỏ qua những phản ứng không phù hợp ,sẽ vội vã trợ giúp trẻ hoặc không cho trẻ đủ thời gian để giao tiếp . Hãy ngừng lại . Hay coi từng tương tác giao tiếp là cơ hội quý báu để dạy trẻ .Trước mỗi tình huống khó khăn hãy giảm tốc độ một chút để làm những gì có thể tạo ra thay đổi cho trẻ
• Lập tức sửa lỗi bằng cách dành thời gian cho trẻ biết về lỗi của chúng
• Điều chỉnh giao tiếp của chính bạn khi cần thiết
• Áp dụng những hỗ trợ trực quan cần thiếp để giúp trẻ thành công
• Tạo ra “ cái kết “ cho tương tác sao cho cả bạn và trẻ đều biết rằng tương tác đã kết thúc thành công : một nụ cười ,một cử chỉ hay một cách động viên bằng lời nói cụ thể có thể giúp trẻ hiểu được điều này.
Sưu tầm
Trẻ chậm nói
Theo các chuyên gia Tâm lý & Âm ngữ trị liệu, trẻ ở độ tuổi 18-31 tháng không chịu nói nhưng hiểu tốt ngôn ngữ không lời (cử chỉ, điệu bộ, chỉ trỏ…) hoặc khả năng nói quá thua sút so với bạn cùng tuổi như trên được gọi là chậm nói.
"Con của hàng xóm chỉ hơn con tôi 18 tháng tuổi đã nói bô bô, rõ chữ, lại nói được câu dài. Bé nhà tôi 30 tháng rồi mà vừa chậm nói vừa khó dạy. Khi không cho xem tivi hay nghịch các thiết bị điện tử, bé ú ớ rồi lăn ra khóc."
Thời gian đầu khi trẻ chưa tròn 2 tuổi, tôi vẫn tỏ ra vô cùng lạc quan về khả năng nói của con. Vậy nhưng khi thấy trẻ chạm mốc 28 tháng mà vẫn chưa biết nói, tôi đã bắt đầu phải đối diện với những áp lực rất lớn từ người thân, gia đình.
Tiếp xúc với nhiều cha mẹ có con chậm nói, phần lớn ở họ đều có suy nghĩ giống nhau. Con phát triển tốt lắm, cái gì cũng biết, chỉ trừ nói thôi nên cũng không cần cho con đi tư vấn. Nó có bị làm sao đâu mà đi, cái gì cũng biết, ai cũng nói là thông minh, hoặc ngày trước gia đình có người 3 tuổi mới nói nên giờ nó 2 tuổi chưa nói là chuyện bình thường. Chính vì những suy nghĩ này mà cha mẹ đã chậm trễ trong việc can thiệp hỗ trợ giúp con nói tốt hơn.
NHƯNG điều đáng nói ở đây chính là nhận thức và khả năng tương tác xã hội của con sẽ bị hạn chế dần chỉ vì chậm nói. Nếu như con nhận biết được mà không nói được thì những tri thức con có được cũng sẽ không thể hiện được, thậm chí là sai lệch. Đây cũng là lý do mà quan niệm TRẺ CHẬM NÓI đi kèm CHẬM NHẬN THỨC được lan truyền. Cho nên, cha mẹ cần nhận ra rõ tác hại của việc chậm nói ở trẻ để có phương pháp giúp con phát triển ngôn ngữ hoàn thiện theo độ tuổi nếu nhận ra con mình chậm nói.
Trẻ chậm nói cần được can thiệp sớm để tránh những ảnh hưởng nặng nề. Còn rất nhiều cha mẹ chủ quan vì chưa nhận ra những tiềm ẩn nguy hại cho con khi trẻ chậm nói. Do vậy, các phụ huynh có biết được chậm nói tác động xấu đến mức nào với tương lai con trẻ để có những hướng cải thiện và can thiệp.
Khi trẻ qua 31 tháng cho đến 5 tuổi, nếu hiện tượng này còn diễn tiến thì gọi là chậm phát triển ngôn ngữ. Tùy vào nhiều yếu tố, như nguyên nhân, độ tuổi, mức độ “chậm”, trẻ sẽ được can thiệp theo những phương pháp, lộ trình riêng và can thiệp càng sớm càng có hiệu quả. Khi trẻ đã 18 tháng mà vẫn chưa chịu nói, tốt nhất là nên đưa đến các đơn vị chuyên về âm ngữ trị liệu.
TRẺ CẦN BIẾT ..CHƠI TRƯỚC KHI BIẾT NÓI.
Thông thường, các trẻ đặc biệt mà ta hay gọi là trẻ VIP, thường có những khó khăn về ngôn ngữ, hay đúng hơn là hạn chế về lời nói, vì các em vẫn có thể giao tiếp bằng cử chỉ . Điều này là tâm điểm cho nỗi lo của bố mẹ, và 10 người thì hết 11 người khi đưa con đi khám, tìm trường, tìm lớp, tìm GV là đều đặt ra mục đích, yêu cầu : Làm sao con tôi nói được.
Chính vì quá chú ý đến lời nói, nên chúng ta lại quá tập trung vào các kỹ thuật “ bật âm” để làm sao cho trẻ mau biết nói, và đầu tư thời gian tiền bạc vào các phương pháp tập nói, kết quả thường là trẻ chỉ có thể lập lại, nhại lời hay cùng lắm là hỏi gì đáp nấy bằng những từ đơn hay từ đôi cụt lủn chứ không tự chủ nói ra một câu hoàn chỉnh.
Hãy thử nghe một mẩu đối thoại :
- Con nhìn đây, cái gì đây ? …cái nhà ! Yeah, giỏi lắm, con gì đây ? Con vịt… Yeah giỏi lắm …..Con muốn ăn gì ? …con muốn ăn gì ? … Không, cô hỏi : Con muốn ăn gì ? con phải nói : ...Con ăn bánh . lập lại ..con muốn ăn gì – con ăn bánh … Không, con chỉ trả lời, không nhắc lại câu hoi của cô , lập lại …. Nghe có quen không ?
Thực ra, trước khi tập nói, các em cần được phát triển những kỹ năng không lời hay còn gọi là kỹ năng “tiền lời nói”. Những kỹ năng không lời này bao gồm :
• Biết sử dụng đồ vật, Hình thành khả năng bắt chước, Kỹ năng nhìn vào đồ vật người khác chỉ, sau đó chỉ vào đồ vật để làm người khác chú ý.
• Quan trọng nhất là kỹ năng luân phiên ( chơi và hoạt động lần lượt với mẹ, giáo viên và sau đó là trẻ khác.)
Chúng ta biết rằng, để khám phá môi trường, trẻ cần phải biết cách sử dụng đồ vật. điều đầu tiên là trẻ cần biết đồ vật vẫn tồn tại tuy không còn nhìn thấy nữa. ( chính vì không biết điều này nên nhiều trẻ VIP không thích thay đổi vị trí các đồ dùng, còn đồ chơi thì xếp theo đúng 1 trình tự, hay 1 hàng thẳng và tỏ ra hoảng sợ khi thấy mọi thứ biến mất trong bóng tối ! ) Để xác định trẻ có kỹ năng này hay không, cha mẹ/GV có thể đặt đồ chơi trước mặt trẻ và khi trẻ tỏ ra chú ý đến đồ chơi đó, ta trải miếng vải phủ lên trên đồ chơi và đợi phản ứng của trẻ.
Nếu trẻ ý thức rằng đồ chơi vẫn còn ở đó thì sẽ có phản ứng như lấy ra miếng vải để tìm lại đồ chơi phía bên dưới. Nhưng nếu trẻ không nhận ra điều đó, sẽ quay đi tìm món đồ chơi khác. Trong trường hợp trẻ đã trên 3 tuổi mà vẫn còn không biết cách chơi với đồ vật và thường cho vào miệng cắn, cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển bước kế tiếp, đó là chơi với đồ vật theo hình dáng/chức năng hoặc làm mẫu cách chơi với đồ chơi một cách thích hợp :
Ví dụ : như đẩy cho xe chạy, chải tóc cho búp bê, ném banh). Bước này quan trọng để giúp trẻ bắt đầu khám phá đồ vật một cách thích hợp hơn.
Sau khi trẻ biết chơi với từng món đồ chơi một, trẻ cần chơi với hai đồ vật cùng một lúc như quậy muỗng trong ly, cho búp bê bú bình sữa v.v… Kế tiếp, trẻ sẽ được tập chơi theo trình tự, nghĩa là chơi theo thứ tự như cho búp bê bú, lau miệng cho búp bê, đặt búp bê lên giường ngủ…Tất cả hoạt động này, trẻ sẽ học bằng cách bắt chước người chơi với mình. Chúng ta nên biết rằng, mỗi một hoạt động sẽ phải trải qua 3 giai đoạn :
• Giai đoạn người dạy làm mẫu và khuyến khích trẻ nhìn và làm theo.
• Giai đoạn trẻ và người dạy cùng làm ( đây là giai đoạn dài nhất )
• Giai đoạn trẻ có thể tự làm, người dạy khuyến khích.
Đối với trẻ chưa biết bắt chước, Người dạy : ND( Giáo viên/ cha mẹ ) có thể tập khả năng bắt chước qua những hành động tay chân trước, như nhảy lên nhảy xuống hoặc vỗ tay; khi trẻ thích bắt chước hành động, ND có thể giúp trẻ bắt chước lè lưỡi ra, đưa đầu lưỡi lên, cười, phồng hai má ra, v.v… Đây là một cách tập phối hợp bắp cơ miệng để sau này tập nói. Đồng thời có thể khuyến khích trẻ tập bắt chước tiếng nói đơn giản như là “a a, ba ba”.
Một cách khác giúp trẻ bắt chước là ND bắt chước các hành động của trẻ trước. Nếu trẻ nói a a, thì ND nói theo a a. Nếu trẻ lên xuống giọng nói, cha mẹ lặp lại y chang như vậy. Có thể soi gương cùng với trẻ để giúp trẻ chú ý và thích thú bắt chước. Sau khi đã bắt chước trẻ và tạo sự chú ý cho bé, ta có thể chủ động lặp lại những hành động đó để trẻ làm theo.
Chỉ đến khi trẻ đã làm theo một cách vui vẻ, chúng ta mới bắt đầu đưa vào những hoạt động can thiệp tiếp theo mà chúng ta muốn trẻ làm một cách đơn giản và phải nhắc lại nhiều lần để trở thành một thói quen.
Như vậy thông qua món đồ chơi làm vật trung gian, chúng ta giúp cho trẻ tạo mối quan hệ tương tác giữa con và bố mẹ. Đó gọi là “tam giác giao tiếp” cần thiết cho chương trình can thiệp sớm cho trẻ. TRẺ - ĐỒ CHƠI – NGƯỜI DẠY.
Để tập nhận biết, lưu hình ảnh của vật vào trí nhớ, dùng làm vốn từ để cho giai đoạn nói ra sau này , Trẻ cần tập kỷ năng nhìn vào đồ vật mà người dạy chỉ vào và biết chỉ tay vào đồ vật để phát triển ngôn ngữ. Thông thường, khi trẻ có nhu cầu muốn lấy một vật gì, thường là nắm lấy cánh tay của bố mẹ, kéo đến gần vật muốn lấy và bố mẹ phải đoán được nhu cầu của trẻ.
Vì vậy, khi trẻ tỏ ra có nhu cầu và phụ huynh hay giáo viên “đoán được” thì thay vì đợi trẻ kéo tay đến gần vật muốn lấy, ta sẽ dùng tay để chỉ vào vật đó và hỏi trẻ bằng một từ ngắn gọn: Bánh? Sữa? ly? chén? ( nói ra tên vật mà trẻ chỉ vào) Khi trẻ chấp nhận và nhìn vào vật muốn lấy, ta sẽ lấy cho bé và nhắc lại : con uống sữa, sữa nè… để trẻ dần dần nhớ được từ mà mình muốn dạy cho trẻ nhớ.
Trong trường hợp trẻ nắm tay ND để kéo đến vật muốn lấy ( mà trẻ không tự lấy được) thì ND sẽ khéo léo chuyển cánh tay để dùng bàn tay nắm lấy cánh tay của trẻ và kéo tay trẻ chỉ vào vật mà trẻ muốn lấy, đồng thời nói to tên của vật đó ( lập lại nhiều lần ) để sau vài lần chỉ như vậy thì trẻ sẽ nhận ra tên của vật đó. Khi đã biết tên, và biết chỉ tay thì lúc đó mới yêu cầu trẻ nói lên tên của vật ( sau khi đã nghe ND nói nhiều lần )
Như vậy kỹ năng nhìn vào đồ vật mà người khác đang chỉ và chỉ vào đồ vật để làm người khác chú ý. Sẽ là cơ sở để trẻ hình thành nhu cầu giao tiếp và sau đó là kỹ năng ngôn ngữ.
Những trẻ hiểu được ý nghĩ của người khác sẽ giao tiếp dễ dàng hơn. Nói một cách khác, nên tạo ra “tam giác giao tiếp” một đầu là người nói, đầu thứ hai là trẻ và đầu thứ ba là đồ vật. Những “tam giác giao tiếp” thông qua các trò chơi tương tác là cách tốt nhất cho trẻ học ngôn ngữ. Khi giao tiếp với trẻ, nên tạo ra nhiều cơ hội có “tam giác giao tiếp,” nghĩa là cha mẹ và con tập trung vào một việc. Những lúc tập trung với nhau như vậy không cần lâu, đôi lúc chỉ là 1-2 phút nhưng càng nhiều lần như vậy, trẻ càng tiếp thu nhiều hơn.
Nguồn : ST
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Telephone
Website
Address
21/3 Đường Yersin, Tổ 4, Khu 1, P. Phú Cường, Tp. Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
Thu Dau Mot
590000