🧠 Vì sao TÂM VẬN ĐỘNG lại quan trọng với trẻ tự kỷ?
Tâm vận động là chiếc cầu nối giữa cơ thể và trí não – nơi kết nối các hoạt động vận động với tư duy, cảm xúc và khả năng tương tác. Với trẻ tự kỷ, đây chính là một mắt xích quan trọng nhưng lại thường bị bỏ qua trong quá trình can thiệp.
Nhiều phụ huynh có xu hướng tập trung vào việc dạy con nói, dạy con học kiến thức. Tuy nhiên, nếu nền tảng vận động của trẻ còn yếu,như khả năng giữ thăng bằng, phối hợp tay mắt, kiểm soát cơ thể kém, thì việc học các kỹ năng cao hơn như ngôn ngữ, chú ý, xã hội… cũng sẽ gặp nhiều khó khăn.
💪🏻Tâm vận động không chỉ là vận động đơn thuần, mà là sự phối hợp giữa:
• Thân thể – trí não – cảm xúc
• Vận động – tư duy – chú ý
Chính vì vậy, trong quá trình Can thiệp tôi luôn lồng ghép các hoạt động tâm vận động để hỗ trợ trẻ một cách toàn diện. Những lợi ích rõ ràng bao gồm:
👉🏻Tăng khả năng tập trung và ghi nhớ
👉🏻 Giảm hành vi rối loạn, kích động
👉🏻 Thúc đẩy ngôn ngữ phát triển một cách tự nhiên
👉🏻 Kết nối cảm xúc, tăng tương tác xã hội
💬 Một bước tiến nhỏ hôm nay có thể là tiền đề cho sự thay đổi lớn mai sau.
Hãy kiên trì, vì con đang đi trên hành trình rất riêng và rất đáng trân trọng♥️
St: Mai phương
Dorami Center
Dorami center là nhóm lớp dành cho các bạn nhỏ có nhu cầu đặc biệt, với tình yêu thương
10/08/2025
Tại sao kỹ năng vận động tri giác quan trọng cho trẻ có nhu cầu đặc biệt?
1. Giải quyết các thách thức cốt lõi trong sự khác biệt học tập:
Trẻ có nhu cầu đặc biệt, chẳng hạn như trẻ mắc chứng khó đọc (dyslexia), rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), hoặc rối loạn phổ tự kỷ (ASD), thường gặp khó khăn trong việc xử lý giác quan và phối hợp vận động. Kỹ năng vận động tri giác – sự tích hợp giữa đầu vào giác quan (thị giác, thính giác, xúc giác) và đầu ra vận động (chuyển động, phối hợp) – là nền tảng cho các nhiệm vụ học tập cơ bản. Ví dụ, viết chữ đòi hỏi sự phối hợp giữa nhận thức thị giác (nhìn chữ cái) và hành động vận động (viết).
2. Tăng cường phát triển nhận thức và học thuật:
Kỹ năng vận động tri giác liên quan trực tiếp đến các chức năng nhận thức như nhận thức không gian, sắp xếp thứ tự, và giải quyết vấn đề – những kỹ năng thiết yếu cho thành công học tập. Chẳng hạn, một trẻ có kỹ năng vận động tri giác yếu có thể gặp khó khăn trong việc làm theo chuỗi hướng dẫn (ví dụ: "nhặt bút chì, sau đó vẽ vòng tròn"), ảnh hưởng đến việc học toán hoặc đọc.
3. Hỗ trợ phát triển xã hội và cảm xúc:
Nhiều trẻ có nhu cầu đặc biệt đối mặt với thách thức xã hội do khó khăn trong việc diễn giải tín hiệu xã hội hoặc tham gia các hoạt động nhóm. Kỹ năng vận động tri giác cho phép trẻ tham gia vào các hoạt động dựa trên chơi (ví dụ: ném bóng, nhảy múa), vốn rất quan trọng cho sự tương tác xã hội và điều hòa cảm xúc.
4. Cải thiện tính độc lập và chức năng hàng ngày:
Kỹ năng vận động tri giác là yếu tố cần thiết cho các hoạt động sống hàng ngày, như mặc quần áo, ăn uống, hoặc di chuyển trong không gian. Trẻ có nhu cầu đặc biệt thường gặp khó khăn với những nhiệm vụ này do kế hoạch vận động kém hoặc tích hợp giác quan không tốt. Chẳng hạn, một trẻ tự kỷ có thể gặp khó khăn trong việc buộc dây giày vì không phối hợp được đầu vào thị giác (nhìn dây) với đầu ra vận động (buộc nút).
Nguồn: St
11/10/2023
THÚC ĐẨY GIAO TIẾP
1. Đủ cả, trừ một thứ.
Trong các thói quen hàng ngày: mặc quần áo, đi giày dép. Hãy đưa cho con của bạn những bộ quần áo, giày dép mà chúng càn nhưng bỏ lỡ thứ gì đó như 1 chiếc tất, giày để chúng phải yêu cầu thứ còn thiếu từ bạn.
2. Đồ chơi mang tính chất thúc đẩy, có kết thúc nhất định và quá khó để trẻ sử dụng một mình.
Nếu con bạn gặp khó khăn khi tự sử dụng đồ chơi (Chẳng hạn thổi b**g bóng xà phòng/ bóng bay lên dây cót đồ chơi/ cuốn dây con quay, sử dụng đồ chơi có nút bật/nhạc,..), bạn có thể tạm dừng trước khi giúp trẻ chơi đồ chơi và chờ trẻ yêu cầu giúp đỡ, hoặc giao tiếp với bạn bằng sự giúp đỡ, hoặc giao tiếp với bạn rằng trẻ cần sự giúp đỡ của bạn để khiến đồ chơi hoạt động (Trong tình huống này khi con bạn đưa ra được tiến hiệu có thể bằng hành động hay chỉ trỏ hoặc hình ảnh.. gần đúng/đúng. Chúng ta khích lệ và nhớ vừa giúp vừa giải thích hành động giữa mẹ và con).
3. Từng chút một
Nếu con bạn thực sự thích bánh hoặc đi chơi với đồ chơi bi lăn hoặc có đường trượt hoặc bộ tàu hỏa hay ô tô chạy trên đường ray (Ví dụ trong bộ “Thomas tank engine”), thay vì cho trẻ một số và đợi trẻ yêu cầu thêm. Bạn có thể làm điều này nhiều lần và tạo ra nhiều cơ hội cho con bạn yêu cầu nhiều hơn.
4. Cung cấp các thứ trẻ không muốn (Tập cho trẻ nói “không”)
Để khuyến khích con bạn nói “không” một cách thích hợp, hãy cung cấp cho con bạn những điều mà bạn biết rằng trẻ không thích. Bạn có thể làm điều này vào giờ ăn (Ví dụ: mời trẻ món mà trẻ không thích) hoặc hỏi xem trẻ có muốn xem một đĩa DVD mà bạn biết rằng trẻ không thích.
Điều này tạo cho con tự tin từ chối những thứ mà mình không thích (Khi một ai đó cho con thứ gì con không thích bố mẹ cũng đừng ép con phải “ạ” hay “xin” vì đó là hành vi sai lầm ép con làm điều không thích kể cả trẻ bình thường cũng vậy, trẻ sẽ thụ động và sau này ko thể tự quyết định được chủ ý của mình) hoặc ngược lại đưa vật hoặc thứ con thích ra trước mặt để con nói “Có”.
5. Làm điều gì đó bất thường hoặc bất ngờ
Khi bạn tắm cho con bạn, bạn có thể muốn sáng tạo và yêu cầu một trong số các anh chị em của chúng đi vào bồn tắm mà vẫn đang đi tất. Điều này sẽ tạo cơ hội cho bạn và con bạn bình luận về một điều “ngớ ngẩn”.
6. Giấu một món đồ gì đó.
Nếu con bạn chỉ ăn bánh mì với sữa và con bạn thường đi đến tủ lạnh để lấy sữa, hãy giấu hộp sữa để trẻ có thể yêu cầu bạn giúp tìm chai đó.
7. Giữ im lặng.
Thay vì hỏi con bạn những gì trẻ muốn ăn khi trẻ đến nhà bếp, bạn có thể đứng trước tử lạnh/ tủ để đồ ăn và không nói gì cả. Nếu con bạn thực sự đói, trẻ sẽ chỉ ra rằng trẻ muốn một cái gì đó để ăn hoặc uống (và sau đó bạn có thể trả lời).
8. Đề nghị đưa cho trẻ một cái gì đó khác.
Nếu con bạn luôn thích mặc một bộ đồ ngủ cụ thể khi chúng đi ngủ bạn có thể đề nghị cho trẻ một thứ gì đó khác biệt như bộ đồ ngủ mới (có hình ảnh các nhân vật yêu thích của trẻ in trên đó).
9. Sáng tạo những thứ “ngớ ngẩn” (ví dụ: cố tình phạm sai lầm)
Bạn có thể giả vờ rằng bạn không biết điều gì đó, hoặc mắc lỗi “vô tình” (nhưng thực sự bạn cố tình làm điều gì đó để trẻ có phản ứng). Điều này sẽ khuyến khích con bạn giao tiếp với bạn nhiều hơn bằng cách yêu cầu những gì trẻ muốn, nhận xét rằng bạn chưa làm điều gì đó chính xác hoặc bằng cách cho bạn biết cách thực hiện. Ví dụ, bạn có thể giả vờ đi đôi giày của con bạn và đợi phản ứng của trẻ. Bạn có thể cố mở khóa cửa bằng bút chì và để chìa khóa trong tay kia để con bạn có thể cho bạn biết bạn đã làm gì sai và sau đó cần làm gì..
13/08/2023
Trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc chơi, vì trẻ có khiếm khuyết trong giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi rập khuôn . Chơi là một phương tiện trung gian nhằm giúp trẻ phát triển kỹ năng nhận thức như giải quyết vấn đề, sắp xếp thứ tự và bắt chước. Chơi cũng hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, kỹ năng vận động, tương tác xã hội và hiểu biết và giao tiếp với người khác. Trẻ tự kỷ thường có các rối loạn các quá trình cảm giác, chơi và đồ chơi có thể giúp cho trẻ điều hòa các giác quan. Để trẻ tự kỷ chơi được trước hết chúng ta cần phải:
I. XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG CHƠI CỦA TRẺ
Quan sát trẻ chơi sẽ giúp ta hiểu khả năng chơi của trẻ và xác định những lĩnh vực chơi cần triển khai thêm. Trẻ tự kỷ gặp khó khăn về chơi với những kỹ năng sau đây:
– Quan sát và bắt chước trò chơi của người khác
– Đọc ý của người khác
– Hiểu qui tắc, luật lệ
– Luân phiên
– Theo một chuỗi hướng dẫn
– Thay đổi trò chơi
– Hiểu điều trẻ muốn làm và người khác muốn làm có thể khác nhau
– Linh động trong vai trò của mỗi người trong trò chơi
– Chơi giả vờ.
Khi quan sát trẻ chơi, ta cần tự đặt các câu hỏi dưới đây:
1.Trẻ có thích vài đồ chơi nào không? Đồ chơi nào được trẻ thích nhất? Trẻ có thích những đồ chơi quay, chuyển động, hay đồ chơi có chất liệu đặc biệt? thứ gì trẻ sợ hoặc gét nhất?
2.Trẻ dùng đồ chơi như thế nào? Quan sát xem trẻ có xếp thành hàng hoặc phân loại đồ chơi, có hành động lặp đi lặp lại, dùng đồ chơi không phù hợp …
3.Trẻ thích loại trò chơi nào?Trò chơi ồn ào, im lặng, xây dựng, trốn tìm hoặc tương tác với người khác…
4.Trẻ có chơi với ai không? Quan sát cách trẻ tương tác với người lớn và các trẻ khác.
Xác định các mức độ chơi của trẻ tự kỷ
1. Mức độ phát triển chơi
Chơi tạo cảm giác và thăm dò: Trẻ bỏ đồ chơi vào miệng, vẫy, ném, đập đồ chơi lặp đi lặp lại; hoặc dành nhiều thời gian lật úp hoặc thao tác đồ vật một cách rập khuôn.
Chơi quan hệ : Như đập đồ vật với nhau, xếp hàng đồ vật bên cạnh nhau, phân loại đồ vật hoặc chơi xây dựng như tập hợp hay tháo rời, hoặc nối kết các mảnh của một đồ vật.
Chơi chức năng: Trẻ dùng đồ vật với chủ đích như đẩy xe hoặc đặt tách vào miệng.
Chơi biểu tượng/tưởng tượng: Tưởng tượng đồ vật vô tri vô giác( Vd: búp bê và thú nhồi bông) và khả năng giả vờ (áp một khối gỗ vào tai và giả vờ là điện thoại). Tuy nhiên, các nghiên cứu trẻ tự kỷ cho thấy trẻ kém khả năng phát triển trò chơi biểu tượng
2. Mức độ chơi xã hội
Chơi một mình: Trẻ chơi một mình với đồ chơi , không khởi xướng chơi tương tác với người khác.
Chơi song song: Ở giai đoạn này, trẻ ý thức hơn về những người lớn và trẻ em trong không gian chơi của trẻ. Trẻ có thể ngưng chơi để quan sát nhanh hành động của người khác, nhưng không tự động đến gần người khác để cùng chơi. Trẻ có thể chia sẻ một đồ chơi trong thời gian ngắn, nhưng mỗi trẻ tiếp tục chơi theo “chủ đề” của trẻ.
Chơi hợp tác: Ở mức độ này trẻ chứng tỏ khả năng hợp tác trong một chuỗi trò chơi với các bạn. Chơi xã hội phát triển từ chơi luân phiên với người lớn như chơi trốn tìm, đuổi bắt… Trẻ tự kỷ khó chơi hợp tác vì sự khiếm khuyết xã hội và giao tiếp.
II. NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHƠI DỰA VÀO KỸ NĂNG CHƠI CỦA TRẺ TỰ KỶ
1. Phát triển kỹ năng ở mỗi mức độ phát triển chơi
Đối với chơi tạo cảm giác: Động viên trẻ thám hiểm môi trường chơi bằng cách củng cố việc cầm và quan sát đồ chơi, rồi thực hiện một số thao tác đơn giản với đồ vật bằng một tay, trong khi làm một cử chỉ khác với tay kia (vd. vịn tủ trong nhà búp bê trong khi mở và đóng cửa).
Đối với chơi quan hệ: Củng cố trò chơi nối kết hai vật hoặc những phần khác nhau của một đồ vật ví dụ: đập các đồ vật với nhau; xếp hàng, cặp đôi hoặc tập hợp những đồ vật cùng loại.
Đối với chơi chức năng: Chơi chức năng đơn giản – Dạy trẻ dùng một đồ vật với một chủ đích vd.đẩy xe tải quanh phòng, chạm cốc để lên miệng như để uống “khà”, cho búp bê ăn…
Chơi chức năng phức tạp – Trẻ được dạy cách thực hiện tối thiểu hai hành động để tạo một tác động vd.đẩy hộp đồ chơi, nhắm mắt và nhấn nút…
Đối với chơi tưởng tượng: Chơi tưởng tượng đơn giản: dùng một đồ vật tượng trưng cho một vật khác, như dùng khối tượng trưng cho xe lửa, ghế tượng trưng cho ngựa…Chơi tưởng tượng đơn giản, hành động trên người khác: ví dụ: cho búp bê uống sữa…
Chơi tiêu biểu bằng cách dùng tối thiểu 2 hành động trên bản thân.Vd: giả vờ rót nước và uống bằng ly; đội nón và đẩy xe tải chứa đồ chơi quanh nhà, chất khối lên xe rồi đổ khối xuống khi xe dừng lại…
2. Phát triển kỹ năng xã hội
Đối với chơi một mình
Nguyên tắc chính là hỗ trợ trẻ tương tác với người khác: Người chăm sóc ngồi bên cạnh trẻ cố gắng gây sự chú ý của trẻ đang chơi bằng cách bắt chước hành động và âm thanh của trẻ, hoặc chơi với một đồ vật trẻ thích và giúp trẻ tham gia chơi khi trẻ đến gần để lấy lại món đồ chơi.Người lớn chơi ở tầm mức của trẻ với những đồ chơi trẻ thích như: Nước/cát, khối, âm nhạc…
Đối với chơi song song
Nguyên tắc chính ở giai đoạn này là giới thiệu trò chơi khám phá và xã hội nhiều hơn. Vd: Chia sẻ sự chú ý liên kết, đáp ứng với những nhu cầu cơ bản, động viên chơi luân phiên.
Ví dụ: Bố trí một cặp người lớn với trẻ ngồi cạnh một cặp người lớn và trẻ khác. Mỗi cặp chơi giống nhau, và người lớn kéo sự chú ý của trẻ qua cách chơi của cặp kia. Khuyến khích mọi cố gắng của trẻ quan tâm và chia sẻ sinh hoạt với cặp kia.
Đối với chơi hợp tác: Được phân ra nhiều bước cụ thể. Một trong những nguyên tắc khi chơi với trẻ tự kỷ ở giai đoạn này là nới rộng nhu cầu tương tác với người khác; động viên sự chọn lựa; tiếp tục nhấn mạnh chia sẻ chú ý liên kết; phát triển kỹ năng đương đầu với việc thay đổi sinh hoạt/chuyển tiếp; và chờ đến phiên.
Ví dụ: Giới thiệu sinh hoạt nhóm như hát/chơi nhạc, chơi nước/cát, trò chơi xây dựng chung. Dùng lời nói đơn giản và/hoặc công cụ nhìn để minh họa những hành động trẻ cần thực hiện trong sinh hoạt, làm mẫu cho trẻ xem . Dùng “rổ xong rồi” để cho trẻ biết khi nào kết thúc trò chơi.
III. MỘT SỐ ĐỒ CHƠI DÀNH CHO TRẺ TỰ KỶ
Đồ chơi hấp dẫn về thị giác: điểm mạnh của trẻ tự kỷ là học bằng thị giác, vì vậy những đồ chơi, đồ vật hấp dẫn về thị giác có kết hợp với chuyển động và âm thanh kết hợp vận động của tay đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển chú ý chung của trẻ tự kỷ. Một số ví dụ về đồ chơi:
– Thổi bóng xà phòng
– Ô tô dây cót có âm thanh và ánh sáng, đóng mở cửa
– Chóng chóng
– Lô gô, đồ chơi chồng lắp.
– Thả hình vào cột hoặc hộp
– Đàn gõ
– Vòng lò xo ngũ sắc
– Bóng g*i phát sáng.
– Các đèn phát sáng màu khác nhau
– Ghép hình.
– Tranh ảnh (ánh chụp, lô tô, sách tranh, truyện, tranh chủ đề…)
Đồ chơi giả vờ: để phát triển chơi tương tác với người khác và khả năng tưởng tượng. Ví dụ một số đồ chơi:
– Búp bê, thú bông
– Bộ cốc chén, nấu ăn…
– Bộ cắt hoa quả
– Bàn chải, lược, bát thìa, giấy ăn…
– Nhà, ô tô, ….
– Trò chơi giả vờ: đóng vai
Đồ chơi vận động tinh: để phát triển kỹ năng vận động phối hợp tay mắt, bắt chước, sự kiên trì, điều hòa rối loạn cảm giác.
– Bảng từ, giấy, bút sáp và chì mầu…
– Đất nặn
– Kéo cắt, giấy màu
– Xâu con giống, hạt..
– Lô gô, lắp ghép
– Nhặt vật nhỏ, gấp, xé, bóc, kẹp…
Các trò chơi tạo sự uyển chuyển: có tác dụng tạo không khí vui nhộn, tương tác và điều hòa vận động
– Bài hát đồng giao kết hợp với các động tác cơ thể: Nu na nu nống, kéo cưa, nhong nhong, chi chành, đập “je”, dung dăng dung dẻ…
– Bài hát về cơ thể kết hợp động tác…
– Bài hát về con vật kết hợp với các động tác.
Đồ chơi vận động cơ thể: trẻ thích tham gia vào loại trò chơi này hơn là vì ít cần óc tưởng tưởng, ít phải dùng ngôn ngữ, nó làm giảm hành vi định hình, cải thiện điều hòa vận động. Ví dụ:
– Cầu trượt, xích đu, bập bênh…; Đá, ném bóng…
– Lăn hoặc nhún trên bóng to; Bàn nhún, câu thăng bằng…
– Kéo dây chun; Xe đạp, xe lắc
Đồ chơi để điều hoà cảm giác vận động
IV. MỘT SỐ HƯỚNG DẪN KHI CHƠI VỚI TRẺ
– Tạo ra ngang tầm mắt với trẻ, cố gắng tạo ra sự chú ý của trẻ vào người chơi và người chơi cũng phải chú ý vào hành động trẻ đang làm
– Dùng từ thật đơn giản hướng tới vật trẻ đang nhìn hoặc hành động trẻ đang làm. Ví dụ trẻ nhìn thổi bóng thì nói “bóng”, chọc ngón tay vào bòng nổ thì nói “bùm”…
– Chơi hồn nhiên, bắt chước hành động chơi của trẻ, tạo không khí vui nhộn, hào hứng mới thúc đẩy được trẻ tương tác với người chơi.
– Có thể lặp đi lặp lại một số từ lệnh, tạo sự tiên lượng ở trẻ, ví dụ: môt, hai…ba “mở”, giơ tay chờ đợi hành động đập “je”.
– Có phần thưởng: Khi trẻ làm được phần thường là lời khen ngợi và kết hợp tác động vui nhộn vào cơ thể hoặc đồ ăn hoặc thứ trẻ thích.
– Các đồ chơi nên xếp riêng từng loại vào từng hộp nhựa có nắp và dán nhãn bên ngoài là ảnh hoặc biểu tượng về đồ chơi đó, trẻ chơi từng thứ một, chơi xong dạy trẻ cất phải cất gọn gàng ngăn nắp. Nên có rổ có biểu tượng “xong rồi” đi cùng mỗi khi chơi để yêu cầu trẻ kết thúc trò chơi. Hỗ trợ trẻ nếu trẻ không biết chơi theo cách “ cầm tay chỉ việc và giảm dần sự giúp đỡ”
– Với trẻ chưa biết chơi hoặc mức độ nặng thì ban đầu khi chơi cần 2 người: một người là đối tác chơi, một người hỗ trợ trở chơi, sâu đó đổi lại vai.
– Các trò chơi nhóm nên tạo cho trẻ sự chờ đợi và biết lượt chơi.
Nguồn: Sưu tầm
Dorami Center
20/07/2023
TRẺ CẦN BIẾT CHƠi TRƯỚC KHI BIẾT NÓI 🥰
❤Thông thường, các trẻ đặc biệt mà ta hay gọi là trẻ VIP, thường có những khó khăn về ngôn ngữ, hay đúng hơn là hạn chế về lời nói, vì các em vẫn có thể giao tiếp bằng cử chỉ . Điều này là tâm điểm cho nỗi lo của bố mẹ, và 10 người thì hết 11 người khi đưa con đi khám, tìm trường, tìm lớp, tìm GV là đều đặt ra mục đích, yêu cầu : Làm sao con tôi nói được.
❤Chính vì quá chú ý đến lời nói, nên chúng ta lại quá tập trung vào các kỹ thuật “ bật âm” để làm sao cho trẻ mau biết nói, và kết quả thường là trẻ chỉ có thể lập lại, nhại lời hay cùng lắm là hỏi gì đáp nấy bằng những từ đơn hay đôi cụt lủn.
❤Hãy thử nghe một mẩu đối thoại :
Con nhìn đây, cái gì đây ? …cái nhà ! Yeah, giỏi lắm, con gì đây ? Con vịt… Yeah giỏi lắm …..Con muốn ăn gì ? …con muốn ăn gì ? … Không, cô hỏi : Con muốn ăn gì ? con con phải nói Con ăn bánh . lập lại ..con muốn ăn gì – con ăn bánh … Không, con chỉ trả lời, không nhắc lại câu hoi của cô , lập lại …. Nghe có quen không ?
❤Thực ra, trước khi tập nói, các em cần được phát triển những kỹ năng không lời hay còn gọi là kỹ năng “tiền lời nói”. Những kỹ năng không lời này bao gồm :
👉Biết sử dụng đồ vật,
👉Hình thành khả năng bắt chước,
👉Kỹ năng nhìn vào đồ vật người khác chỉ, sau đó chỉ vào đồ vật để làm người khác chú ý.
👉Quan trọng nhất là kỹ năng luân phiên ( chơi và hoạt động lần lượt với mẹ, giáo viên và sau đó là trẻ khác.
❤Chúng ta biết rằng, để khám phá môi trường, trẻ cần phải biết cách sử dụng đồ vật. điều đầu tiên là trẻ cần biết đồ vật vẫn tồn tại tuy không còn nhìn thấy nữa. ( chính vì không biết điều này nên nhiều trẻ VIP không thích thay đổi vị trí các đồ dùng, còn đồ chơi thì xếp theo đúng 1 trình tự, hay 1 hàng thẳng và tỏ ra hoảng sợ khi thấy mọi thứ biến mất trong bóng tối ! ) Để xác định trẻ có kỹ năng này hay không, cha mẹ/GV có thể đặt đồ chơi trước mặt trẻ và khi trẻ tỏ ra chú ý đến đồ chơi đó, ta trải miếng vải phủ lên trên đồ chơi và đợi phản ứng của trẻ.
❤Nếu trẻ ý thức rằng đồ chơi vẫn còn ở đó thì sẽ có phản ứng như lấy ra miếng vải để tìm lại đồ chơi phía bên dưới. Nhưng nếu trẻ không nhận ra điều đó, sẽ quay đi tìm món đồ chơi khác. Trong trường hợp trẻ đã trên 3 tuổi mà vẫn còn không biết cách chơi với đồ vật và thường cho vào miệng cắn, cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển bước kế tiếp, đó là chơi với đồ vật theo hình dáng/chức năng hoặc làm mẫu cách chơi với đồ chơi một cách thích hợp :
Ví dụ : như đẩy cho xe chạy, chải tóc cho búp bê, ném banh). Bước này quan trọng để giúp trẻ bắt đầu khám phá đồ vật một cách thích hợp hơn.
❤Sau khi trẻ biết chơi với từng món đồ chơi một, trẻ cần chơi với hai đồ vật cùng một lúc như quậy muỗng trong ly, cho búp bê bú bình sữa v.v… Kế tiếp, trẻ sẽ được tập chơi theo trình tự, nghĩa là chơi theo thứ tự như cho búp bê bú, lau miệng cho búp bê, đặt búp bê lên giường ngủ…Tất cả hoạt động này, trẻ sẽ học bằng cách bắt chước người chơi với mình.
❤Chúng ta nên biết rằng, mỗi một hoạt động sẽ phải trải qua 3 giai đoạn :
👉Giai đoạn người dạy làm mẫu và khuyến khích trẻ nhìn và làm theo.
👉Giai đoạn trẻ và người dạy cùng làm ( đây là giai đoạn dài nhất )
👉Giai đoạn trẻ có thể tự làm, người dạy khuyến khích.
Đối với trẻ chưa biết bắt chước, Người dạy : ND( Giáo viên/ cha mẹ ) có thể tập khả năng bắt chước qua những hành động tay chân trước, như nhảy lên nhảy xuống hoặc vỗ tay; khi trẻ thích bắt chước hành động, ND có thể giúp trẻ bắt chước lè lưỡi ra, đưa đầu lưỡi lên, cười, phồng hai má ra, v.v… Đây là một cách tập phối hợp bắp cơ miệng để sau này tập nói. Đồng thời có thể khuyến khích trẻ tập bắt chước tiếng nói đơn giản như là “a a, ba ba”.
❤Một cách khác giúp trẻ bắt chước là ND bắt chước các hành động của trẻ trước. Nếu trẻ nói a a, thì ND nói theo a a. Nếu trẻ lên xuống giọng nói, cha mẹ lặp lại y chang như vậy. Có thể soi gương cùng với trẻ để giúp trẻ chú ý và thích thú bắt chước. Sau khi đã bắt chước trẻ và tạo sự chú ý cho bé, ta có thể chủ động lặp lại những hành động đó để trẻ làm theo.
❤Chỉ đến khi trẻ đã làm theo một cách vui vẻ, chúng ta mới bắt đầu đưa vào những hoạt động can thiệp tiếp theo mà chúng ta muốn trẻ làm một cách đơn giản và phải nhắc lại nhiều lần để trở thành một thói quen.
Như vậy thông qua món đồ chơi làm vật trung gian, chúng ta giúp cho trẻ tạo mối quan hệ tương tác giữa con và bố mẹ. Đó gọi là “tam giác giao tiếp” cần thiết cho chương trình can thiệp sớm cho trẻ. TRẺ – ĐỒ CHƠI – NGƯỜI DẠY.
❤Để tập nhận biết, lưu hình ảnh của vật vào trí nhớ, dùng làm vốn từ để cho giai đoạn nói ra sau này , Trẻ cần tập kỷ năng nhìn vào đồ vật mà người dạy chỉ vào và biết chỉ tay vào đồ vật để phát triển ngôn ngữ. Thông thường, khi trẻ có nhu cầu muốn lấy một vật gì, thường là nắm lấy cánh tay của bố mẹ, kéo đến gần vật muốn lấy và bố mẹ phải đoán được nhu cầu của trẻ.
❤Vì vậy, khi trẻ tỏ ra có nhu cầu và phụ huynh hay giáo viên “đoán được” thì thay vì đợi trẻ kéo tay đến gần vật muốn lấy, ta sẽ dùng tay để chỉ vào vật đó và hỏi trẻ bằng một từ ngắn gọn: Bánh? Sữa? ly? chén? ( nói ra tên vật mà trẻ chỉ vào) Khi trẻ chấp nhận và nhìn vào vật muốn lấy, ta sẽ lấy cho bé và nhắc lại : con uống sữa, sữa nè… để trẻ dần dần nhớ được từ mà mình muốn dạy cho trẻ nhớ.
❤Trong trường hợp trẻ nắm tay ND để kéo đến vật muốn lấy ( mà trẻ không tự lấy được) thì ND sẽ khéo léo chuyển cánh tay để dùng bàn tay nắm lấy cánh tay của trẻ và kéo tay trẻ chỉ vào vật mà trẻ muốn lấy, đồng thời nói to tên của vật đó ( lập lại nhiều lần ) để sau vài lần chỉ như vậy thì trẻ sẽ nhận ra tên của vật đó. Khi đã biết tên, và biết chỉ tay thì lúc đó mới yêu cầu trẻ nói lên tên của vật ( sua khi đã nghe ND nói nhiều lần )
Như vậy kỹ năng nhìn vào đồ vật mà người khác đang chỉ và chỉ vào đồ vật để làm người khác chú ý. Sẽ là cơ sở để trẻ hình thành nhu cầu giao tiếp và sau đó là kỹ năng ngôn ngữ.
❤Những trẻ hiểu được ý nghĩ của người khác sẽ giao tiếp dễ dàng hơn. Nói một cách khác, nên tạo ra “tam giác giao tiếp” một đầu là người nói, đầu thứ hai là trẻ và đầu thứ ba là đồ vật. Những “tam giác giao tiếp” thông qua các trò chơi tương tác là cách tốt nhất cho trẻ học ngôn ngữ. Khi giao tiếp với trẻ, nên tạo ra nhiều cơ hội có “tam giác giao tiếp,” nghĩa là cha mẹ và con tập trung vào một việc. Những lúc tập trung với nhau như vậy không cần lâu, đôi lúc chỉ là 1-2 phút nhưng càng nhiều lần như vậy, trẻ càng tiếp thu nhiều hơn.
St
18/07/2023
Hỗ Trợ Trẻ Tự Kỷ Đi Vệ Sinh
Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong vấn đề đi vệ sinh. Dưới đây là một số cách hỗ trợ trẻ trong quá trình đi vệ sinh
1. Làm quen với bồn cầu
- Trước tiên, cha mẹ cần hiểu rằng vấn đề cốt lõi trong việc dạy trẻ ngồi bồn cầu chính là giao tiếp và tập luyện cùng con. Nên coi tập ngồi bồn cầu như một chuỗi các mục tiêu nhỏ, thay vì một đích lớn.
- Ví dụ, hãy bắt đầu bằng cách cho bé làm quen với bồn cầu, giải thích cho bé hiểu bồn cầu dùng để làm gì và sử dụng nó thế nào. Sau đó mới tiến tới luyện cho bé ngồi bồn cầu. Cha mẹ có thể sử dụng biện pháp trực quan hay hình ảnh để trẻ có thể hình dung được bồn cầu như thế nào.
- Ngồi bồn cầu là một nhiệm vụ phức tạp, bao gồm nhiều bước nhỏ. Sẽ dễ dàng hơn cho bé nếu cha mẹ chia nhỏ nhiệm vụ này thành những phần cơ bản nhất và từng bước hướng dẫn bé thực hiện những phần này.
2. Thiết lập thời gian biểu đi vệ sinh
- Một số trẻ em được được đào tạo đi vệ sinh thông qua thói quen. Hình thành thói quen liên quan đến việc đi vệ sinh vào những thời điểm đã được thiết lập sẵn, là việc đưa trẻ đến nhà vệ sinh vào những thời điểm đã được định sẵn trong ngày, hằng ngày.
- Bên cạnh đó, cha mẹ có thể sử dụng các phương tiện hỗ trợ như đồng hồ hẹn giờ, khi đồng hồ hẹn giờ kêu thì trẻ đã đến giờ đi vệ sinh. Sau khi đi vệ sinh xong thì trẻ ra chạm tay vào chuông bấm, báo hiệu đã đi vệ sinh xong
3. Sử dụng hình ảnh hỗ trợ trong nhà vệ sinh
- Khó khăn của trẻ tự kỷ là không biết lắng nghe để học qua lời cha mẹ chỉ dẫn, mà các bé sẽ tự học theo cách của mình, qua tranh ảnh cũng sẽ khả quan bởi trẻ biết bắt chước và làm theo một cách khuôn mẫu. Chính vì vậy bạn không nên bỏ qua bước này
- Cha mẹ có thể sử dụng tranh ảnh dán trong nhà vệ sinh, quy trình các bước đi vệ sinh để trẻ quan sát một cách tốt nhất
4. Hướng dẫn trẻ kéo quần lên xuống
- Trong quá trình hướng dẫn trẻ đi vệ sinh, hãy cho trẻ mặc những quần áo mà trẻ có thể dễ dàng tự kiểm soát: không nên để các dây vải thắt lưng trên quần và váy hoặc đầm quá dài. Quần áo cần phải được thoải mái vì vậy hãy để ý các nhãn, thẻ hoặc vỉa có thể chà xát, gây khó chịu.
- Trẻ cần được hướng dẫn cách kéo quần lên xuống một cách thuần thục. Vì thế, cha mẹ cần chia kỹ năng thành các bước nhỏ trong việc muốn dạy trẻ kéo quần lên, xuống, cha mẹ sẽ làm mẫu kéo quần lên hông của trẻ và sau đó trẻ sẽ kéo quần lên đến thắt lưng của mình. Lần tiếp theo, bạn hãy kéo quần gần lên đến hông của trẻ và trẻ sẽ tự động kéo chúng trên hông và eo của mình. Quy trình lặp lại đối với việc kéo quần xuống. Cha mẹ cần kiên trì và thực hiện nhiều lần
5. Sử dụng biện pháp động viên - khen thưởng cho trẻ
- Trong quá trình hướng dẫn trẻ đi vệ sinh, cha mẹ hãy động viên, khuyến khích trẻ bằng các cử chỉ như nắm tay, vỗ tai, những lời nói khích lệ trẻ như: “Con giỏi lắm, cố lên nào”
- Bên cạnh đó, cha mẹ có thể thiết lập bảng phần thưởng bằng những đồ chơi, đồ ăn mà trẻ yêu thích để tạo động lực cho trẻ
6. Tạo cảm giác an toàn
- Một số trẻ tự kỷ nhạy cảm với âm thanh của quạt hút mùi, vì thế cha mẹ có thể tắt hoặc làm giảm tiếng ồn của quạt để trẻ an tâm khi vào nhà vệ sinh
- Hãy để ý đến sàn nhà, xem sàn nhà có ẩm ướt gây khó chịu hay không, cha mẹ có thể sử dụng các miếng lót sàn hỗ trợ bàn chân để giảm sự căng thẳng, lo lắng của trẻ khi ngồi trong nhà vệ sinh
- Gần bồn cầu, cha mẹ có thể để một chiếc ghế nhỏ để con đặt chân. Điều đó có thể giúp con ngồi thoải mái hơn trên toilet
- Bên cạnh đó, cha mẹ có thể cho con cầm một món đồ chơi mà con yêu thích trong lúc con đi vệ sinh để cho con yên tâm.
7. Kiên trì luyện tập nhiều lần
Có rất nhiều yếu tố cần được xem xét khi quyết định thời điểm thích hợp để bắt đầu hỗ trợ trẻ đi vệ sinh. Chính vì vậy, cha mẹ cần sắp xếp, bố trí thời gian hợp lý, cân bằng công viễ, không quá căng thẳng
- Kiên trì lặp lại nhiều lần theo thời gian biểu đã đặt ra
- Không ép trẻ thực hiện khi trẻ không muốn tránh tạo cảm giác khó chịu, căng thẳng cho trẻ.
- Luôn tạo môi trường an toàn, vui vẻ trong quá trình rèn luyện cho trẻ
07/05/2022
QUÁ TRÌNH PT NGÔN NGỮ Ở TRẺ EM - TRẺ CHẬM NÓI.
🧍♂️Giai đoạn phát triển ngôn ngữ bình thường của trẻ được biểu hiện như sau:
• Từ 3 - 6 tháng: trẻ bắt đầu chăm chú nhìn vào người nói chuyện. Quay đầu về phía có tiếng động phát ra.
• Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau.
• Nói được nguyên âm “a”, từ “ba”, “bà”.
• Từ 6 - 9 tháng: nói được 2 âm khác nhau như “ma ma”, “da da”.
• Từ 9 - 12 tháng: trẻ phát âm “ê”, “a” kéo dài thành một chuỗi âm thanh như người lớn nhưng không rõ từ.
• Tùy theo mỗi trẻ, nhưng khi được khoảng 11 tháng hay 1 tuổi có trẻ nói được khoảng 2 - 3 từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà.
• Từ 12 - 15 tháng: trẻ có thể phát âm như tiết tấu âm nhạc để giữ cho câu chuyện tiếp tục.
• Từ 15 - 18 tháng: sử dụng được 4 từ, thường là tên con vật kết hợp với cử chỉ, đưa tay vẫy, chỉ. Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau. Ở giai đoạn này, trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu. Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộc khi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố, hình con cá hoặc hình con chó…
• Từ 18 tháng đến 2 năm: biết khoảng 25 từ, gọi tên người, chào hỏi, từ chối.
• Từ 2 - 3 tuổi: nói rất nhiều, biết từ 50 - 200 từ, tự nói chuyện khi chơi. Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị. Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản.
Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/không?. Sau giai đoạn này, trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều các câu phức tạp, hình thành được các câu chuyện dài với nội dung khá logic.
• Từ 3 - 4 tuổi: trẻ nói được các câu phức tạp trẻ bắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt. Tự kiểm soát được cường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái gì, ở đâu, tại sao...
👉Nguyên nhân khiến trẻ chậm nói:
Nguyên nhân làm trẻ chậm nói được xếp thành 2 nhóm chính là nguyên nhân thực thể và nguyên nhân tâm lý:
• Nguyên nhân thực thể là do trẻ có những vấn đề về cơ quan phát âm (tai, mũi, họng).Cụ thể trẻ chậm nói có thể do khiếm khuyết ở miệng, như vấn đề về lưỡi hoặc hở hàm ếch. Nếu lưỡi bị ngắn (do nếp gấp dưới lưỡi) có thể hạn chế chuyển động lưỡi khi nói. Nhiều trẻ em bị chậm phát triển nói do có vấn đề về răng miệng. Trẻ gặp khó khăn trong sử dụng và phối hợp giữa môi, lưỡi, và hàm để tạo âm thanh lời nói. Lúc này, vấn đề khó khăn bé gặp phải không chỉ là nói mà còn khó khăn trong một số hoạt động khác như khi ăn, uống. cơ quan chỉ huy (não bị dị tật bẩm sinh, bại não, những di chứng sau xuất huyết não, viêm màng não...)
• Nguyên nhân tâm lý là do gia đình hoặc quá cưng chiều, hay bỏ bê trẻ, hoặc đã xảy ra một biến cố nào đó làm ảnh hưởng đến tâm lý trẻ.
💁Khi nào cần can thiệp?
Trước tiên cha mẹ, người thân cần chú ý chăm sóc, quan tâm phát triển kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ phù hợp với độ tuổi, và cần can thiệp sớm khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường về phát triển ngôn ngữ.
👉Dấu hiệu cho thấy bé chậm nói:
- Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 – 8 tuần tuổi.
- Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng.
- Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng.
- Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng.
- Không cười tự phát lúc 6 tháng.
-Không bập bẹ lúc 8 tháng.
- Ở thởi điểm 12 tháng không sử dụng cử chỉ, ví dụ chỉ tay hoặc vẫy tay bye-bye.
- Ở thời điểm 18 tháng tuổi bé vẫn dùng những cử chỉ thay cho phát âm để giao tiếp.
- Có vấn đề rắc rối nếu không bắt chước được âm thanh khi 18 tháng tuổi. Vốn từ của bé ít hơn 6 từ. Bé thích dùng cử chỉ hơn là phát âm để giao tiếp. Không hiểu các yêu cầu bằng lời nói đơn giản.
-Không nói được từ đơn lúc bé 2 tuổi. Chỉ nhắc đi nhắc lại vài từ mà không thể sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp theo đúng sự phát triển bình thường.
- Không nói được một câu đơn giản khi bé 3 tuổi.
🏠Nếu thấy trẻ có một trong những biểu hiện trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra. Tùy theo mức độ chậm nói và độ tuổi của trẻ các bác sĩ, nhà trị liệu sẽ có nhiều hình thức can thiệp khác nhau như tư vấn, hướng dẫn cha mẹ huấn luyện ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình, hoặc cần kết hợp chuyên gia ngôn ngữ, tâm lý và bác sĩ để can thiệp thúc đẩy ngôn ngữ ở trẻ.
Đối với trẻ chậm nói do nguyên nhân thực thể, đa phần là do trẻ có vấn đề về thính lực. Các bác sĩ phải điều trị về thính lực cho trẻ. Đối với trẻ bị điếc nhẹ và điếc trung bình thì việc điều trị trước 5 tuổi rất có hiệu quả. Trong những trường hợp điếc do viêm tai, thủng màng nhĩ, trẻ sẽ được điều trị bằng phẫu thuật, vá màng nhĩ để nâng sức nghe. Với những trường hợp không nghe lại được thì phải can thiệp bằng cách đeo máy nghe.
🎒Các nguyên tắc cơ bản giúp cho trẻ cải thiện khó khăn về ngôn ngữ:
1. Giúp trẻ xây dựng mối quan hệ gắn bó:
Cha mẹ cần giúp trẻ hình thành mối quan hệ gắn bó với mình trong việc gần gũi với trẻ, cùng chơi đùa, cùng ăn uống, cùng trò chuyện với sự thân thiện và tôn trọng trong một môi trường an toàn và vui vẻ.
Cha mẹ nên khám phá những mặt mạnh, những điểm tích cực của trẻ để khuyến khích, nâng đỡ chứ không lèo lái các hoạt động của trẻ theo ý mính, không “ xâm phạm lãnh thổ cá nhân” của trẻ. Tuyệt đối không la mắng, trừng phạt bằng đòn roi mà chỉ là sự nhắc nhở rõ ràng và kiên quyết.
2. Giúp trẻ biết cách bầy tỏ nhu cầu:
Cha mẹ cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay (làm thay cho trẻ). Những hành vi bùng nổ, la hét, tự hành hạ ( đập đầu, cào cấu, nằm lăn ra đất…) cũng chỉ là một loại “ngôn ngữ không lời” che dấu một nhu cầu, một ước muốn. Cha mẹ nên hết sức bình tĩnh để phân biệt các nhu cầu thực sự và những đòi hỏi, nhõng nhẽo quá đáng của trẻ. Cho trẻ biết đâu là sự giới hạn, sự cho phép và những điều không được phép làm với một ngôn ngữ không đe dọa hay mua chuộc.
Phải biết nói KHÔNG với những yêu cầu không thích hợp, nhưng đồng thời cũng cho phép trẻ có thể TỪ CHỐI bằng lời nói hay những hành động đơn sơ của mình, và cũng thông báo điều này cho mọi người có liên hệ với trẻ. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.
3. Giúp trẻ tham gia các hoạt động tâm vận động:
Trong một ngày, trẻ cần có một khoản thời gian nhất định ( tuỳ điều kiện để bố trí vào buổi sáng hay chiều, tối và chỉ kéo dài tối đa 60 – 90 phút ) – Trong buổi sinh hoạt này, trẻ sẽ vừa chơi vừa học bằng những họat động tạo vui thú như leo trèo, nhảy, xây dựng – phá hủy ( mô hình – khối gỗ…) trốn tìm ( chơi bịt mắt – chơi tìm và đoán các đồ vật bị che dấu).
Qua các trò chơi tương tác giữa mẹ và con, trẻ học được cách chờ đợi ( lần lượt làm, đến phiên mình) qua đó cũng biết luôn về giá trị của thời gian, biết phân biệt trước, sau. Hoạt động này giúp trẻ giải tỏa ức chế, phóng ngoại và xây dựng ý thức về bản thân, tạo điều kiện cho trẻ biết chọn lựa, vui thú và hành động tự chủ.
4. Trò chơi “Bập bẹ - líu lo” vận dụng các cơ quan phát âm của trẻ:
Cha mẹ khích lệ trẻ tự nói, dù chỉ là những tiếng bập bẹ, líu lo. Hãy xem đó như một trò chơi, khi trẻ nói cha mẹ sẽ bắt chước nói lại với những âm thanh tương tự, nhưng sẽ có những điều chỉnh và mở rộng hơn. Cha mẹ cũng có thể thu băng các lời nói của trẻ và sau đó phát lại cho trẻ nghe, điều này sẽ khích lệ trẻ phát âm nhiều hơn.
5. Lặp lại một số âm thanh và từ ngữ có trong ngôn ngữ bình thường:
Sau khi trẻ đã phát ra nhiều âm thanh trong lúc vui đùa, cha mẹ chọn lọc những âm thanh nào tương tự, gần giống với những từ phổ biến hàng ngày để nhắc lại cho trẻ ghi vào bộ nhớ.
Ví dụ : trẻ nói :Mờ, mờ - Mẹ: Má , trẻ: Bờ bờ - Mẹ: Ba, Trẻ: Chờ, chờ - Mẹ: Chơi, trẻ: Cờ cờ - Mẹ: Con.
Hoạt động này giúp trẻ biết cách phát ra ngôn ngữ bình thường. Tập cho trẻ phát ra những câu có 2 từ : ba về, đi chơi, cho con, cho má….
6. Giúp trẻ biết cách kết hợp và sắp xếp các đồ vật, hình ảnh và ngôn từ với nhau:
Cha mẹ xếp đặt một số mẫu vật dụng trước mặt trẻ và bảo trẻ làm lại giống như mình: Xếp cốc vào một chỗ, xếp thìa lại với nhau, xếp hình các con vật giống nhau cạnh nhau, xếp từ ghi tên đồ vật, con vật vào dưới ảnh của đồ vật hay ảnh con vật đó.
Cho trẻ xếp theo trình tự:
1/ Hình thể và màu sắc hoàn toàn giống nhau.
2/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc – kích thước tương tự
3/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc và kích cỡ khác nhau
4/ Chữ và hình đồ vật ( chữ GẤU dưới hình con Gấu)
Sắp xếp theo công dụng:
1/ Các dụng cụ học tập ( viết, tập, gôm…)
2/ Các dụng cụ làm bếp, các dụng cụ trong phòng khách, phòng ăn…
Sắp xếp theo khu vực hoạt động:
1/ Các sinh vật trên trời, dưới biển, trong rừng
2/ Các đồ vật ở nhà, trong Siêu thị, ngoài đường phố.
7. Giúp trẻ nghe và hiểu một số từ thông thường, qua việc thi hành những mệnh lệnh đơn sơ:
Bước đầu tập cho trẻ đi lấy những món đồ chơi, những đồ dùng hàng ngày, sau đó thông qua hình ảnh, nâng cao vốn từ cho trẻ để có thể nhận ra và chỉ từ 25 – 100 món đồ.
8. Giúp trẻ gọi tên từ 25 – 100 đồ dùng và các hoạt động thường ngày:
Thông qua các hình ảnh, trò chơi và các hoạt động hàng ngày để tạo điều kiện và khuyến khích trẻ có thể gọi tên các đồ vật và hoạt động hàng ngày.
9. Giúp trẻ hiểu biết và nói về các hoạt động trong gia đình:
Xây dựng một lịch hoạt động để trẻ ý thức được các hoạt động trong ngày, biết và xác định được các thời điểm ( trước/sau) các công việc nối tiếp để tạo sự ổn định tâm lý cho trẻ.
Lịch hoạt động ghi lại những hoạt động chính trong 1 ngày ( từ sáng đến tối) và trong 1 tuần ( từ thứ 2 – chủ nhật) bằng các hình vẽ đơn giản và lời minh họa ngắn gọn.
10. Biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu hỏi gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì bỏ qua và nhắc lại câu hỏi. Đừng hỏi nhiều và tản mạn, cần tập trung vào một chủ đề ( Ví dụ: các loại bánh – các loại đồ dùng trong nhà bếp/phòng ăn/phòng ngủ)
11. Giúp trẻ nhận biết và sử dụng chữ và số:
Thông qua các trò chơi kết hợp hình ảnh và chữ viết
Khi tập cho trẻ nhận biết về con số, không phải là biết nhìn ra từ số 1 -10 hay đọc được đến 100, mà là biết rõ số lượng ( hai cái bánh, hai cái chén, hai con vịt…ba cái ly ) và mối tương quan ( hai cái ly thì nhiều hơn một cái ly ) – Khi được yêu cầu, trẻ có khả năng lấy ra 2,3 hình cái ly trong một loạt các hình bầy trước mắt. Trẻ có thể ghép được chữ Bàn ở dưới hình cái bàn.
12. Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè
Chơi đùa là một hoạt động rất quan trọng, qua các trò chơi trẻ có thể thiết lập mối quan hệ tốt với bố mẹ và bạn bè. Ngay cả trong các hoạt động hàng ngày cũng nên đưa vào những câu nói và ý tưởng như một trò chơi ( Đố con lấy được cho mẹ hai cái chén sứ trong tủ chén – Đố con lên cầu thang trước mẹ …) Trong các ngày nghỉ, Lễ Tết, sinh nhật hãy tạo điều kiện cho trẻ đến chơi các công viên, khu vui chơi hay mời các trẻ quen biết lại nhà chơi.
(Tài liệu ST)
______________________________________
🌻LỚP HỌC ĐẶC BIỆT SUNSHINE🌻
💁♀️Nhận dạy : + Các bạn có nhu cầu đặc biệt " Chậm nói, RLP tự kỷ, tăng động giảm chú ý, down, bại não, khuyết tật trí tuệ, khó khăn trong học tập.
+ Rối loạn âm lời nói ( Ngọng)
+ Tiền tiểu học
🏠 Ngõ 67, Phố Cầu Cốc, Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, HN.
☎️ 0963.001.541
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Telephone
Website
Address
Thanh Hóa
Opening Hours
| Monday | 07:00 - 20:00 |
| Tuesday | 07:00 - 20:00 |
| Wednesday | 07:00 - 20:00 |
| Thursday | 07:00 - 20:00 |
| Friday | 07:00 - 20:00 |
| Saturday | 07:00 - 18:30 |