Hán-Việt Thông Dụng

Hán-Việt Thông Dụng

You may also like

In Hình Nhãn Vở
In Hình Nhãn Vở

Chuyện về những từ thông dụng của người Việt hoá ra lại là từ Hán-Việt!

15/12/2023



(Nguồn ảnh chụp: Admin)

Địa điểm: đình làng Dư Khánh, thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận
--

VÒNG QUANH NƯỚC VIỆT - KÌ 21: ĐÌNH LÀNG DƯ KHÁNH

Một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia với phần cổng tam quan rất bắt mắt. Đình làng Dư Khánh là công trình của người Việt, đúng theo "công thức" cây đa (cây da) mái đình, ngay phía trước đình là con đường Cây Da, đi dọc đường này về phía chợ Dư Khánh, đầm Nại sẽ bắt gặp miếu Võ Đế hội quán Quảng Đông của người Hoa, thường được gọi là chùa Ông Dư Khánh.

Cổng đình ghi câu đối, có dùng chữ dị thể so với cách viết thường dùng:

人傑地𩄇古往今來先梓里
物華天寳風淳俗美保馨香

Đọc là:
Nhân kiệt địa linh cổ vãng kim lai tiên tử lí
Vật hoa thiên bảo phong thuần tục mĩ bảo hinh hương

- nhân 人: người

- vật 物: vật

- kiệt 傑: kiệt xuất

- hoa 華: đẹp đẽ

- địa 地: đất

- thiên 天: trời

- linh 𩄇: linh thiêng

- bảo 寳: quý báu

- cổ vãng kim lai 古往今來: xưa nay qua lại tới lui

- phong thuần mĩ tục 風淳俗美: phong tục thuần hậu đẹp đẽ

- tiên 先: trước; lãnh đạo, cai quản

- tử lí 梓里: làng có cây tử, trong văn chương chữ Hán ám chỉ quê nhà

- bảo 保: gìn giữ

- hinh hương 馨香: hương thơm toả ngát.

Nghĩa nôm na là:
Xưa nay người tài giỏi tới lui nơi đất linh thiêng này để cai quản quê nhà, những thứ (sự vật, cảnh vật) đẹp đẽ là báu vật trời ban, phong tục thuần hậu đẹp đẽ giữ gìn hương thơm toả ngát.

Tỉnh Ninh Thuận nguyên là đất của tiểu quốc Pāṇḍuraṅga (पाण्डुराग) của Champa. पाण्डुराग phiên âm sang tiếng Việt thành "Phan Rang", kí âm bằng chữ Hán là "Phan-lang" 潘郎. Những người Việt đến đây khẩn hoang, lập làng xã vốn là dân di cư từ vùng khác. Sau một vài thế hệ được sinh ra tại đây, họ bắt đầu xem vùng đất hiền hoà an cư lạc nghiệp này chính là quê nhà của mình. Đình làng là một trong những nét văn hoá được người Việt gìn giữ trong quá trình nam tiến.

- Ung Chu -

13/12/2023



Lĩnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam có khá nhiều từ mượn dịch (calque) tiếng Anh đặc sắc, bên cạnh việc mượn nguyên văn tiếng Anh hoặc tham khảo tiếng Trung Quốc.

Trước đây trong cùng chuyên mục, ta cũng đã bắt gặp một số tổ hợp Hán-Việt được dùng để calque tiếng Anh trong lĩnh vực này: "giao diện" 交面 (interface), "trình duyệt" 呈 + 閱 (web browser), "dữ liệu" 與料 (datum - data), "viễn thông" 遠通 (telecommunication), "đa phương tiện" 多方便 (multimedia), "tải" 載 (load, download, upload), "ngoại tuyến" 外線 (offline), "tài khoản" 財款 (account) mượn thuật ngữ "tài khoản" - "account" của ngành ngân hàng...

"Truy cập" 追及 là cách người Việt dịch "access" tiếng Anh, từ gốc sâu xa tiếng Latin "accedo" (adcedo) kết hợp "ad" và "cedo":

- ad: tới, đến, hướng về, dịch bằng "cập" 及 nghĩa là đến, tới

- cedo: đi, tiến lên, đuổi theo, dịch bằng "truy" 追 nghĩa là đuổi theo.

Người Trung Quốc gọi là "tồn thủ" 存取. "Tồn" 存 ý nói bộ nhớ ("tồn trữ khí" 存儲器), "thủ" 取 là lấy.

"Random access" ta dịch là "truy cập ngẫu nhiên", tiếng Trung Quốc gọi là "tuỳ cơ tồn thủ" 隨機存取. "Data access" ta dịch là "truy cập dữ liệu", tiếng Trung Quốc là "số cứ tồn thủ" 數據存取. "Sequential access" ta dịch là "truy cập tuần tự", tiếng Trung Quốc là "tuần tự tồn thủ" 循序存取...

- Ung Chu -

13/12/2023



Người làm nghề giúp việc còn được người Việt gọi là "ô-sin". Cách gọi này xuất phát từ nhân vật "Oshin" おしん làm giúp việc giữ trẻ khi mới 7 tuổi trong bộ phim truyền hình dài tập "Oshin" おしん của Nhật Bản.

Bộ phim này từng rất nổi tiếng khi chiếu tại thị trường Việt Nam cách đây gần 30 năm. Nhân vật chính tên là Tanokura Shin 田倉しん. Trong tiếng Nhật, tiền tố "o-" お nhằm biểu hiện sự kính trọng, mang sắc thái lịch sự, hoặc sắc thái bình thường nhưng nếu bỏ "o-" お thì không lịch sự. Ví dụ, con ma là "o-bake" お化け, trà là "o-cha" お茶, cơm nắm là "o-nigiri" お握り, tiền là "o-kane" お金...

- Ung Chu -

13/12/2023



Nói về vật dụng nấu ăn truyền thống của người Khmer nói riêng và các địa phương Tây Nam bộ có giao lưu với người Khmer nói chung, thì ngoài cái cà ràng ("kraan" ក្រាន hay "cheung kraan" ជើងក្រាន hay "chang kraan" ចង្ក្រាន) là bếp lò bằng đất nung thì còn có cái cà om là nồi đất nung.

CÀ OM

Gốc Khmer: ក្អម
Latin hoá: k'am
Mô tả cách phát âm: k om (dấu cách là tắc nghẽn hơi, không đọc nối)

Bạn có thể về Tri Tôn, An Giang để xem bà con người Khmer làm cà ràng, cà om. Những cái cà om được tạo hình mà không cần dùng đến bàn xoay, nên rất dễ thấy hình dáng không tròn hoàn hảo. Nhưng chính những sự không hoàn hảo này tạo cho cà om vẻ mộc mạc thân thương.

Xưa nay cà om hay cà ràng không chỉ có người Khmer sử dụng, mà không ít người Kinh, người Hoa cũng xài, nếu vẫn giữ thói quen nấu nướng bằng dụng cụ đất nung thay vì bếp ga, nồi kim loại...

- Ung Chu -

13/12/2023



Nhựa phíp là dạng vật liệu được tạo ra với cách dùng nhiệt và áp suất lên các lớp giấy hoặc vải đã được ngâm tẩm nhựa phenol. Loại nhựa này có các lớp mỏng, thường là giấy, vải bông, vải sợi tổng hợp, sợi thủy tinh hoặc vải không dệt.

"Phíp" là phiên âm từ gốc tiếng Pháp "fibre" nghĩa là sợi, cũng có người gọi là "sợi phíp".

- Ung Chu -

12/12/2023

- trừng 懲: răn đe, răn bảo, trách phạt khi người ta có lỗi, chữ này mang bộ "tâm" 心 (tim, lòng) và kí âm bằng chữ "trưng" 徵

- trị 治: trị tội, xử tội.

"Trừng trị" 懲治 là hành động răn đe xử tội ai đó, để họ không dám tái phạm nữa. Tức là hành động trừng trị có tính răn đe.

- Ung Chu -

12/12/2023



Ngày xưa, người dân ở vùng văn hoá Hán tự dùng chữ "chính" 政 hoặc chữ "trị" 治 để nói về hành động bố chính trị nhân trị quốc trị sự, cách hiểu hẹp hơn thứ mà nay ta gọi là "chính trị". Đến khi người Nhật tiếp xúc với tri thức phương Tây, thấy được những cái mới, định nghĩa mới có thể dùng để khái quát hoá, họ dùng tổ hợp "chính trị" 政治 để gắn cách hiểu này, ứng với các thuật ngữ phương Tây.

Người Nhật đã thấy khái niệm chính trị của phương Tây có nét tương đồng với "chính" 政 và "trị" 治 của Đông Á nên tạo thành tổ hợp "chính trị" - "sei-ji" 政治 (せいじ) và quy ước gán cách hiểu của quốc tế vào đó. Tức là khi định nghĩa học thuật về chính trị thay đổi thì định nghĩa của "chính trị" 政治 cũng thay đổi theo, chứ không bị gò bó trên mặt ngữ nghĩa của "chính" 政 và "trị" 治. Do đó nếu ai chỉ chăm chăm "chiết tự" 2 chữ 政 và 治 để đưa ra "định nghĩa" về chính trị là sai nhé.

Thuật ngữ "chính trị" 政治 của tiếng Nhật lan ra khắp vùng văn hoá Hán tự, tiếng Okinawa đọc là "shī-ji" しーじ, tiếng Hàn/Triều Tiên đọc là "jeong-chi" 정치, tiếng Việt mượn tiếng Trung Quốc.

- Ung Chu -

12/12/2023



VALENCE - HOÁ TRỊ

Hoá trị là con số biểu thị khả năng liên kết của nguyên tử nguyên tố này với nguyên tử nguyên tố khác. Hoá trị của một nguyên tố được xác định theo hoá trị của H chọn làm đơn vị và hoá trị của O là hai đơn vị.

"Hoá trị" 化值 là thuật ngữ ta cải biên từ tiếng Trung Quốc "hoá hợp giá" 化合價, có thể hiểu là giá trị hoá hợp (hợp 合: kết hợp). Tiếng Nhật gọi là "nguyên tử giá" - "gen-shi-ka 原子価 (げんしか), tiếng Hàn chuyển ngữ là "won-ja-ga" 원자가.

- Ung Chu -

11/12/2023

- định 定: quyết định

- đoạt 奪: quyết định.

"Định đoạt" 定奪 nói chung là quyết định. Nhưng 2 Hán tự trên còn các nét nghĩa khác nữa, trong đó người Việt đã Việt hoá "định" 定 với nghĩa quyết định (số trời đã định), xác định (ngày giờ đã định), quyết sẽ làm (định làm gì đó), và Việt hoá "đoạt" 奪 với nghĩa đoạt lấy, cướp lấy, giành lấy.

- Ung Chu -

11/12/2023



Có không ít từ Hán-Việt nghe có vẻ không phải là thuật ngữ khoa học lắm nhưng hoá ra được công nhận là "Hoà chế Hán ngữ" - "Wasei-kango" 和製漢語 (từ vựng chữ Hán do người Nhật chế ra) và được dùng nhiều trong ngữ cảnh khoa học.

"Cố định" 固定 là một từ như thế. Một trong những văn bản sớm nhất ghi nhận từ "cố định" - "ko-tei" 固定 (こてい) ở dạng động từ "kotei-shi" 固定し là tác phẩm "Chemie khai tông" - "Sei-mi kai-sō" 舍密開宗 (セイミかいそう) nửa đầu thế kỉ 19 cuối thời Edo do nhà Tây học Udagawa Yōan (宇田川 榕菴) dịch phiên bản tiếng Hà Lan của tác phẩm "An Epitome of Chemistry" (1801).

- cố 固: bền, vững, làm cho vững, như trong "kiên cố", "gia cố", "cố chấp", "thâm căn cố đế"

- định 定: yên định, làm cho yên.

Đây là từ vựng dùng chung của vùng văn hoá Hán tự. Tiếng Hàn đọc là "go-jeong" 고정, tiếng Việt mượn tiếng Trung Quốc.

- Ung Chu -

11/12/2023



Một ngạn ngữ quen thuộc với người Việt:

有緣千里能相遇
無緣對面不相逢
Hữu duyên thiên lí năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng

- hữu duyên 有緣: có duyên

- thiên lí 千里: ngàn dặm

- năng 能: có thể

- tương ngộ 相遇: gặp nhau, hội ngộ, cũng có dị bản dùng "tương hội" 相會

- vô duyên 無緣: không có duyên

- đối diện 對面: đối mặt

- bất 不: không

- tương phùng 相逢: gặp nhau.

Ngạn ngữ này ý nói những người có duyên gặp gỡ thì ắt sẽ gặp gỡ, dù có cách xa về địa lí thì có ngày họ sẽ tìm thấy nhau, còn những người không có duyên thì dù có đi ngang qua nhau cũng không gặp gỡ, chỉ là người lạ.

- Ung Chu -

11/12/2023



Thành ngữ "quân tử trả thù, mười năm chưa muộn" được dịch từ gốc Hán "quân tử báo cừu, thập niên bất vãn" 君子報仇,十年不晚:

- cừu 仇: thù hằn, thù oán, mối thù, như trong "cừu thù"

- vãn 晚: muộn, chiều muộn, đêm muộn (trái với sớm, sáng sớm), "muộn" là âm Hán-Việt xưa của nó theo phiên thiết, trước khi người Việt quy ước tổ hợp phụ âm đầu /mw/ sau khi phiên thiết tỉnh lược thành /w/ trong tiếng Việt trung đại (tiếng Quan thoại cũng quy ước điều tương tự) và phát triển thành "v" /v/ tiếng Việt hiện đại.

Thành ngữ này xuất phát từ điển cố trong "Sử kí" 史記 của Tư Mã Thiên 司馬遷. Chuyện kể Phạm Thư 范雎 là bậc quân tử, bị người ta đố kị mà đặt điều nói xấu tới tai Nguỵ Tề 魏齊, Nguỵ Tề sai đánh Phạm Thư nhừ tử vì Phạm Thư không chịu nhận tội. Nhưng Phạm Thư vẫn còn sống, tìm cách trốn đi, sống cuộc đời mai danh ẩn tích. Nguỵ Tề tuy không thấy xác Phạm Thư nhưng nghe chuyện gia đình họ Phạm tổ chức tang lễ, nên nghĩ mình đã xử lí xong xuôi, chó hoang chim rừng đã rỉa sạch. 10 năm sau, thời cơ chín muồi, Phạm Thư trả thù Nguỵ Tề.

- Ung Chu -

10/12/2023



Na Uy là quốc gia châu Âu tiếp giáp Thuỵ Điển, Phần Lan, Nga, nằm cách Đan Mạch qua một eo biển. Người Việt bảo lưu khá nhiều tên Hán-Việt của các quốc gia châu Âu, mượn tiếng Trung Quốc.

"Na Uy" 挪威 ta cũng mượn tiếng Trung Quốc phiên âm "Norway" tiếng Anh. Na Uy là một trong những nơi trên thế giới có thể quan sát được hiện tượng bắc cực quang (aurora borealis) như trong hình của bài này.

Có bạn nào đã từng tận mắt chứng kiến cực quang chưa?

- Ung Chu -

10/12/2023

[Góc brand]

GONG CHA - CỐNG TRÀ

Gong Cha là brand giải khát thành lập tại Đài Loan. "Gong Cha" là Latin hoá dựa trên pinyin tiếng Quan thoại của tên brand này là "gòngchá" 貢茶 (HV: cống trà) nghĩa đen là trà mang dâng cống.

Bạn phát âm tên brand này như thế nào? :v

- Ung Chu -

--
Đây là chuyên mục thường thức thuyết minh các brand trong vùng văn hoá Hán tự có dùng yếu tố gốc Hán. Mọi người đừng hỏi vì sao Admin không dịch "brand" sang tiếng Việt nha. :v

09/12/2023



(PHENOTYPIC) TRAIT - CHARACTER STATE - TÍNH TRẠNG

Tính trạng là hững đặc điểm về hình thái, cấu tạo, sinh lí, sinh hoá, di truyền... bên ngoài, bên trong cơ thể mà nhờ đó sinh vật phân biệt giữa cá thể này với cá thể khác. Ví dụ cây đậu Hà Lan (Hoà Lan) có các tính trạng thân cao, quả xanh lục, hạt vàng... Cặp tính trạng tương phản là hai trạng thái biểu hiện trái ngược nhau của cùng loại tính trạng, ví dụ hạt trơn và hạt nhăn, thân cao và thân thấp...

- tính 性: tính chất, đặc tính

- trạng 狀: hình trạng.

"Tính trạng" 性狀 là thuật ngữ ta mượn tiếng Trung Quốc. Tiếng Nhật gọi là "hình chất" - "kei-sh*tsu" 形質 (けいしつ), tiếng Hàn chuyển ngữ là "hình chất" - "hyeong-jil" 형질.

- Ung Chu -

09/12/2023



ADVERBIAL - TRẠNG NGỮ
ADVERB - PHÓ TỪ - TRẠNG TỪ

"Trạng ngữ" 狀語 là thuật ngữ ta mượn tiếng Trung Quốc, ứng với tiếng Anh "adverbial", trạng ngữ là thành phần bổ nghĩa cho thành phần chính trong câu, thường miêu tả thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, phương tiện, cách thức, mục đích, kết quả... Trạng ngữ có thể là 1 từ (adverb - nên người Việt có cách gọi adverb là "trạng từ"), 1 cụm, 1 mệnh đề. "Trạng" 狀 nghĩa là miêu tả.

"Trạng từ" 狀詞 là cách gọi của riêng tiếng Việt, là một cách dịch tiếng Anh "adverb", tiếng Trung Quốc gọi là "phó từ" 副詞 (phó 副: thứ yếu, không phải chính). Ta cũng mượn "phó từ", ứng với tiếng Anh "adverb". Vậy thì "trạng từ", "phó từ" khác nhau ra sao?

Theo giáo trình của Bộ GD&ĐT, "phó từ" được dùng để gọi một nhóm hư từ "chuyên đi kèm động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ": đã, đang, cũng, vẫn, chưa, thật, lắm, được, rất... Đây cũng chính là cách hiểu "phó từ" 副詞 của tiếng Trung Quốc.

Vấn đề là đây, thuật ngữ "phó từ" của tiếng Việt và tiếng Trung Quốc chỉ xét các hư từ và các thực từ được hư hoá (ngữ pháp hoá), mang ý nghĩa ngữ pháp tổng quát. Trong khi đó, adverb của tiếng Anh bao hàm các hư từ và một nhóm từ phái sinh từ adjective (tính từ), mang ý nghĩa từ vựng dựa trên adjective gốc. Vì adjective là thực từ, nên các adverb phái sinh này cũng là thực từ. Nhóm thực từ phái sinh này có thể gọi là "trạng từ" để tránh nhập nhằng với cách hiểu "phó từ" của ngữ pháp tiếng Việt, tiếng Trung Quốc.

"Trạng từ" là một thuật ngữ thường không được dùng để mô tả ngữ pháp tiếng Việt, tiếng Hoa, vì tính từ tiếng Việt hay "hình dung từ" 形容詞 tiếng Hoa không có phương pháp biến hình để trở thành dạng chuyên bổ nghĩa cho động từ như các ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Nhật... Nói cách khác, tuy bổ nghĩa cho động từ, nhưng các "trạng từ" của tiếng Việt và tiếng Hoa cũng chính là phiên bản tính từ và "hình dung từ" 形容詞 "nguyên mẫu":

- Cô ấy rất đẹp. (She is very beautiful) → "rất" (very) là phó từ, bổ nghĩa cho tính từ "đẹp" (beautiful).

- Cô ấy viết rất đẹp. (She writes very beautifully) → lẽ ra "đẹp" ở đây tương ứng adverb "beautifully", nhưng đối với tiếng Việt thì vai trò "trạng từ" là lâm thời, và nếu nhìn nhận độc lập thì "đẹp" là tính từ.

Trong tiếng Anh, "very" kể trên là adverb, mà "beautifully" cũng là adverb, và "very" có khả năng bổ nghĩa cho các adverb dạng "beautifully". Ta có thể gọi "very" là phó từ, "beautifully" là trạng từ.

Tiện thể nói, phép so sánh số lượng mục từ trong từ điển của 2 ngôn ngữ để "phân bì" xem ngôn ngữ nào "giàu có" hơn là một diễn ngôn ngớ ngẩn. Chẳng hạn, các tính từ của tiếng Việt có thể trực tiếp dùng để bổ nghĩa cho động từ giống như vai trò adverb của tiếng Anh, trong khi đó rất rất nhiều adjective của tiếng Anh có thể phái sinh thành adverb bằng cách biến hình (như thêm hậu tố: -ly, -ally), và mỗi adverb này được xem là 1 từ. Và thực tế về bản chất thì đây cũng là các từ: kính viễn vọng vô tuyến, máy rút tiền tự động, phương tiện bay không người lái...

- Ung Chu -

08/12/2023

ĐÁP ÁN BÀI TẬP VỀ NHÌN

Chú thích ảnh: Lịch diễn "Ngày xửa ngày xưa" của Sân khấu kịch Idecaf (trái) và sơ đồ chỗ ngồi tại buổi diễn của Không gian kịch nói sinh viên - Đội kịch CKT Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (phải).

--
Đề bài đợt kỉ niệm 941 ngày tuy ngắn gọn nhưng cũng gây không ít khó khăn cho bạn đọc (vì Admin cố ý chọn đề như thế đó). :v

Không để các bạn chờ lâu, đây là đáp án nhé:

1. Đơn vị cho buổi diễn kịch là "xuất" hay "suất"?

>>>>> xuất (齣)

"Xuất" 齣 là danh từ đơn vị gốc Hán sử dụng trong kịch, tuỳ mục đích sử dụng mà nó thể hiện các đơn vị khác nhau: vở, hồi, tấn, lớp... Trong một số ngôn ngữ vùng văn hoá Hán tự, nó cũng chuyển nghĩa ra khỏi khuôn khổ kịch. Như "Tự-điển Việt-Nam" (1970) ghi:

- xuất | Buổi, phiên, việc làm chung hằng ngày giới-hạn trong một khoảng thì-giờ nhứt-định: Hát hai xuất, học hai xuất; xuất đầu, xuất sau.

Hoặc trong tiếng Quan thoại có danh từ đơn vị "xuất tử" 齣子 để nói về số lần. Nhìn chung, "xuất" 齣 là đơn vị mô tả (khoảng) thời gian. Nó khác với đơn vị "suất" 率 không mô tả thời gian mà mô tả số phần được chia ra.

2. "Bà ba" trong "áo bà ba", "chè bà ba" là ai?

>>>>> Người Baba-Nyonya tại Malaysia, Singapore. Họ là "hậu duệ của con lai" giữa đàn ông người Phúc Kiến với phụ nữ bản địa tại bán đảo Mã Lai. Người miền Nam gọi họ là "Bà-ba". Trong 2 thế kỉ trước, người Bà-ba đến miền Nam làm ăn và để lại 3 dấu ấn nổi bật: (1) các công trình nhà phố kết hợp kinh doanh (shop house) do người Bà-ba xây tại Sài Gòn - Chợ Lớn với kiến trúc đặc trưng mà ta có thể bắt gặp tại Melaka, Pulau Pinang, Singapore, Kuala Lumpur, Phuket...; (2) áo bà ba ngày xưa nhập khẩu chất liệu vải bóng mà nam giới Bà-ba hay mặc; (3) chè bà ba học theo món bubur cha cha của người Bà-ba.

Kể từ làn sóng nam giới người Hoa gốc Phúc Kiến di cư đến các lãnh thổ ven eo biển Malacca (khu vực Nam Dương 南洋) vào thế kỉ 15 dưới chính sách của nhà Minh, Đông Nam Á đã sản sinh ra các cộng đồng con lai đặc biệt, không xem bản thân là người Hoa thuần tuý nữa. Họ được mô tả bằng cụm "orang Cina bukan Cina" trong tiếng Malay nghĩa là người Hoa nhưng không phải người Hoa. Đó là người Baba-Nyonya, tiếng Malay còn gọi họ là Peranakan Cina hay Peranakan Tionghoa.

Người Phúc Kiến xưa khi đến Malacca (tiếng Malay: Melaka) đã sinh con với phụ nữ Java (Chà Và), Batak, Bali, khiến Melaka là cái nôi của người Baba-Nyonya. "Baba" là một danh xưng dành cho đàn ông, được cho là có gốc "bâbâ" بابا tiếng Ba Tư (dùng để gọi cha) mà người Malay vay mượn thông qua tiếng Hindi của người Ấn Độ. "Nyonya" (phát âm: nhô nha) là danh xưng dành cho phụ nữ, trong tiếng Malay/Indonesia (tiếng Java "nyonyah") dùng để gọi người phụ nữ "nước ngoài" đã có chồng. Hậu duệ của họ phát triển các nét văn hoá riêng, và ngôn ngữ là sự lai tạp giữa tiếng Phúc Kiến và tiếng Malay, nay gọi là tiếng Baba Malay.

3. "Chẳng đặng đừng" hay "chẳng đặng dừng" là cách người Việt mượn dịch (calque) từ gì trong Hán ngữ?

>>>>> "bất đắc dĩ" 不得已

- bất đắc 不得: chẳng được, chẳng nên, chẳng thể.

- dĩ 已: đã, như "dĩ vãng" là đã qua, "dĩ nhiên" là (vốn) đã như vậy rồi. Nghĩa khác là dừng, ngừng, thôi, ngớt (thực chất người Việt xưa cũng gọi là "đã").

"Bất đắc dĩ" 不得已 nghĩa là không thể thôi làm việc gì vì không còn cách nào khác. Sử dụng tư duy của người Việt hiện đại, ta sẽ khó hiểu "chẳng đã" và "cực chẳng đã" nghĩa là gì. "Đã" ở đây nghĩa là dừng, ngừng, thôi, ngớt.

Người Việt cũng calque "bất đắc dĩ" 不得已 thành "chẳng đặng đừng" hay "chẳng đặng dừng". "Đặng" đồng nghĩa với "được", ví dụ "hết yêu nhau mà bỏ nhau không đặng". "Được" là âm Việt hoá của "đắc" 得 thông qua trung gian âm Hán-Việt xưa phiên thiết "đức" ("đức" > "đực" > "được" hoặc "đức" > "đước" > "được").

"Đừng" ở đây là âm gốc của "dừng", ví dụ "cây muốn lặng mà gió chẳng đừng" mà ta thường thay bằng "dừng", "ngừng". "Đừng" là âm Việt hoá của chữ Hán "đình" 停 nghĩa là dừng, ngừng. "Ngừng" là âm Việt hoá của chữ "ngưng" 凝 nghĩa là ngưng đọng, dừng.

4. Tên gọi cái máy "bộ đàm" mượn dịch từ gì trong tiếng Anh?

>>>>> walkie-talkie

"Bộ đàm" 步談 là từ ta mượn tiếng Trung Quốc "bộ đàm cơ" 步談機 (cơ 機: máy). Đây là cách người Trung Quốc mượn dịch (calque) tiếng Anh "walkie-talkie" từ gốc "walk" là bộ hành và "talk" là đàm thoại.

5. Hãy cho biết nghĩa đen của tên các loài hoa sau: cẩm chướng, diên vĩ

>>>>> "Cẩm chướng" là biến thể của "cẩm trướng" 錦帳 nghĩa là cái trướng gấm. "Diên vĩ" 鳶尾 nghĩa là đuôi chim diều.

Do hiện tượng phát âm không rạch ròi "tr - ch" mà "trướng" 帳 nảy sinh biến thể "chướng", như ghi nhận trong một từ điển năm 1970: chướng | Trướng. Bức lụa dài có chữ đề chúc: Tấm chướng, bức chướng. Hoa cẩm chướng có bản địa là khu vực Địa Trung Hải, được người Pháp du nhập vào Việt Nam đầu thế kỉ 20. Có người Việt gọi nó là hoa phăng, "phăng" ý nói Pháp, phiên âm từ gốc "France / français".

6. Từ đâu mà có tên động vật "ba khía"?

>>>>> tiếng Triều Châu - Sán Đầu "bhua1 ki5" 蟛蜞

7. Hãy tìm ra từ mượn tiếng Pháp (trong ngoặc là ý nghĩa):

- sen đầm (hiến binh) >>>>> gốc Pháp "gendarme"

- lê dương (lính đánh thuê người ngoại quốc trong quân đội Pháp) >>>>> gốc Pháp "légion"

- ma bùn (gàn dở) >>>>> gốc Pháp "maboul"

- sầu riêng (tên thực vật) >>>>> gốc sâu xa là tiếng Malay "durian"

- ma cô (người mối lái giữa người mại dâm và khách mua dâm) >>>>> gốc Pháp "maquereau"

- Ki-tô (Cơ Đốc) >>>>> Từ cách nay 4 thế kỉ, lấy mốc "Thiên Chúa Thánh giáo khải mông" 天主聖教啓蒙 (1623) do cha Girolamo Maiorica (tiếng Bồ Đào Nha: Jerônimo Majorica; chữ Nôm: "Mai-ô-lí-ca" 梅烏理哥) biên soạn bằng chữ Nôm, "Ki-ri-xi-tô" (tiếng Bồ Đào Nha: Cristo) trước khi rút gọn thành "Ki-tô" vào thế kỉ 20, được ghi chữ Nôm là 基移吹蘇 tại Đàng Trong (lúc này lãnh thổ Đại Việt chỉ mới kéo đến khoảng Bình Định - Phú Yên). Giữa thế kỉ 20, Việt Nam thống nhất dùng dạng rút gọn là "Ki-tô", điều này tương tự cách thức người Hoa rút gọn "Cơ-lợi-tư-đốc" 基利斯督 thành "Cơ Đốc" 基督 theo kiểu của người Nhật.

- tạ (đơn vị khối lượng) >>>>> từ mượn tiếng Triều Châu phát âm đơn vị "đảm" 擔, 1 擔 = 100 "cân" 斤.

8. Vì sao gọi là bí ngô?

>>>>> Bí ngô là thực vật được du nhập vào nước ta từ nhiều thế kỉ trước. Ở thời này, người Việt dùng từ "Ngô" 吳 để nói về xứ sở và con người Trung Hoa, lấy từ tên 1 quốc gia (còn gọi Đông Ngô 東吳) thời Tam Quốc. Đông Ngô nằm ở phía Nam Trung Hoa, phía Nam sông Trường Giang (Dương Tử), từng kiểm soát vùng Giao Châu 交州 là lãnh thổ của tổ tiên người Việt (phía Bắc lãnh thổ Champa).

9. Gốc của "úm ba la" là ngôn ngữ nào?

>>>>> tiếng Phạn, đọc theo âm Hán-Việt

"Úm" 唵 phiên âm "oṃ" ॐ tiếng Phạn là một âm quan trọng trong thần chú của Phật giáo, hình chữ ॐ cũng xuất hiện tại nhiều chùa Phật giáo khắp Việt Nam. Từ tiếng "úm" này, người Việt ở một số nơi xem nó là tiếng mà các phù thuỷ (khái niệm của Đạo giáo), thầy cúng đọc khi làm phép. Khái niệm "phù thuỷ" 符水 (nghĩa đen là nước bùa, hoán dụ để gọi người làm nước bùa, làm phép) cũng được người Việt áp vào thứ tương tự ở phương Tây.

"Ba-la" 波羅 (ba-ra) cũng là âm thường gặp trong thần chú Phật giáo, dùng để phiên âm nhiều tổ hợp khác nhau của tiếng Phạn (pāra, pra...). Người Việt trong dân gian từ đó ghép thành thần chú "úm ba la" (úm ba ra) đã hơn trăm năm nay, dùng ngoài ngữ cảnh Phật giáo.

10. Xã luận là dạng bài thể hiện lập trường, quan điểm của tờ báo về các vấn đề quan trọng hoặc đang được quan tâm trong xã hội. Vì đại diện cho tiếng nói của tờ báo, xã luận được viết bởi các cây bút có tầm vóc của tờ báo đó, như các biên tập viên (khác với bài do phóng viên, cộng tác viên viết). Do đó nó được gọi là "editorial" trong tiếng Anh, dựa trên "editor" là biên tập viên. Hãy cho biết "xã" trong "xã luận" nghĩa là gì.

>>>>> "Xã luận" 社論 là thuật ngữ ta mượn tiếng Trung Quốc.

- xã 社: toà soạn báo hay tạp chí (người Trung Quốc gọi là "báo xã" 報社, "tạp chí xã" 雜誌社), thông tấn xã...

- luận 論: bàn luận.

Vì vậy, "xã luận" 社論 nghĩa là lời bàn luận của toà soạn, của cơ quan báo chí. Tiếng Nhật và tiếng Hàn gọi là "xã thuyết" 社說 / 社説, tiếng Nhật đọc là "sha-setsu" しゃせつ, tiếng Hàn đọc là "sa-seol" 사설.

Hẹn gặp mọi người vào dịp kỉ niệm 1000 ngày với bộ câu hỏi liên quan chủ đề Tết. :v

- Ung Chu -

07/12/2023



Tiểu tràng (ruột non) của người được chia thành 3 phần là tá tràng (duodenum), hỗng tràng (jejunum) và hồi tràng (ileum).

"Hồi tràng" 迴腸 / 回腸 (ruột quanh co) là từ mượn tiếng Trung Quốc và cũng là thuật ngữ dùng chung trong vùng văn hoá Hán tự. "Hỗng tràng" (hay "hổng tràng") là cách người Việt cải biên tiếng Trung Quốc "không tràng" 空腸 (ruột rỗng), "hổng" nghĩa là trống không. "Tá tràng" là cách người Việt cải biên tiếng Trung Quốc "thập nhị chỉ tràng" 十二指腸 (ruột 12 ngón tay), từ gốc tiếng Nhật "thập nhị chỉ tràng" - "jū-ni-shi-chō" 十二指腸 (じゅうにしちょう), mượn dịch (calque) tiếng Hà Lan "twaalfvingerige darm" nghĩa là ruột 12 ngón tay.

Tiếng Anh "duodenum" cắt ra từ tiếng Latin "duodenum digitorum" nghĩa là quãng 12 ngón tay, một phép so sánh độ dài của tá tràng. Vì 12 là 1 tá nên người Việt linh hoạt tạo thuật ngữ "tá tràng" để tiết kiệm ngôn ngữ. Đây (vô hình trung) là biểu hiện của nguyên tắc tiết kiệm trong ngôn ngữ (economy principle in languages).

"Tá tràng" là một từ hỗn chủng:

- tá: từ gốc tiếng Quảng Đông 打, họ cũng tiết kiệm ngôn ngữ bằng cách tỉnh lược 打臣 (Jyutping: daa1 san4) phiên âm "dozen" tiếng Anh, cách dùng 打 này của tiếng Quảng Đông cũng phổ biến ra các ngôn ngữ khác tại Trung Quốc với cách phát âm tương tự

- tràng/trường 腸: ruột.

Khi thiết kế 2 thuật ngữ "tá tràng" và "hỗng tràng" (hổng tràng), người Việt suy nghĩ phương án từ ngữ để tạo "cảm giác Hán-Việt" do đang theo ngữ pháp Hán ngữ. Và công tâm mà nói thì họ khá thành công khi "dịch" 2 thuật ngữ giải phẫu học này. Chúng ta cần nhận thức rằng phải có lí do đằng sau mà giới chuyên môn quyết định không dùng "không tràng" và "thập nhị chỉ tràng", và do đó không nên chê bai 2 thuật ngữ "tá tràng" và "hỗng tràng" (hổng tràng) vì giới chuyên môn đã quy ước với nhau như thế rồi.

- Ung Chu -

--
Từ hỗn chủng là hiện tượng xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới, khi ghép các yếu tố có gốc vay mượn thuộc những ngôn ngữ khác nhau để tạo từ vựng mới. Trong chuyên mục này, các yếu tố đọc bằng âm Hán-Việt sẽ được tô màu đỏ.

07/12/2023




WEIGHTLIFTING - CỬ TẠ

Tiếng Việt không gọi là "cử trọng" 舉重 (nâng nặng) như tiếng Trung Quốc mà "dịch" thành "cử tạ". "Tạ" là một đơn vị khối lượng (nặng so với sức của 1 người) và là tên của quả nặng bằng kim loại.

- cử 舉: nâng lên, nhấc lên

- tạ: từ mượn tiếng Triều Châu phát âm đơn vị "đảm" 擔, 1 擔 = 100 "cân" 斤.

Trong Hán ngữ, "đảm" 擔 là đòn gánh, gánh nặng, còn hành động gánh vác trên vai đòn gánh, gánh nặng, trách nhiệm đọc bằng âm khác là "đam" 擔 nhưng người Việt quen đọc là "đảm" như trong "đảm đương", "đảm nhiệm".

Vì nét nghĩa đòn gánh, người Hoa ngày xưa dùng "đảm" 擔 để làm đơn vị đo khối lượng, tương đương 100 cân, khoảng 60 kg (ngày nay người Hoa tại Trung Quốc chỉnh thành 50 kg, còn ở Đài Loan và Hong Kong vẫn giữ mức lần lượt là 60 kg và 60,478982 kg), ý so sánh với khối lượng người ta có khả năng gánh trên vai. 1 cân ngày xưa khoảng 600 g.

Từ rất lâu, người Việt đã có 1 yến bằng 10 cân. Với sự tiếp xúc người Hoa, người Việt có thêm 1 tạ bằng 100 cân, với "tạ" học theo cách người Triều Châu phát âm chữ "đảm" 擔 (Peng'im: daⁿ3), gần giống cách người Phúc Kiến đọc. Khi người Việt chuyển sang hệ gam, bấy giờ 1 cân tương đương 1 kg, do đó tạ cũng đổi thành 100 kg.

Từ đơn vị đo khối lượng nặng, người Việt mở rộng nghĩa của "tạ" để gọi các quả nặng (bằng kim loại) dùng trong võ thuật, thể dục thể thao.

- Ung Chu -

--
Từ hỗn chủng là hiện tượng xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới, khi ghép các yếu tố có gốc vay mượn thuộc những ngôn ngữ khác nhau để tạo từ vựng mới. Trong chuyên mục này, các yếu tố đọc bằng âm Hán-Việt sẽ được tô màu đỏ.

07/12/2023

Các công trình xây trên mặt nước hoặc bao quanh là nước thường được gọi là "thuỷ tạ":

- thuỷ 水: nước

- tạ 榭: nhà xây trên nền cao (đài, bệ, sàn...), tức là thay vì xây trực tiếp trên mặt đất thì sẽ làm một cái nền nâng lên rồi mới xây.

Các bạn hãy thử tìm kiếm chữ 水榭 lên trên mạng để xem hình ảnh minh hoạ trực quan.

- Ung Chu -

07/12/2023



Lâu rồi chuyên mục mới trở lại, tại bây giờ chủ yếu "tồn kho" các trường hợp Việt hoá tương đối phức tạp khi phân tích bằng tiếng Việt hiện đại nên Admin bị lười viết á. :v

"Giặc" dùng để gọi kẻ dùng bạo lực, vũ khí để đi cướp bóc (cướp nước, hại người cướp của...), và dùng để gọi kẻ làm hại, làm loạn. Đây cũng chính là 2 nét nghĩa của chữ "tặc" 賊 trong Hán ngữ. Liệu "giặc" và "tặc" 賊 có liên quan?

Chữ "tặc" 賊 kí âm bằng chữ "tắc" 則 và gợi nghĩa bằng chữ "qua" 戈 là tên vũ khí. Tiền thân của âm "giặc" hiện đại là cách đọc Hán-Việt xưa của chữ "tặc" 賊, khi người Việt xưa vẫn bám sát phụ âm đầu của Hán ngữ nhất có thể. Theo phiên thiết, chữ "tặc" 賊 mang âm đầu 從 /d͡z/ dành cho các thanh bậc trầm (huyền - ngã - nặng) là phiên bản hữu thanh của âm đầu 精 /t͡s/ dành cho các thanh bậc phù (ngang - hỏi - sắc). Sau này người Việt giảm số lượng âm đầu xuống bằng cách sáp nhập nhiều âm, thì cả 2 âm đầu trên đều biến thành "t" /t/ ("tòng/tùng" 從, "tinh" 精, "tặc" 賊) khiến tiếng Việt phát âm khác xa các ngôn ngữ khác trong vùng văn hoá Hán tự.

Âm phục dựng /d͡z/ của Hán ngữ có cách phát âm gần với "ch", và trong tiếng Việt xưa thì nó được xem là một biến thể âm vị của âm vòm hoá (palatalized) /kʲ/ - tiền thân của "gi" tiếng Việt hiện đại, mà các nhà truyền giáo phương Tây thế kỉ 17 vay mượn tổ hợp "gi" của tiếng Italia.

"Gi" thời tiếng Việt trung đại là âm [kʲ]~[gʲ], thời hiện đại là [z] (Bắc bộ), [ɟ] (Bắc Trung bộ), [j] (Nam Trung bộ và Nam bộ). Alexandre cho biết vì "gh" dựa trên tiếng Italia nên "gia, gio, giu, giơ, giư" cũng dựa trên tiếng Italia. Khi mới "tiến hoá" từ tiếng Latin, "gi" của tiếng Italia là biến thể vòm hoá [gʲ] của /g/ (tương đương "g" /g/ + "i" /i/~/j-/), về sau đã hoàn toàn biến âm và tách thành âm vị /d͡ʒ/ trong tiếng Italia như ngày nay.

Quay lại tiếng Việt, ta hình dung người Việt cổ đã sớm Việt hoá chữ "tặc" 賊 từ lúc còn phát âm nghe gần như "chặc" với biến thể khẩu ngữ *kyặc* (giặc) theo ngữ âm tiếng Việt xưa. về sau lưu truyền thành các cách phát âm "giặc" trong các phương ngữ như ngày nay với chính tả toàn dân là "giặc". Alexandre de Rhodes ghi nhận tiếng Việt nửa đầu thế kỉ 17:

- giạc giã: inimigos: hoſtes. đánh giạc: dar batalha: certamen inire. (đối với ngữ âm tiếng Việt thời này thì *kyặc* nghe rất giống *kyạc* do âm vòm hoá /ʲ/, gây mơ hồ cho Alexandre về trường độ của "a" /a:/ với "ă" /a/).

Tương quan của "chặc" với "giặc" cũng giống miền Trung có "giừ" và "chừ" với nghĩa "giờ". Hiện tượng vòm hoá [kʲ]~[gʲ] và/hoặc [tʲ]~[dʲ] biến âm tự nhiên thành âm "chờ" cũng xảy ra trong tiếng Quan thoại, tiếng Triều Tiên/Hàn Quốc, tiếng Nhật, tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới.

Trường hợp tưởng rằng tương tự nhưng có cơ chế khác biệt là "tạ" 謝 với nghĩa từ giã, cáo biệt, như trong "tạ thế", "tạ từ". "Giã" là âm Việt hoá của nó, thanh điệu thuộc khuôn khổ "huyền - ngã - nặng".

Trường hợp "giã" là biến âm tự nhiên từ âm đầu [tʲ], ta xem phiên thiết: âm đầu "tà" 邪 vần *myà > mè* 麻 (nay đọc là "ma") thanh trầm khứ (xưa nghe như thanh ngã của phương ngữ Bắc Trung bộ ngày nay, về sau như thanh nặng của phương ngữ Bắc bộ). Quá trình biến âm như sau: *tyã* > *kyã* (giã) > giã (âm hiện đại). Chính tả toàn dân viết "giã". Alexandre còn cho biết người Việt xưa cũng dùng "giã" với nghĩa tạ ơn, cảm tạ, là nét nghĩa khác của "tạ" 謝.

- giã: agradecer; gratias referre. chúa giã: el Rey agradece: gratias habet Rex. giã ơn: agradecer com corteſia: gratias agere comiter pro accepto beneficio, eſt vox communiter in vſu. giã ai: deſpedirſe de alguem: valedicere alicui, eo etiam loquẽdi modo vtuntur cm alicuius amicitiam deſerunt.

Còn ví dụ "giã ai" mà ông nêu chính là từ giã, tạ từ ai đó (tiếng Latin: valedicere).

- Ung Chu -

Want your school to be the top-listed School/college in Thi Nghè?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

bìm bịp
cuốc
diều hâu
tu hú

Location

Website

Address


Thi Nghè
Other Education Websites in Thi Nghè (show all)
Một đời An Nhiên Một đời An Nhiên
Quận Bình Thạnh
Thi Nghè

Nơi mà mọi người chia sẻ với nhau về quá trình học "làm cha mẹ".

Astrid - Learn English Faster Việt Nam Astrid - Learn English Faster Việt Nam
Thi Nghè

Cách nói tiếng Anh thú vị, dễ dàng và miễn phí 🚀↓ https://get.astrideducation.com/PEjj/FBVN

Ôn thi Tiếng Anh Ôn thi Tiếng Anh
45/4/10 Huỳnh Tịnh Của, P.19
Thi Nghè, 70000

Ôn thi Tiếng Anh là fanpage chuyên về chia sẻ kiến thức, giải đề thi Học Kỳ, đề thi Tốt nghiệp, đề thi Đại học môn TIẾNG ANH, giúp học sinh cấp 2, cấp 3 học tốt môn TIẾNG ANH.