Hán-Việt Thông Dụng

Hán-Việt Thông Dụng Chuyện về những từ thông dụng của người Việt hoá ra lại là từ Hán-Việt!

  Afghanistan (Áp-ga-ni-xtan) là nhà nước Hồi giáo ở châu Á, lãnh thổ không giáp biển. Cư dân tại quốc gia này được gọi ...
21/08/2026



Afghanistan (Áp-ga-ni-xtan) là nhà nước Hồi giáo ở châu Á, lãnh thổ không giáp biển. Cư dân tại quốc gia này được gọi là "Afghan" (tiếng Ba Tư: "afġān" افغان), tên nước này nghĩa là vùng đất của người Afghan.

Tên Hán-Việt của Afghanistan là "A Phú Hãn" 阿富汗 ta mượn tiếng Trung Quốc, ghi nhận trên văn bản "Doanh hoàn chí lược" 瀛寰志略 (1849) của Từ Kế Dư 徐繼畬 thời nhà Thanh 清. Đây là cách phiên âm "Afghan" [ʔäf.ɣɑ́ːn], trong đó âm "gh" /ɣ/ được thay thế bằng phiên bản vô thanh (voiceless) của nó trong tiếng Quan thoại là "h" /x/, phát âm tương tự âm "kh" /x/ tiếng Việt.

- Ung Chu -

- tiều 樵: củi, kiếm củi, như trong "ngư tiều canh mục" 漁樵耕牧 (đánh cá, kiếm củi, cày ruộng, chăn nuôi), chữ này gồm bộ "m...
21/08/2026

- tiều 樵: củi, kiếm củi, như trong "ngư tiều canh mục" 漁樵耕牧 (đánh cá, kiếm củi, cày ruộng, chăn nuôi), chữ này gồm bộ "mộc" 木 (cây gỗ) và chữ "tiêu" 焦 (cháy), do đó vừa được xem là chữ hình thanh, vừa được xem là chữ hội ý

- phu 夫: từ chỉ người, như trong "phàm phu tục tử" 凡夫俗子 (người tầm thường), "nông phu", chữ này có gốc tượng hình vẽ người.

"Tiều phu" 樵夫 chỉ người làm công việc kiếm củi, đốn củi. Tiếng Nhật có cách gọi tiều phu là "ki-kori" 木こり (きこり), động từ tương ứng là "ki-koru" 樵る (きこる), trong đó "ki" き (木) nghĩa là cây, gỗ. Tiếng Hàn có cách gọi là "namu-kkun" 나무꾼 (tiếng Triều Tiên: "namu-gun" 나무군), "namu" 나무 nghĩa là cây, gỗ, hậu tố "-kkun / -gun" -꾼/-군 có gốc Hán "quân" 軍 (Hán-Hàn: "gun" 군).

"Quân" 軍 vốn chỉ binh lính trong quân đội, cả tiếng Triều Tiên / Hàn Quốc và tiếng Việt đều mở rộng nghĩa để chỉ người. Vì các con cờ, con bài dùng để đối kháng, tranh đấu, nên tiếng Việt cũng dùng từ "quân" 軍 để gọi quân cờ, quân bài. "Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ở miền Bắc ghi:

- Quân 軍. 1. Binh lính: Quân đi đánh giặc. Nghĩa rộng: Tụi bọn, tiếng nói khinh-bỉ: Quân ăn cướp. Quân vô-lại. 2. Một đạo binh gồm có mấy sư-đoàn, do một đại-tướng cai-quản. 3. Tiếng chỉ riêng về từng lá bài, từng con cờ: Quân bài tổ-tôm. Quân cờ người.

- Ung Chu -

  GYNECOLOGY / GYNAECOLOGY - PHỤ KHOA"Phụ khoa" 婦科 là chuyên khoa gắn với phụ nữ (liên quan cơ quan sinh dục nữ), tiếng ...
21/08/2026



GYNECOLOGY / GYNAECOLOGY - PHỤ KHOA

"Phụ khoa" 婦科 là chuyên khoa gắn với phụ nữ (liên quan cơ quan sinh dục nữ), tiếng Trung Quốc viết giản thể là 妇科. Tiếng Nhật gọi là "phụ nhân khoa" - "fu-jin-ka" 婦人科 (ふじんか), tiếng Hàn đọc là "bu-in-gwa" 부인과. Còn chuyên khoa gắn với nam giới gọi là "nam khoa" 男科.

"Phụ sản" 婦產 hay "sản phụ khoa" 產婦科 là cách người Việt gọi kết hợp hai lĩnh vực y khoa là "phụ khoa" 婦科 và "sản khoa" 產科. Tiếng Trung Quốc thường gọi là "phụ sản khoa" 婦產科 (giản thể: 妇产科).

Tiếng Nhật gọi là "sản phụ nhân khoa" - "san-fu-jin-ka" 産婦人科 (さんふじんか), tiếng Hàn đọc là "san-bu-in-gwa" 산부인과. Sản khoa là chuyên khoa về sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, sức khoẻ của mẹ và bé trong suốt thai kì cho đến hậu sản.

- Ung Chu -

- phụ 父: cha, như trong "phụ thân", "phụ mẫu"- huynh 兄: anh, như trong "huynh trưởng", "huynh đệ"."Phụ huynh" 父兄 nghĩa l...
20/08/2026

- phụ 父: cha, như trong "phụ thân", "phụ mẫu"

- huynh 兄: anh, như trong "huynh trưởng", "huynh đệ".

"Phụ huynh" 父兄 nghĩa là bậc cha anh trong gia đình, dùng để phiếm chỉ các bậc trưởng bối (lớn tuổi hơn, vai vế cao hơn) bất kể giới tính. Trong môi trường giáo dục và đào tạo trẻ (chủ yếu nói về trẻ vị thành niên), "phụ huynh" phiếm chỉ những người trong gia đình là người giám hộ hợp pháp của học sinh, học viên.

Do đó, không chỉ riêng cha mẹ học sinh mới được gọi là "phụ huynh", người tham dự họp phụ huynh không bắt buộc có quan hệ cha mẹ với học sinh. Trong mối quan hệ với phụ huynh, trẻ cũng được gọi là "con em", trong đó "con" tương quan với "phụ" 父 và "em" tương quan với "huynh" 兄. "Con em" dùng để phiếm chỉ các bậc vãn bối (sinh sau đẻ muộn).

- Ung Chu -

Trong Ki-tô giáo, "đan sĩ" 單士 (đan / đơn 單: đơn độc) là những tu sĩ quy tụ thành cộng đoàn tại "đan viện" 單院. Tiếng Lati...
20/08/2026

Trong Ki-tô giáo, "đan sĩ" 單士 (đan / đơn 單: đơn độc) là những tu sĩ quy tụ thành cộng đoàn tại "đan viện" 單院. Tiếng Latin gọi đan sĩ là "monachus", tiếng Anh gọi là "monk", từ gốc tiếng Hi Lạp cổ "μοναχός" (monakhós) nghĩa là đơn độc, đơn nhất, từ tính từ "μόνος" (mónos) nghĩa là một mình, đơn độc.

Đan viện trong tiếng Latin là "abbatia", trong tiếng Anh là "abbey". Người đứng đầu đan viện là "viện phụ" 院父 với "phụ" 父 nghĩa là cha, tiếng Latin gọi là "abbas", tiếng Anh gọi là "abbot", từ gốc tiếng Hi Lạp cổ "ἀββα" (abba) hay "ἀββᾶς" (abbâs) nghĩa là cha.

- Ung Chu -

[Góc tiền tệ]Chuyên mục thuyết minh một số thông tin ghi trên tiền giấy và tiền kim loại trong lịch sử, phục vụ mục đích...
20/08/2026

[Góc tiền tệ]

Chuyên mục thuyết minh một số thông tin ghi trên tiền giấy và tiền kim loại trong lịch sử, phục vụ mục đích nghiên cứu, không phục vụ mục đích buôn bán di sản, cổ vật.
--

Đồng baht của Siam (Xiêm) vốn được người Anh ngày xưa quy đổi thành đơn vị "tical". Người Việt quen gọi tên Hán-Việt "Tiêm-la" 暹羅 của Siam là "Xiêm La" (trừ tên bệnh tiêm-la, tức là bệnh dương mai / giang mai). Năm 1902, Chính phủ Xiêm phát hành xê-ri (tiếng Pháp: série) tiền giấy được in tại Luân Đôn (London), Anh, hình thức in một mặt. Trong hình là tiền giấy mệnh giá 100 baht, sử dụng 4 ngôn ngữ là tiếng Thái Lan, tiếng Anh, tiếng Hoa và tiếng Malay (kí tự Jawi).

Phần chữ Hán ghi "Tiêm-la quốc ngân nhất bách baht" 暹羅國銀壹佰𰼤 nghĩa là 100 baht tiền Xiêm. Ở Xiêm có đông người Hoa gốc Triều Châu, họ phiên âm tên đồng baht bằng tổ hợp gồm bộ "kim" 釒 (vàng, kim loại) và phần kí âm "mạt" 末 mà tiếng Triều Châu và tiếng Mân Nam (Phúc Kiến) phát âm bằng âm đầu /b/ (Peng'im tiếng Triều Châu: bhuah8; Pe̍h-ōe-jī tiếng Phúc Kiến: boa̍h / boa̍t). Chữ Hán đó thường bị nhầm thành chữ "thù" 銖 (ngoài ra chữ Hán "baht" kia không có trên bàn phím và chưa hiển thị trên thiết bị điện tử, nên phải dùng "thù" 銖 để thay thế).

Khi ghi chép những con số đảm bảo sự chính xác, tránh giả mạo, sửa chữa, gian lận, chẳng hạn khi ghi số tiền, người ở vùng văn hoá Hán tự dùng dạng phức tạp hoá nét viết so với các số đếm chữ Hán cơ bản:

- nhất 一: 壹

- nhị 二: 貳 / 貮 / 弍

- tam 三: 叁 / 參 / 叄

- tứ 四: 肆 (phương pháp giả tá đồng âm)

- ngũ 五: 伍

- lục 六: 陸 (giả tá đồng âm)

- thất 七: 柒

- bát 八: 捌 (giả tá đồng âm)

- cửu 九: 玖 (giả tá đồng âm)

- thập 十: 拾 (giả tá đồng âm)

- bách 百: 佰 (có thể viết nguyên bản 百 vì vốn đủ nhiều nét)

- thiên 千: 仟.

Phần chữ Jawi ghi "wang Siam seratus koq" واڠسيامسراتوسکوق nghĩa là 100 koq tiền Siam (nội dung tương đương phần chữ Hán). "Koq" کوق (chữ Thái Lan: "koh" โกะ) trong phương ngữ vùng Patani (tiếng Thái Lan: "Pattani" ปัตตานี) ở biên giới Xiêm - Malay là đơn vị tiền tệ được xem tương đương đồng baht. Mệnh giá tiếng Thái Lan ghi "roi baht" ร้อย บาท nghĩa là 100 baht.

Mệnh giá tiếng Anh ghi "one hundred ticals" nghĩa là 100 tical. Bốn góc tờ tiền ghi số 100 và chữ số Thái Lan tương ứng là ๑๐๐. Trung tâm tờ tiền ghi "Ratthaban Sayam" รัฐบาล สยาม nghĩa là Chính phủ Xiêm, "Sayam" สยาม là tên thường dùng thay thế cho "Siam" เสียม.

- Ung Chu -

 LEUCOPLAST - VÔ SẮC LẠP"Lạp" 粒 (đúng ra theo phiên thiết ta được âm "lập") trong Hán ngữ chỉ những vật nhỏ mà người Việ...
20/08/2026



LEUCOPLAST - VÔ SẮC LẠP

"Lạp" 粒 (đúng ra theo phiên thiết ta được âm "lập") trong Hán ngữ chỉ những vật nhỏ mà người Việt ta gọi là hạt (không phải là hạt của trái cây), như hạt lúa, hạt gạo, hạt cát, chữ này mang bộ "mễ" 米 (gạo) và kí âm bằng chữ "lập" 立. Trong tế bào thực vật và tảo có nhóm bào quan dạng hạt tròn được gọi là lạp thể.

Ngoài sắc lạp (lạp thể chứa sắc tố, không kể lục lạp), lục lạp (lạp thể chứa diệp lục), tế bào thực vật còn có vô sắc lạp không chứa sắc tố. Các loại vô sắc lạp có chức năng dự trữ các chất hữu cơ như tinh bột, lipit (tiếng Pháp: lipide), protein.

"Vô sắc lạp" 無色粒 là cách gọi của tiếng Việt, ta hiểu là hạt (lạp thể) không màu. "Leucoplast" tiếng Anh mang tiền tố "leuco-" có gốc tiếng Hi Lạp cổ "λευκός" (leukós) nghĩa là màu trắng, con người có xu hướng mô tả vật không màu là màu trắng. Các ngôn ngữ khác tại vùng văn hoá Hán tự gọi là "bạch sắc thể" 白色體 nghĩa là thể màu trắng. Tiếng Nhật đọc là "haku-shoku-tai" 白色体 (はくしょくたい), tiếng Hàn đọc là "baek-saek-che" 백색체. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là 白色体.

- Ung Chu -

 TONIAN (PERIOD) - KỈ TONI / LẠP THÂNVề niên đại địa chất, chúng ta đang sống ở thế Toàn tân (Holocene Epoch) trong kỉ Đ...
20/08/2026



TONIAN (PERIOD) - KỈ TONI / LẠP THÂN

Về niên đại địa chất, chúng ta đang sống ở thế Toàn tân (Holocene Epoch) trong kỉ Đệ tứ (Quaternary Period) thuộc đại Tân sinh (Cenozoic Era) nằm trong liên đại Hiển sinh (Phanerozoic Eon). Trước liên đại Hiển sinh là liên đại Nguyên sinh (Proterozoic Eon).

Liên đại Nguyên sinh kéo dài từ khoảng 2,5 tỉ năm trước cho đến khoảng 541 triệu năm trước, được chia thành 3 đại là đại Cổ Nguyên sinh, đại Trung Nguyên sinh và đại Tân Nguyên sinh. Sự kiện quan trọng trong thời gian này là sự tích tụ oxy trong khí quyển và sự xuất hiện của sinh vật nhân thực, sinh vật đa bào.

Đại Tân Nguyên sinh được chia làm 3 kỉ, trong đó kỉ Toni là kỉ đầu tiên, còn được gọi là kỉ Lạp thân. Kỉ Toni bắt đầu từ khoảng 1000 triệu năm trước và kết thúc vào khoảng 720 triệu năm trước, gắn với sự kiện siêu lục địa Rodinia bị tách giãn và tan vỡ thành các lục địa.

- lạp 拉: lôi kéo

- thân 伸: duỗi.

"Lạp thân" 拉伸 nghĩa là kéo duỗi. "Tonian" tiếng Anh có gốc tiếng Hi Lạp cổ "τόνος" (tónos) nghĩa là sự kéo căng, ở đây chỉ việc tách giãn siêu lục địa Rodinia. Tiếng Trung Quốc gọi kỉ Lạp thân là "Lạp thân kỉ" 拉伸紀 (giản thể: 拉伸纪).

Tiếng Nhật phiên âm "Tonian" là "To-ni-an" トニアン, "kỉ" 紀 đọc là "ki" き. Tiếng Hàn gọi là "To-no-seu gi" 토노스기 ghép "Tonoseu" 토노스 là phiên âm của "τόνος" (tónos) và "gi" là âm Hán-Hàn của "kỉ" 紀.

- Ung Chu -

  "Kì" 期 trong Hán ngữ chỉ một khoảng thời gian, kì hạn, thời hạn, hẹn, như trong "bất kì nhi ngộ" 不期而遇 (không hẹn mà gặ...
19/08/2026



"Kì" 期 trong Hán ngữ chỉ một khoảng thời gian, kì hạn, thời hạn, hẹn, như trong "bất kì nhi ngộ" 不期而遇 (không hẹn mà gặp), chữ này mang bộ "nguyệt" 月 (trăng, tháng) và kí âm bằng chữ "kì" 其, ngày xưa vốn viết là 㫷 mang bộ "nhật" 日 (mặt trời, ngày). "Hẹn" là âm Việt hoá "tiền Hán-Việt" của chữ "hạn" 限 nghĩa là giới hạn, thời hạn. Trong tiếng Anh, "date" (phát âm khác tiếng Pháp) chỉ ngày, kì hạn và hẹn hò.

Ta có đơn vị "kì" chỉ giai đoạn trong một chu trình, chu kì, thời kì. Chẳng hạn, động cơ 4 kì (4 thì), động cơ 2 kì (2 thì), các kì trong chu kì tế bào, các kì trong niên đại địa chất... Trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, sản xuất nội dung, ta cũng có đơn vị "kì" khi một tuyến nội dung được chia thành các đợt phát hành, đăng tải riêng lẻ. Các sự kiện diễn ra trong một thời gian (đã định) cũng dùng đơn vị "kì" (đếm được): kì họp, kì thi, kì sát hạch...

"Kì" cũng có thể phiếm chỉ một khoảng thời gian bất kì được xét độc lập, ngầm hiểu trên dòng thời gian từ quá khứ tới tương lai có nhiều hơn một kì: kì trước, kì này, kì sau, kì tới... Tại môi trường học đường, các niên khoá được chia nhỏ thành các giai đoạn gọi là "học kì" 學期. Tiếng Nhật đọc là "gakki" 学期 (がっき), tiếng Hàn đọc là hak-gi" 학기 (phát âm thực tế: hak-kki), tiếng Trung Quốc viết giản thể là 学期.

- Ung Chu -

--
Phần thuyết minh về chuyên mục:

Trong tiến trình phát triển ngôn ngữ, cả tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên/Hàn và nhiều ngôn ngữ Trung Hoa đã sở hữu rất nhiều các danh từ gốc Hán có chức năng phân loại và cho phép đếm số, lượng. Tuỳ tình huống, chúng có thể được gọi là "loại từ" (từ để phân loại - classifiers) hay "lượng từ" (từ để định lượng - measure words).

Có 1 đặc điểm chung của nhóm từ vựng này trong tiếng Việt và các ngôn ngữ trên, rằng chúng là các danh từ, và do đó là các "thực từ". Vì lẽ này, để tránh việc hiểu nhầm chúng là các "hư từ", Admin sẽ lựa chọn cách gọi "danh từ đơn vị".

Trong cấu trúc chính phụ, danh từ đơn vị là thành phần chính. Ví dụ, trong tổ hợp "bộ sách" thì "bộ" là thành phần chính, "sách" là định ngữ bổ nghĩa cho "bộ". Khi đã rõ ngữ cảnh, thành phần phụ có thể được lược bỏ, ta chỉ cần nói "bộ". Việc thêm danh từ đơn vị còn giúp định lượng được, ví dụ ta không nói 1 sách, 2 sách, mà sẽ nói 1 quyển sách, 2 quyển sách, 1 bộ sách, 2 bộ sách...

[Góc thẻ bài]Một chuyên mục nhẹ nhàng để tìm hiểu một vài Hán tự qua các thẻ bài Clow (Clow Cards) và các thẻ bài trong ...
19/08/2026

[Góc thẻ bài]

Một chuyên mục nhẹ nhàng để tìm hiểu một vài Hán tự qua các thẻ bài Clow (Clow Cards) và các thẻ bài trong suốt (Clear Cards) từ series ăn khách "Cardcaptor Sakura" カードキャプターさくら của Nhật Bản.

THE TIME

Hán tự: 時
Âm Hán-Nhật: "ji" じ
Âm Hán-Việt: thì / thời
Âm Hán-Hàn: "shi" 시

Phiên thiết:

- 市之切 = [th]ị + ch[i] = thì (trầm + bằng = trầm bằng = huyền)
- 市之切 = [j]i (じ) + sh[i] (し) = ji (じ)
- 市之切 = [sh]i (시) + j[i] (지) = shi (시)

"Thì" 時 trong Hán ngữ có nghĩa là giờ, thời xa xưa ở vùng văn hoá Hán tự chia một ngày thành 12 giờ ứng với "thập nhị chi" 十二支 (12 chi): Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Sau này, do kị huý Nguyễn Phúc Thì 阮福時 (Nguyễn Phước Thời) của hoàng đế Tự Đức 嗣德 nên tránh âm thành "thời". Khi tiếp nhận công cụ xác định thời gian chia 1 ngày thành 24 phần bằng nhau của phương Tây, vùng văn hoá Hán tự đổi 1 "thì / thời" 時 hay 1 "giờ" có độ dài tương ứng 1/24 của 1 ngày.

"Giờ" có gốc Hán "thì / thời" 時 và có thể gọi là âm "Việt hoá tiền Hán-Việt", tồn tại trước khi chuyển sang đọc là "thì / thời" 時. Nhưng vì sao Việt hoá mang âm đầu "gi"? Vì nhu cầu vay mượn từ để gọi giờ giấc nên ta có thể suy ra niên đại của việc vay mượn diễn ra rất sớm. "Thì" 時 mang âm đầu trong phiên thiết tiếng Hán là "thường" 常 /d͡ʑ/, phân biệt với âm đầu "thấu" 透 /tʰ/. Ở thời điểm đó, người Việt cổ vẫn dùng cách phát âm tương tự /d͡ʑ/ tiếng Hán trung cổ.

Âm này truyền đến tiếng Việt trung đại là "giờ", một số phương ngữ Bắc Trung bộ nói "giừ". Ta cần kết nối với bài "gi đã là gì?" của chuyên mục "Giải mã chữ quốc ngữ". Ở bài đó, ta đã làm rõ việc người phương Tây dùng tổ hợp "gi" để ghi lại một phụ âm "vòm hoá", chẳng hạn "giơ" của tiếng Việt trung đại sẽ phát âm như /kʲə/, hình dung âm *kyơ*.

Tổ hợp /kʲ/ có thể bị biến âm thành "ch" /c/ và các biến thể âm vị của nó, là điều từng xảy ra trong tiếng Quan thoại (nguồn gốc âm mang pinyin "j") và một số phương ngữ tiếng Triều Tiên / Hàn Quốc. Đây là lí do 1 số phương ngữ Bắc Trung bộ có thêm từ "chừ", gốc là "giừ", đồng nguyên với "giờ". Còn nay tiếng Việt hiện đại phát âm "gi" theo cách khác, tuỳ vùng miền.

Thời cổ xưa, thay vì Việt hoá thành âm "chờ" để gần âm tiếng Hán trung cổ của chữ "thì / thời" 時 (phục dựng: /d͡ʑiə/ nghe gần giống "chừa") đồng âm với từ "chờ" nghĩa là đợi (gốc Hán "đãi" 待 nghĩa là đợi, cũng như chữ "Hợi" 亥 cổ xưa nếu phiên thiết lần nữa sẽ cho ra âm "Hãi" nhưng không dùng), người xưa dùng âm "giờ" (*kyờ*) nghe gần giống.

Trong khi đó, chữ "thị" 市 nghĩa là chợ, cũng phiên thiết mang âm đầu "thường" 常 /d͡ʑ/ (nghe gần giống "ch") và cũng mang vần "chi" 之 (ngày xưa nghe như *iơ* /iə/ phân biệt vần "chi / chia" 支 /ie/ nghe như *iê* và vần "chi / chêi" 脂 /ij/ nghe như *êi*, thời sau chuẩn hoá cả 3 thành vần /i/) như chữ "thì / thời" 時. Nhưng "chợ" là âm Việt hoá tiền Hán-Việt của nó, chứ không dùng âm "giợ" (*kyợ*). Cùng xem âm Việt hoá của 3 dạng vần phiên thiết "chi" 之 - "chi" 支 - "chi" 脂.

1. Vần "chi" 之 /iə/ nghe như *iơ* hoặc *ưa*, đơn hoá thành *i* hoặc *ư* (tuỳ chữ) khi đọc chữ Nho

- "giờ" - "thì" 時

- "chợ" - "thị" 市

- "cờ" (lá cờ) - "kì" 旗

- "cờ" (trò cờ) - "kì" 棋 / 碁

- "thơ" - "thi" 詩

- "tơ" - "ti" 絲

- "hở" (hớn hở) - "hỉ" 喜

- "ngờ" - "nghi" 疑

2. Vần "chi" 支 /ie/ nghe gần như *iê*, *ia*, đơn hoá thành *i* khi đọc chữ Nho, vài chữ dùng *ư*

- "chia" - "chi" 支

- "lìa" - "li" 離

- "bia" (tấm bia) - "bi" 碑

- "bìa" - "bì" 皮

- "tía" (màu tía) - "tử" 紫 (phiên thiết vần "chi" 支, đáng ra âm "tỉ")

- "thìa" - "chìa" (chìa khoá, chìa vôi) - "thi / thì" 匙

- "nghĩa" 義 (âm phiên thiết: nghị; âm Việt hoá: nghì)

- "đìa" - "trì" 池 (chung vần kí âm 也 với chữ "địa" 地)

3. Vần "chi" 脂 /ij/ nghe gần như *êi*, *ây*, đơn hoá thành *i* khi đọc chữ Nho, vài chữ dùng *ư*

- "thây" - "thi" 尸 / 屍

- "mày" (lông mày) - "mi" 眉

- "mè" (rui mè) - "mi" 楣

- "thẻ" - "thỉ" 矢

- "ghế" - "kỉ" 几

- "chầy" (chầy kíp) - "trì" 遲

- "tây" (riêng tây, niềm tây) - "tư" 私

- "giầy" (bánh giầy) - "từ" 餈 / 糍 / 粢

- "ngậy" (béo ngậy) - "ngấy" (chán ngấy) - "nhị" 膩

Trong từ ghép "thì giờ" hay "thời giờ", thì "thì", "thời", "giờ" đều có cùng gốc Hán 時. Chữ này kí âm bằng chữ "tự" 寺 (chùa) và mang bộ "nhật" 日 (mặt trời, ngày). "Thì / thời" 時 còn dùng để chỉ mùa và thời gian, lúc, khi, dịp.

Một năm 12 tháng được chia thành 4 phần, mỗi phần được gọi là một "quý" 季. Hiện nay tính theo năm dương lịch, ta gọi 4 quý này là quý I, quý II, quý III và quý IV. Trong Hán ngữ, "quý" 季 cũng có nghĩa là mùa, như trong "tứ quý", một năm được chia thành 4 mùa. 4 mùa "xuân" 春 - "hạ" 夏 (hè) - "thu" 秋 - "đông" 冬 còn có thể gọi chung là "tứ thời" 四時 (tứ thì).

Mỗi mùa tiếp tục được xác định 2 thời điểm quan trọng gọi là các ngày "tiết" 節, ta có "bát tiết" 八節 (8 tiết) gồm các ngày bắt đầu mùa và giữa mùa: "Lập xuân" 立春 - "Xuân phân" 春分 - "Lập hạ" 立夏 - "Hạ chí" 夏至 - "Lập thu" 立秋 - "Thu phân" 秋分 - "Lập đông" 立冬 - "Đông chí" 冬至. Từ đây ta có thành ngữ "tứ thời bát tiết" 四時八節.

Tiếng Nhật gọi thời giờ, lúc, dịp... là "toki" とき và gán Hán tự (kanji) "thì / thời" 時. Tiếng Triều Tiên / Hàn Quốc gọi là "ttae" 때.

TIME

Hán tự: 時間
Âm Hán-Nhật: "ji-kan" じかん
Âm Hán-Việt: thời gian
Âm Hán-Hàn: "shi-gan" 시간

Phiên thiết:

- 古閑切 = [c]ổ + nhàn / h[yàn] = *kyan* → gian (phù + bằng = phù bằng = ngang)
- 古閑切 = [k]o (こ) + k[an] (かん) = kan (かん)
- 古閑切 = [g]o (고) + h[an] (한) = gan (간)

Chữ "nhàn" 閑 / 閒 theo phiên thiết vốn cho ra âm đầu "h" và vần vòm hoá *-yan* (nghe gần giống vần "en"), hình dung âm *hyàn* biến âm mũi hoá thành "nhàn". Ứng với âm Hán-Việt *hyàn* là âm Hán-Nhật Go-on "gen" げん và âm Quan thoại Bắc Kinh "xián" (pinyin).

"Nhàn" 閑 / 閒 tả rảnh rỗi, không có nhiều việc quan trọng phải làm, cũng tả không quan trọng, không đáng kể, (chức vụ) không có phận sự tham gia việc lớn, việc hệ trọng, tức là thấp kém, hèn mọn, nhỏ bé. "Hèn" là âm Việt hoá "tiền Hán-Việt" của *hyàn* 閑 / 閒 tức là chữ "nhàn" 閑 / 閒.

閒 vừa là dị thể của chữ "nhàn" 閑 vừa là dị thể của chữ "gian" 間. Cả ba chữ đều mang bộ "môn" 門 (cửa hai cánh), hai dạng chữ "gian" 間 / 閒 hoặc ghép bộ "môn" 門 với chữ "nhật" 日 nghĩa là mặt trời, ngày, hoặc ghép với chữ "nguyệt" 月 nghĩa là mặt trăng, tháng, cùng là yếu tố chỉ thời gian.

"Gian" 間 nghĩa là khoảng, gian nhà, gian phòng, tiếng Việt xưa vốn phát âm như *kyan* (người phương Tây viết "gi-" để kí âm /kʲ-/), theo phiên thiết mang âm đầu "kiến" 見 /k-/. "Căn" (âm đầu /k-/) là âm Việt hoá của nó, chỉ gian nhà, căn phòng, căn nhà. Chữ này còn có âm "gián" 間 nghĩa là xen lẫn vào, ngăn cách, như trong "nội gián", "gián điệp", "gián tiếp", "gián đoạn", "li gián".

Năm 1881, nhà triết học người Nhật Inoue Tetsujirō (井上 哲次郎 Inoue Triết-Thứ-Lang) trong công trình "Triết học tự vị" - "Tetsu-gaku ji-i" 哲學字彙 đã biên dịch khái niệm "time" của tiếng Anh thành "thời gian" - "ji-kan" 時間 (じかん) và "space" của tiếng Anh thành "không gian" - "kū-kan" 空間 (くうかん). Từ "thời gian" 時間 với nét nghĩa hiện đại vượt khỏi nghĩa đen trên mặt chữ đã phổ biến rộng ra các quốc gia khác trong vùng văn hoá Hán tự.

- Ung Chu -

Address

Thi Nghè

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hán-Việt Thông Dụng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Hán-Việt Thông Dụng:

Shortcuts

Share