19/08/2026
[Góc thẻ bài]
Một chuyên mục nhẹ nhàng để tìm hiểu một vài Hán tự qua các thẻ bài Clow (Clow Cards) và các thẻ bài trong suốt (Clear Cards) từ series ăn khách "Cardcaptor Sakura" カードキャプターさくら của Nhật Bản.
THE TIME
Hán tự: 時
Âm Hán-Nhật: "ji" じ
Âm Hán-Việt: thì / thời
Âm Hán-Hàn: "shi" 시
Phiên thiết:
- 市之切 = [th]ị + ch[i] = thì (trầm + bằng = trầm bằng = huyền)
- 市之切 = [j]i (じ) + sh[i] (し) = ji (じ)
- 市之切 = [sh]i (시) + j[i] (지) = shi (시)
"Thì" 時 trong Hán ngữ có nghĩa là giờ, thời xa xưa ở vùng văn hoá Hán tự chia một ngày thành 12 giờ ứng với "thập nhị chi" 十二支 (12 chi): Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Sau này, do kị huý Nguyễn Phúc Thì 阮福時 (Nguyễn Phước Thời) của hoàng đế Tự Đức 嗣德 nên tránh âm thành "thời". Khi tiếp nhận công cụ xác định thời gian chia 1 ngày thành 24 phần bằng nhau của phương Tây, vùng văn hoá Hán tự đổi 1 "thì / thời" 時 hay 1 "giờ" có độ dài tương ứng 1/24 của 1 ngày.
"Giờ" có gốc Hán "thì / thời" 時 và có thể gọi là âm "Việt hoá tiền Hán-Việt", tồn tại trước khi chuyển sang đọc là "thì / thời" 時. Nhưng vì sao Việt hoá mang âm đầu "gi"? Vì nhu cầu vay mượn từ để gọi giờ giấc nên ta có thể suy ra niên đại của việc vay mượn diễn ra rất sớm. "Thì" 時 mang âm đầu trong phiên thiết tiếng Hán là "thường" 常 /d͡ʑ/, phân biệt với âm đầu "thấu" 透 /tʰ/. Ở thời điểm đó, người Việt cổ vẫn dùng cách phát âm tương tự /d͡ʑ/ tiếng Hán trung cổ.
Âm này truyền đến tiếng Việt trung đại là "giờ", một số phương ngữ Bắc Trung bộ nói "giừ". Ta cần kết nối với bài "gi đã là gì?" của chuyên mục "Giải mã chữ quốc ngữ". Ở bài đó, ta đã làm rõ việc người phương Tây dùng tổ hợp "gi" để ghi lại một phụ âm "vòm hoá", chẳng hạn "giơ" của tiếng Việt trung đại sẽ phát âm như /kʲə/, hình dung âm *kyơ*.
Tổ hợp /kʲ/ có thể bị biến âm thành "ch" /c/ và các biến thể âm vị của nó, là điều từng xảy ra trong tiếng Quan thoại (nguồn gốc âm mang pinyin "j") và một số phương ngữ tiếng Triều Tiên / Hàn Quốc. Đây là lí do 1 số phương ngữ Bắc Trung bộ có thêm từ "chừ", gốc là "giừ", đồng nguyên với "giờ". Còn nay tiếng Việt hiện đại phát âm "gi" theo cách khác, tuỳ vùng miền.
Thời cổ xưa, thay vì Việt hoá thành âm "chờ" để gần âm tiếng Hán trung cổ của chữ "thì / thời" 時 (phục dựng: /d͡ʑiə/ nghe gần giống "chừa") đồng âm với từ "chờ" nghĩa là đợi (gốc Hán "đãi" 待 nghĩa là đợi, cũng như chữ "Hợi" 亥 cổ xưa nếu phiên thiết lần nữa sẽ cho ra âm "Hãi" nhưng không dùng), người xưa dùng âm "giờ" (*kyờ*) nghe gần giống.
Trong khi đó, chữ "thị" 市 nghĩa là chợ, cũng phiên thiết mang âm đầu "thường" 常 /d͡ʑ/ (nghe gần giống "ch") và cũng mang vần "chi" 之 (ngày xưa nghe như *iơ* /iə/ phân biệt vần "chi / chia" 支 /ie/ nghe như *iê* và vần "chi / chêi" 脂 /ij/ nghe như *êi*, thời sau chuẩn hoá cả 3 thành vần /i/) như chữ "thì / thời" 時. Nhưng "chợ" là âm Việt hoá tiền Hán-Việt của nó, chứ không dùng âm "giợ" (*kyợ*). Cùng xem âm Việt hoá của 3 dạng vần phiên thiết "chi" 之 - "chi" 支 - "chi" 脂.
1. Vần "chi" 之 /iə/ nghe như *iơ* hoặc *ưa*, đơn hoá thành *i* hoặc *ư* (tuỳ chữ) khi đọc chữ Nho
- "giờ" - "thì" 時
- "chợ" - "thị" 市
- "cờ" (lá cờ) - "kì" 旗
- "cờ" (trò cờ) - "kì" 棋 / 碁
- "thơ" - "thi" 詩
- "tơ" - "ti" 絲
- "hở" (hớn hở) - "hỉ" 喜
- "ngờ" - "nghi" 疑
2. Vần "chi" 支 /ie/ nghe gần như *iê*, *ia*, đơn hoá thành *i* khi đọc chữ Nho, vài chữ dùng *ư*
- "chia" - "chi" 支
- "lìa" - "li" 離
- "bia" (tấm bia) - "bi" 碑
- "bìa" - "bì" 皮
- "tía" (màu tía) - "tử" 紫 (phiên thiết vần "chi" 支, đáng ra âm "tỉ")
- "thìa" - "chìa" (chìa khoá, chìa vôi) - "thi / thì" 匙
- "nghĩa" 義 (âm phiên thiết: nghị; âm Việt hoá: nghì)
- "đìa" - "trì" 池 (chung vần kí âm 也 với chữ "địa" 地)
3. Vần "chi" 脂 /ij/ nghe gần như *êi*, *ây*, đơn hoá thành *i* khi đọc chữ Nho, vài chữ dùng *ư*
- "thây" - "thi" 尸 / 屍
- "mày" (lông mày) - "mi" 眉
- "mè" (rui mè) - "mi" 楣
- "thẻ" - "thỉ" 矢
- "ghế" - "kỉ" 几
- "chầy" (chầy kíp) - "trì" 遲
- "tây" (riêng tây, niềm tây) - "tư" 私
- "giầy" (bánh giầy) - "từ" 餈 / 糍 / 粢
- "ngậy" (béo ngậy) - "ngấy" (chán ngấy) - "nhị" 膩
Trong từ ghép "thì giờ" hay "thời giờ", thì "thì", "thời", "giờ" đều có cùng gốc Hán 時. Chữ này kí âm bằng chữ "tự" 寺 (chùa) và mang bộ "nhật" 日 (mặt trời, ngày). "Thì / thời" 時 còn dùng để chỉ mùa và thời gian, lúc, khi, dịp.
Một năm 12 tháng được chia thành 4 phần, mỗi phần được gọi là một "quý" 季. Hiện nay tính theo năm dương lịch, ta gọi 4 quý này là quý I, quý II, quý III và quý IV. Trong Hán ngữ, "quý" 季 cũng có nghĩa là mùa, như trong "tứ quý", một năm được chia thành 4 mùa. 4 mùa "xuân" 春 - "hạ" 夏 (hè) - "thu" 秋 - "đông" 冬 còn có thể gọi chung là "tứ thời" 四時 (tứ thì).
Mỗi mùa tiếp tục được xác định 2 thời điểm quan trọng gọi là các ngày "tiết" 節, ta có "bát tiết" 八節 (8 tiết) gồm các ngày bắt đầu mùa và giữa mùa: "Lập xuân" 立春 - "Xuân phân" 春分 - "Lập hạ" 立夏 - "Hạ chí" 夏至 - "Lập thu" 立秋 - "Thu phân" 秋分 - "Lập đông" 立冬 - "Đông chí" 冬至. Từ đây ta có thành ngữ "tứ thời bát tiết" 四時八節.
Tiếng Nhật gọi thời giờ, lúc, dịp... là "toki" とき và gán Hán tự (kanji) "thì / thời" 時. Tiếng Triều Tiên / Hàn Quốc gọi là "ttae" 때.
TIME
Hán tự: 時間
Âm Hán-Nhật: "ji-kan" じかん
Âm Hán-Việt: thời gian
Âm Hán-Hàn: "shi-gan" 시간
Phiên thiết:
- 古閑切 = [c]ổ + nhàn / h[yàn] = *kyan* → gian (phù + bằng = phù bằng = ngang)
- 古閑切 = [k]o (こ) + k[an] (かん) = kan (かん)
- 古閑切 = [g]o (고) + h[an] (한) = gan (간)
Chữ "nhàn" 閑 / 閒 theo phiên thiết vốn cho ra âm đầu "h" và vần vòm hoá *-yan* (nghe gần giống vần "en"), hình dung âm *hyàn* biến âm mũi hoá thành "nhàn". Ứng với âm Hán-Việt *hyàn* là âm Hán-Nhật Go-on "gen" げん và âm Quan thoại Bắc Kinh "xián" (pinyin).
"Nhàn" 閑 / 閒 tả rảnh rỗi, không có nhiều việc quan trọng phải làm, cũng tả không quan trọng, không đáng kể, (chức vụ) không có phận sự tham gia việc lớn, việc hệ trọng, tức là thấp kém, hèn mọn, nhỏ bé. "Hèn" là âm Việt hoá "tiền Hán-Việt" của *hyàn* 閑 / 閒 tức là chữ "nhàn" 閑 / 閒.
閒 vừa là dị thể của chữ "nhàn" 閑 vừa là dị thể của chữ "gian" 間. Cả ba chữ đều mang bộ "môn" 門 (cửa hai cánh), hai dạng chữ "gian" 間 / 閒 hoặc ghép bộ "môn" 門 với chữ "nhật" 日 nghĩa là mặt trời, ngày, hoặc ghép với chữ "nguyệt" 月 nghĩa là mặt trăng, tháng, cùng là yếu tố chỉ thời gian.
"Gian" 間 nghĩa là khoảng, gian nhà, gian phòng, tiếng Việt xưa vốn phát âm như *kyan* (người phương Tây viết "gi-" để kí âm /kʲ-/), theo phiên thiết mang âm đầu "kiến" 見 /k-/. "Căn" (âm đầu /k-/) là âm Việt hoá của nó, chỉ gian nhà, căn phòng, căn nhà. Chữ này còn có âm "gián" 間 nghĩa là xen lẫn vào, ngăn cách, như trong "nội gián", "gián điệp", "gián tiếp", "gián đoạn", "li gián".
Năm 1881, nhà triết học người Nhật Inoue Tetsujirō (井上 哲次郎 Inoue Triết-Thứ-Lang) trong công trình "Triết học tự vị" - "Tetsu-gaku ji-i" 哲學字彙 đã biên dịch khái niệm "time" của tiếng Anh thành "thời gian" - "ji-kan" 時間 (じかん) và "space" của tiếng Anh thành "không gian" - "kū-kan" 空間 (くうかん). Từ "thời gian" 時間 với nét nghĩa hiện đại vượt khỏi nghĩa đen trên mặt chữ đã phổ biến rộng ra các quốc gia khác trong vùng văn hoá Hán tự.
- Ung Chu -