20 NHẬN ĐỊNH VĂN HỌC ĐẮT GIÁ GIÚP BÀI VĂN NGHỊ LUẬN ĐẠT ĐIỂM 8+
1. Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là ở con người. - Nguyễn Văn Siêu
2. Cuộc bể dâu mà con người nhìn thấy trong văn thơ dân tộc là máu trong trái tim của người nghệ sĩ. - Tố Hữu
3. Nhà văn phải là những người đi tìm, gắng đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu sâu trong tâm hồn của con người. - Nguyễn Minh Châu
4. Cảm động lòng người trước hết không gì bằng tình cảm và tình cảm là cái gốc của văn chương. - Bạch Cư Dị
5. Những cuộc chiến qua đi, những trang lịch sử của từng dân tộc được sang trang, các chiến tuyến có thể dựng hay san bằng. Nhưng những tác phẩm đi xuyên qua mọi thời đại, mọi nền văn hoá hoặc ngôn ngữ cuối cùng vẫn nằm ở tỉnh nhân bản của nó. Có thể thấy màu sắc, quốc kì, ngôn ngữ hay màu da chúng ta khác nhau. Nhưng máu chúng ta đều màu đỏ, nhịp tim đều giống nhau. Văn học cuối cùng là viết về trái tim con người. - Maxin Malien
6. Nói tới giá trị nhân đạo là nói tới thái độ của người nghệ sĩ dành cho con người mà hạt nhân căn bản là lòng yêu thương con người. - Từ điển Văn học
7. Văn học, đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng. - Charle Dubos
8. Nhà văn phải biết: “Khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác, cái khát vọng khôi phục và bảo vệ cái tốt đẹp”. - Ai ma tốp
9. Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là của những tâm hồn cao cả, đa cảm. - Voltaire
10. Nhà văn phải: “Đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy mọi vang động của đời.” - Nam Cao
11. Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. - Bielinxki
12. Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các bậc tình cảm chứ không phải là cái tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy. Có thể nói, tình cảm của con người là khâu đầu tiên cũng là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng tác phẩm lớn. - Nguyễn Khải
13. Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ. Như thế mới là thơ có giá trị. - Lê Hữu Trác
14. Làm thơ có ba điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự. Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời. Thực tế bên ngoài gây thành ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay, chép việc xưa hay thuật chuyện hiện tại, đều tự nhiên có tinh thần. - Lê Quý Đôn
15. Thơ mà quá cầu kỳ thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào xảo trá, hoang lương hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắng, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà rốt cuộc chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ. - Ngô Thì Nhậm
16. Một bài thơ không thể tồn tại nếu không có khoảng trắng. - Paul Claudel
17. Thơ là hành động, Thơ là đam mê, Thơ là sức mạnh và sự đổi mới luôn luôn không biết đâu là giới hạn. - Cái Hiện Tồn
18. Thơ là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn nén cảm xúc đến mức “cô đúc” để rồi phát nổ bằng một hình thức ngôn từ “tổng hợp kết tinh” có vần hoặc có điệu. Thơ phản ánh hiện thực cuộc sống mà hiện thực ấy “đã được ủ thành men và bốc lên đắm say” đến mức si mê trong tâm hồn thi sĩ. - Chế Lan Viên
19. Làm người thì quý thẳng nhưng làm thơ thì quý cong. Làm người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ nhất định phải có cái tôi. - Viên Mai
20. Thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la. - Nguyễn Tuân
LỚP VĂN THẦY HÍP
“Khơi nguồn xúc cảm văn chương”
02/12/2025
🍓KỸ NĂNG TRẢ LỜI CÂU HỎI:
Chỉ ra và phân tích tác dụng của BPTT...
--------
1️⃣ Bước 1: Nêu tên của biện pháp tu từ
(Chẳng hạn: So sánh, nhân hóa, điệp ngữ, liệt kê, ẩn dụ. hoán dụ......)
2️⃣ Bước 2: Chỉ ra từ ngữ thực hiện biện pháp tu từ đó trong ngữ liệu.
3️⃣Bước 3: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ.
Học sinh cần chỉ ra 3 tác dụng sau:
📌Tác dụng đối với sự diễn đạt: Giúp cho câu văn/câu thơ trở nên... (nêu tác dụng diễn đạt)
📌Tác dụng trong việc thể hiện nội dung: Nhấn mạnh/diễn tả đầy đủ/làm nổi bật... (Tùy biện pháp tu từ và nội dung đề cập tới ở ngữ liệu hỏi mà đưa ra tác dụng về nội dung sao cho phù hợp).
📌 Tác dụng trong việc thể hiện thái độ của tác giả: Qua đó thể hiện thái độ ngợi ca/phê phán/trân trọng/yêu thương... của tác giả
CÁC DẠNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN**
Bài học trình bày hai nhóm yêu cầu quan trọng khi đọc hiểu văn bản truyện: (1) Nhận biết và (2) Thông hiểu, (3) Vận dung Mỗi nhóm đều bao gồm hệ thống khái niệm then chốt, các dạng câu hỏi thường gặp và cách trả lời.
I. NHÓM CÂU HỎI NHẬN BIẾT
Nhóm câu hỏi này đòi hỏi học sinh nhận ra các yếu tố bề mặt và cơ bản của văn bản truyện. Những yêu cầu chính gồm:
1. Những yêu cầu nhận biết cơ bản
• Nhận biết không gian, thời gian, lời kể, ngôi kể và điểm nhìn trần thuật.
• Xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật; sự chuyển đổi điểm nhìn.
• Nhận biết đề tài, sự kiện, chi tiết tiêu biểu, nhân vật và các đặc điểm của nhân vật.
• Nhận diện ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm; thủ pháp nghệ thuật của truyện.
• Nhận biết bối cảnh lịch sử – văn hóa được phản ánh trong văn bản.
2. Một số dạng câu hỏi nhận biết phổ biến
Dạng 1 — Xác định ngôi kể
• Ngôi thứ nhất: người kể xưng tôi, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào câu chuyện; thường là người kể hạn tri.
• Ngôi thứ ba: người kể giấu mình, không tham gia câu chuyện; có thể toàn tri hoặc hạn tri tùy tác phẩm.
→ Trả lời: “Ngôi kể trong văn bản là…”
Dạng 2 — Xác định điểm nhìn
Điểm nhìn là vị trí quan sát mà người kể sử dụng. Có các loại:
• Điểm nhìn của người kể chuyện hoặc của nhân vật.
• Điểm nhìn bên ngoài / bên trong.
• Điểm nhìn không gian và thời gian.
→ Trả lời: “Điểm nhìn trong văn bản là…”
Dạng 3 — Xác định đề tài và chủ đề
• Đề tài: tác phẩm viết về cái gì, thuộc phạm vi đời sống nào.
• Chủ đề: vấn đề trung tâm tác phẩm muốn nêu lên cùng thái độ tư tưởng của tác giả.
→ Đề tài thường được trả lời bằng một cụm từ; chủ đề trả lời thành câu có ý nghĩa rõ ràng.
Dạng 4 — Xác định không gian
• Thần thoại: không gian vũ trụ nguyên sơ, đa tầng.
• Sử thi: không gian rộng lớn, cộng đồng.
• Truyện ngắn – tiểu thuyết: không gian đời sống, không gian ngoại cảnh và tâm trạng.
→ Trả lời: “Không gian trong văn bản là…”
Dạng 5 — Xác định thời gian
• Thần thoại: thời gian huyền ảo, phiếm chỉ.
• Sử thi: thời gian quá khứ thiêng liêng.
• Truyện ngắn – tiểu thuyết: thời gian tuyến tính hoặc phi tuyến.
→ Trả lời: “Thời gian trong văn bản là…”
Dạng 6 — Xác định sự việc, chi tiết tiêu biểu
• Sự việc: hành động, biến cố có ranh giới rõ ràng.
• Chi tiết tiêu biểu: yếu tố nổi bật, làm nổi bật sự việc hoặc nhân vật.
→ Trả lời: “Chi tiết tiêu biểu là…”
Dạng 7 — Xác định nhân vật và đặc điểm nhân vật
• Nhân vật có thể là người, thần, vật… nhưng đều đại diện cho tính cách con người.
• Phân biệt nhân vật chính, trung tâm, phụ.
→ Trả lời: “Nhân vật chính là… Đặc điểm là…”
Phần bài cũng minh họa cụ thể bằng truyện “Nữ thần Lúa”.
II. NHÓM CÂU HỎI THÔNG HIỂU
Nhóm câu hỏi này đòi hỏi năng lực phân tích sâu, hiểu bản chất nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm.
1. Những yêu cầu thông hiểu cơ bản
Học sinh cần:
• Tóm tắt cốt truyện; phân tích ý nghĩa của cốt truyện.
• Lí giải tác dụng của ngôi kể, lời kể, điểm nhìn.
• Giải thích ý nghĩa của sự kiện, chi tiết tiêu biểu.
• Phân tích đặc điểm nhân vật; đánh giá vị trí, vai trò, ý nghĩa của nhân vật.
• Xác định chủ đề, tư tưởng tác phẩm và căn cứ chứng minh.
• Lí giải thái độ của tác giả/người kể chuyện.
• Tìm hiểu giá trị đạo đức, văn hóa, triết lí được gửi gắm.
• Giải thích tác dụng biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật.
• Nhận diện phong cách của tác giả (nếu có).
2. Các dạng câu hỏi thông hiểu
Dạng 1 — Tóm tắt cốt truyện
• Xác định chuỗi sự kiện chính.
• Sắp xếp theo trình tự hợp lí (thời gian hoặc ý đồ nghệ thuật).
Dạng 2 — Lí giải tác dụng của ngôi kể / điểm nhìn / lời kể
• Ngôi thứ nhất: tạo cảm giác chân thực, giúp hiểu sâu nội tâm.
• Ngôi thứ ba: tạo sự khách quan, linh hoạt trong quan sát.
• Điểm nhìn: định hướng góc nhìn của người đọc, thể hiện đánh giá của tác giả.
• Lời nhân vật / lời người kể: góp phần khắc họa tính cách, định hướng cảm xúc.
Dạng 3 — Phân tích ý nghĩa chi tiết tiêu biểu
• Về nghệ thuật: làm sinh động, hấp dẫn, thúc đẩy cốt truyện.
• Về nội dung: khắc họa nhân vật, thể hiện thái độ – tư tưởng của nhà văn.
Dạng 4 — Phân tích đặc điểm nhân vật và vai trò
• Nhân vật thần thoại: siêu nhiên, kì vĩ.
• Nhân vật sử thi: anh hùng cộng đồng.
• Nhân vật truyện ngắn: cá thể hóa, đời thường, độc đáo.
Vai trò nhân vật gồm: phát triển cốt truyện, phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng tác giả, truyền tải thông điệp nhân sinh.
Dạng 5 — Nêu chủ đề, tư tưởng
• Chủ đề: vấn đề trung tâm.
• Tư tưởng: cách tác giả lí giải, thái độ, tình cảm.
Ví dụ: Tắt đèn – tố cáo áp bức, thương cảm người nông dân.
Dạng 6 — Lí giải thái độ của tác giả
• Chỉ ra cảm xúc: yêu mến, trân trọng, phê phán…
• Lí giải từ bối cảnh xã hội, quan niệm sống, điểm nhìn nghệ thuật.
• Thái độ đó quyết định tư tưởng của tác phẩm.
Dạng 7 — Giải thích tác dụng các biện pháp xây dựng nhân vật
• Miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lí.
• Ngôn ngữ đối thoại – độc thoại.
→ Tác dụng: khắc họa chân thực, nổi bật phẩm chất, thể hiện tài năng của tác giả.
III. NHÓM CÂU HỎI THÔNG HIỂU
1. Những yêu cầu vận dụng cơ bản
• Rút ra thông điệp, bài học về cách nghĩ, cách ứng xử từ văn bản.
• Trình bày ý nghĩa và tác động của tác phẩm đối với tình cảm, quan niệm, suy nghĩ của bản thân về một vấn đề.
• Vận dụng hiểu biết về bối cảnh lịch sử – văn hóa của tác phẩm để lí giải thông điệp và ý nghĩa văn bản.
• Đánh giá giá trị của thông điệp, chi tiết, hình tượng, nghệ thuật theo quan điểm cá nhân.
• Liên hệ để nhận ra những điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm ở các nền văn học khác nhau.
• Vận dụng kinh nghiệm đọc, trải nghiệm sống và kiến thức văn học để đánh giá, phê bình văn bản; thể hiện cảm xúc và suy nghĩ cá nhân.
• Đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có nhận định phù hợp.
• Nhận xét tác động của tác phẩm đối với người đọc và đời sống xã hội theo quan điểm cá nhân.
2. Một số dạng câu hỏi vận dụng và cách trả lời
Dạng 1: Rút ra thông điệp/bài học tư tưởng
Cách trả lời:
• Nêu thông điệp/bài học:
→ Thông điệp/bài học sâu sắc nhất là: Chúng ta hãy/cần/nên/phải…
• Lí giải:
→ Em chọn thông điệp này vì…
Dạng 2: Đánh giá giá trị của chi tiết, hình tượng
Cách trả lời:
• Nêu ý nghĩa/giá trị:
→ Chi tiết/hình tượng này có ý nghĩa quan trọng trong việc…
(Khắc họa tính cách, phẩm chất nhân vật; làm rõ bức tranh đời sống; thể hiện tư tưởng, tài năng nghệ thuật của tác giả…)
• Đánh giá:
→ Đây là chi tiết/hình tượng độc đáo, góp phần tạo nên thành công của tác phẩm.
Dạng 3: Liên hệ giữa hai tác phẩm ở các nền văn học khác nhau
Cách trả lời:
• Nêu tác phẩm liên hệ.
• Chỉ ra điểm tương đồng, gần gũi trong nội dung.
• Lí giải vì sao có sự tương đồng (cùng phản ánh vấn đề nhân sinh, cùng nói về số phận con người, cùng thể hiện giá trị nhân đạo…).
[CHUYÊN MỤC: CHUYÊN VĂN VÀ HƠN THẾ NỮA]
MỘT SỐ MỞ - KẾT BÀI CỦA HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
1. Đề ra: Marcel Proust quan niệm: Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập.
Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận về nhận định trên.
Mở bài: Tôi vẫn còn nhớ nhà văn Annie Ernaux trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học (2022) từng nói: “Văn học là một loại lục địa mà tôi vô thức đặt ở vị trí đối lập với môi trường xã hội của mình. Và tôi quan niệm viết chính là biến đổi hiện thực”. Những lời chia sẻ ấy khiến tôi không khỏi băn khoăn về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và hiện thực đời sống. Phải chăng, người nghệ sĩ là người tự mình tạo ra cuộc sống, một cuộc sống vốn chưa từng hiện hữu ở nhân gian? Bàn về vấn đề này, Marcel Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”.
Kết bài: Nhấm nháp từng con chữ, đắm đuối trước vẻ đẹp thế giới do người nghệ sĩ sáng tạo ra, song tôi luôn hiểu rằng cuộc sống trong văn học có những điểm không trùng khít với cuộc sống ngoài kia. Khi một tác phẩm nghệ thuật đích thực ra đời cũng là khi một thế giới khác được tạo dựng. Và đến với người đọc, nó lại được hiện ra với những sắc thái khác nhau tùy vào cảm nhận của mỗi người. Rồi đây, sẽ có muôn vàn thế giới mới, buồn - đau - oan trái có, hạnh phúc - tươi vui - tích cực có... Vậy thế giới nào là cho chúng ta?
(Học sinh Mai Hồng Thủy)
2. Đề ra: Nhà văn Cao Hành Kiện cho rằng “Nghệ thuật chỉ được tạo thành quanh những kẻ dấn thân vì nó, những kẻ mạo hiểm vì nó, nghĩa là những kẻ thể nghiệm nó”.
Bằng trải nghiệm văn học của anh/chị, hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên.
Mở bài: Tôi từng nghe giai thoại kể lại rằng, triết gia lỗi lạc người Hy Lạp Diogenes đã chọn cho mình biệt danh là “Chó”, thậm chí khi bị người ta ném các khúc xương vào mình trong một bữa tiệc, Diogenes vẫn đầy bình thản bởi ông tự nhận cung cách của mình y như một con chó, “vẫy đuôi khi được cho ăn, gầm gừ với kẻ chẳng đoái hoài (tới nó) và cắn những thằng xỏ lá”. Triết gia là như thế, còn những người nghệ sĩ đắm đuối với cái đẹp thì sao? Liệu họ có nhất thiết phải trở thành người dũng cảm, dám nhìn thẳng vào cuộc đời trần trụi, dám “cắn” những kẻ giả trá mưu mô? Bàn về điều này, Cao Hành Kiện cho rằng “Nghệ thuật chỉ được tạo thành quanh những kẻ dấn thân vì nó, những kẻ mạo hiểm vì nó, nghĩa là những kẻ thể nghiệm nó”.
Kết bài: Diogenes dù có tự nhận mình là “chó”, ta hiểu rằng đó cũng chỉ là cách diễn đạt riêng, lạ của một triết gia mà thôi. Còn với những nhà văn đích thực, dù có biết bao nhiêu danh xưng cao quý khác dành cho họ, dù họ phải dấn thân, mạo hiểm, thể nghiệm bao nhiêu, thì rốt cuộc họ vẫn chỉ mong muốn làm được những điều giản dị cho cuộc đời, cho con người. Và nếu người đọc không có bản lĩnh “dấn thân, mạo hiểm, thể nghiệm” để thấu hiểu điều đó, thì chẳng phải văn học nghệ thuật tồn tại trên cuộc đời này vô nghĩa lắm hay sao?
(Học sinh Hà Thư)
3. Đề ra:
Trong diễn từ nhận giải thưởng Văn học F. Kafka 2014, nhà văn Diêm Liên Khoa đã kể câu chuyện sau:
“Tôi nhớ đến một người mù 70 tuổi trong thôn nhà tôi, mỗi khi mặt trời lên, ông ta sẽ đối diện với núi đông, nhìn về phía mặt trời, tự mình lẩm nhẩm rằng: “Mặt trời hóa ra có màu đen - như thế lại tốt!”
Nhưng càng kì lạ hơn là, người mù cùng thôn với tôi này, từ khi ông ta còn trẻ, đã có vài chiếc đèn pin khác nhau, mỗi khi đi lại vào ban đêm, ông đều cầm trên tay chiếc đèn pin đã bật, sắc trời càng tối, chiếc đèn trong tay ông càng dài, ánh sáng cũng càng sáng. Thế là, ông bước đi trên con đường thôn bị đêm tối nhuộm đen, mọi người nhìn thấy ông từ rất xa, nhưng sẽ không đâm vào người ông. Hơn nữa, khi chúng tôi lướt qua ông, ông còn dùng đèn pin soi cho con đường phía trước, để bạn thuận tiện bước thật xa, thật xa. Để cảm ơn người mù này và ánh sáng trong tay người mù đó, sau khi ông chết đi, người nhà ông và người trong thôn chúng tôi, khi đi viếng ông, đều tặng cho ông các loại đèn pin còn đầy pin. Trong quan tài mà ông nhập liệm, dường như toàn bộ đều là những chiếc đèn pin có thể phát sáng mà người ta đem tặng.
Chính từ người mù này, tôi cảm ngộ được một loại sáng tác - nó càng đen tối, thì càng rực sáng; càng lạnh lẽo thì lại càng ấm áp. Toàn bộ ý nghĩa tồn tại của loại sáng tác đó, là để mọi người tránh được sự tồn tại của nó. Mà tôi và sáng tác của tôi, chính là người mù bật đèn pin đi trong bóng tối, đi trong bóng tối, dùng ánh sáng có hạn, chiếu rọi bóng đêm, cố gắng để mọi người nhìn thấy bóng tối để biết tránh đi.”
(Diêm Liên Khoa, Diễn từ nhận Giải thưởng Văn học Kafka 2014, Minh Thương dịch)
Từ câu chuyện trên, bằng trải nghiệm văn học của bản thân, hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của anh/ chị về chủ đề: Văn học và cái ác.
Mở bài: Tôi không chắc chắn nghệ thuật bắt đầu xuất hiện trên thế giới này từ bao giờ, nhưng từ khi có nghệ thuật, thì đã tồn tại bao nhiêu định nghĩa về nó. Dường như mọi định nghĩa đều gắn nghệ thuật với cái đẹp. Người ta đã đồng nhất nghệ thuật với cái đẹp: nghệ thuật là “những điều cao cả”, là “Thánh thần”, là “sự mô phỏng cái đẹp toàn mĩ”, là “cái đẹp trác việt”, “cái đẹp siêu việt”,... Nhưng thực chất, đó có phải xác tín duy nhất? Tôi tự hỏi liệu có những trường hợp cá biệt nào khác chăng? Cho đến một ngày, tôi đọc được diễn từ của nhà văn Diêm Liêm Khoa với lời chia sẻ rằng: có “một loại sáng tác - nó càng đen tối, thì càng rực sáng; càng lạnh lẽo thì lại càng ấm áp. Toàn bộ ý nghĩa tồn tại của loại sáng tác đó, là để mọi người tránh được sự tồn tại của nó. Mà tôi và sáng tác của tôi, chính là người mù bật đèn pin đi trong bóng tối, đi trong bóng tối, dùng ánh sáng có hạn, chiếu rọi bóng đêm, cố gắng để mọi người nhìn thấy bóng tối để biết tránh đi.”
Kết bài: Có lẽ, trong thế giới luôn mang khát vọng hướng về cái đẹp này, văn học về cái ác chính là thứ ánh sáng khác thường, thứ ánh sáng được tạo ra bởi chính bóng tối. Nó không nhằm ru ngủ, cũng không để con người nương náu, nó buộc ta mở mắt, buộc ta đối diện. Từ người mù cầm đèn pin của Diêm Liên Khoa đến những trang văn phơi bày thẳm sâu bản chất người, tất cả đều gặp nhau ở một điểm: văn học không che giấu hiện thực, mà kiên quyết gọi tên nó để con người có thể tránh đi, vượt lên. Và có lẽ, trong mỗi chúng ta, cũng cần một chiếc “đèn pin” như thế để tiếp tục nhìn, hiểu và sống có trách nhiệm hơn giữa cuộc đời rộng lớn này.
(Học sinh Dũng)
4. Đề ra: Có những đêm không ngủ, mắt rực sáng, lòng ngập tràn nhớ nhung, khi đó tôi viết. (Léc – môn – top)
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bàn về ý kiến trên.
Mở bài: Tôi đã từng nghe kể huyền thoại về loài chim yến huyết ngoài biển khơi đã nhỏ từng giọt máu để dệt nên chiếc tổ màu hồng quý giá, hay câu chuyện về loài trai xót lòng ứa máu để làm nên hạt ngọc. Những câu chuyện của muôn loài trong thế giới tự nhiên khiến cho ta liên tưởng đến người nghệ sĩ với sứ mệnh đẹp đẽ của họ. Để có được tác phẩm như là viên ngọc trai lấp lánh cho đời, họ đã phải trải qua những gì? Về điều này, nhà thơ Lecmontop từng có những dòng chia sẻ chân thật: “Có những đêm không ngủ, mắt rực sáng, lòng ngập tràn nhớ nhung, khi đó tôi viết.”
Kết bài: Trở lại với câu chuyện về loài chim yến huyết, khi sức tàn lực kiệt, chim yến nhỏ đã bay vút lên không trung, lao mình vào vắt đá nhọn hoắt cho ngực vỡ nát. Cũng như thế, trong nghệ thuật, người nghệ sĩ đã phải trải mình vào trong đau khổ, cô đơn - cuộc hành xác tinh thần để cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật chân chính. Và rồi đây, chính những câu chữ phập phồng nhịp đập trái tim ấy sẽ thay anh có mặt trên cuộc đời này, vượt qua mọi biến thiên thời gian và sống mãi cùng loài người.
(Học sinh Tường Vy)
5. Đề ra: Có ý kiến cho rằng: “Văn học soi sáng các giá trị, dẫn dắt con người vượt lên các giá trị nhất thời, vươn tới các giá trị bền vững”.
Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, hãy bình luận.
Mở bài: Trước khi chết, vua Phổ cầm tay Mozart và nói: “Ngươi tượng trưng cho cái đẹp, ta tượng trưng cho sự sắp đặt của loài người. Vì thế, biết đâu sau khi ta chết, hậu thế sẽ quên ta đi và nhắc nhở tới ngươi”. Câu chuyện khẳng định một quy luật đó là những gì thuộc về cái đẹp trong thế giới tinh thần sẽ không dễ bị tàn phai. Và đó hẳn không phải là câu chuyện riêng của âm nhạc mà còn là chuyện của văn chương? Tôi vẫn thường tự hỏi, điều gì là giá trị thật sự khiến cho nghệ thuật có thể bất tử? Bàn về vấn đề này, có người từng nói “Văn học soi sáng các giá trị, dẫn dắt con người vượt lên các giá trị nhất thời, vươn tới các giá trị bền vững”.
Kết bài: Đóng lại những trang văn, câu chuyện kết thúc, nhưng cái đẹp mà vua Phổ nhắc tới trước khi chết, liệu sẽ thật sự ở lại với cuộc đời? Bởi lẽ, tác phẩm khi rời xa nhà văn, “bất tử”, không chỉ còn là vấn đề của người nghệ sĩ mà còn lại câu chuyện của quá trình tiếp nhận.
(Học sinh Hà Phương)
6. Đề ra: Nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky có lần từng nói: “Đấy, người ta cứ bảo sáng tạo là cần phản ánh đời sống. Tất cả điều đó chỉ là vớ vẩn: nhà văn (nhà thơ) là người tự mình tạo ra cuộc sống, thêm nữa, đó là một cuộc sống trước nó chưa từng hiện hữu đầy đủ” (Dẫn theo Lê Ngọc Trà, Nhà văn và sáng tạo nghệ thuật, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2018, trang 222).
Với trải nghiệm của bản thân về văn học, theo anh/chị, phát biểu trên của Dostoevsky có thuyết phục không? Hãy viết một bài văn nghị luận để trình bày quan điểm của mình về phát biểu trên.
Mở bài:
“Tôi là một người kể chuyện.
Kể chuyện đã giúp tôi có được giải Nobel văn học.”
Khi đọc những lời chia sẻ của nhà văn người Trung Quốc - Mạc Ngôn - trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học năm 2012 của mình, tôi tự hỏi rằng Mạc Ngôn nếu chỉ đơn thuần là một “người kể chuyện”, điều gì đã đem đến những thành tựu to lớn cho ông và cho nền văn học dân tộc Trung Hoa? Điều đó có hoàn toàn đi ngược lại với quan niệm về sáng tạo của nhà văn Nga Dostoevsky: “Đấy, người ta cứ bảo sáng tạo là cần phản ánh đời sống. Tất cả điều đó chỉ là vớ vẩn: nhà văn (nhà thơ) là người tự mình tạo ra cuộc sống, thêm nữa, đó là một cuộc sống trước nó chưa từng hiện hữu đầy đủ”?
Kết bài: Xuyên suốt chia sẻ của mình, Mạc Ngôn đã 14 lần nhắc tới hai từ “kể chuyện” như xác quyết khả năng và sức mạnh lớn lao của nó. Nhưng tôi cho rằng, đó chỉ là cách nói khiêm tốn, giản dị của ông mà thôi. Bởi nếu chỉ “kể chuyện” một cách thông thường, đã chẳng tạo nên những thành công rực rỡ của riêng ông trong hành trình sự nghiệp của mình. Đọc trang lại từng trang văn của Mạc Ngôn, tôi nhận ra chính ông đã “tạo ra cuộc sống” trước nay “chưa từng hiện hữu một cách đủ đầy” nhưng mặc nhiên, nó vẫn gắn liền với những giá trị nhân văn, sâu sắc, hướng con người tới cái cao cả, tốt đẹp ở đời. Tôi nghĩ đó mới chính là “thiên chức lớn lao” của mỗi người nghệ sĩ.
(Học sinh Anh Thư)
24/11/2025
NHỮNG CÂU THƠ CỦA TỐ HỮU ÁP DỤNG CHO BÀI NLXH BÀN VỀ MỘT VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TUỔI TRẺ
1. Ta sẵn sàng xé trái tim ta
Cho Tổ quốc, và cho Tất cả
Lá cờ này là máu là da
Của ta, của con người, vô giá.
(“Việt Nam, máu và hoa”)
2. Tạm biệt đời ta yêu quý nhất,
Còn mấy dòng thơ, một nắm tro.
Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất,
Sống là cho. Chết cũng là cho.
(“Tạm biệt”)
3. “Có ai bảo ta dại khờ không nhỉ
Khi ta không biết sợ quỷ trên đời?
Ta sinh ra là để làm người
Không sợ chết, bởi vì ta dám sống.”
(“Trên đường thiên lý”)
4. “Ta sẽ khai những mỏ dầu, mỏ sắt
Đóng những con tàu đi khắp đại dương
Nhưng phải luyện những con người đẹp nhất
Biết căm thù và biết yêu thương.”
(“Bài ca xuan 71”)
5. Tôi bước tiếp, trên đôi chân tráng kiện
lại nghĩ suy, bằng chính óc tim mình
Mừng thế kỷ hai mươi mốt đến
Cho sáng bừng mặt đất, ánh bình minh!
(“Chào năm 2000!”)
XÁC ĐỊNH MẠCH CẢM XÚC TRONG THƠ
🔅Khái niệm:
Mạch cảm xúc là sự vận động, biến đổi cảm xúc của nhân vật trữ tình xuyên suốt một đoạn thơ hoặc bài thơ, thường gắn với sự quan sát, hồi tưởng, liên tưởng của tác giả.
☄️Bước 1: Xác định nhân vật trữ tình và bối cảnh cảm xúc
• Nhân vật trữ tình: Người bộc lộ cảm xúc trong tác phẩm (có thể xưng “tôi”, “em”, hoặc ẩn sau hình ảnh, sự vật).
• Bối cảnh: Thời gian, không gian, tình huống diễn ra cảm xúc ban đầu.
• Cảm xúc mở đầu: Từ bối cảnh, xác định cảm xúc xuất phát (vui, buồn, tự hào, hoài niệm…).
🔹Gợi ý câu hỏi:
1. Ai đang “nói” trong bài thơ?
2. Họ đang ở đâu, trong hoàn cảnh nào?
3. Cảm xúc ban đầu là gì?
☄️Bước 2: Theo dõi sự chuyển biến cảm xúc qua từng phần
• Chia bài thơ thành các khổ hoặc ý chính.🗯️
• Xác định cảm xúc ở từng phần và sự thay đổi:
Vui → buồn? Nhớ nhung → hi vọng? Xúc động → tự hào?
✨Dấu hiệu nhận diện:
• Ngôn ngữ: từ láy, điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ…
• Hình ảnh: lặp lại, mở rộng, phát triển theo mạch liên tưởng.
Bước 3: Khái quát mạch cảm xúc toàn bài
☄️Tóm tắt trình tự diễn tiến cảm xúc:🗯️
1. Mở đầu: cảm xúc gì?
2. Tiếp diễn: thay đổi thế nào?
3. Kết thúc: cảm xúc kết lại? Thông điệp gửi gắm?
✅Trả lời : Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ … đến … và kết thúc bằng …, thể hiện thông điệp …
Ví dụ minh họa – Sang thu (Hữu Thỉnh)
🍒Bước 1: Xác định nhân vật trữ tình và bối cảnh cảm xúc
• Nhân vật trữ tình: Một người quan sát thiên nhiên (có thể chính tác giả) khi mùa thu đang đến.
• Bối cảnh: Thời điểm giao mùa, cuối hạ sang thu, không gian làng quê yên bình.
• Cảm xúc mở đầu: Ngỡ ngàng, bâng khuâng, nhẹ nhàng trước tín hiệu của mùa thu.
🍒Bước 2: Theo dõi sự chuyển biến cảm xúc
• Khổ 1: Ngỡ ngàng, bâng khuâng khi nhận ra hương ổi, gió se, sương thu.
• Khổ 2: Cảm xúc mở rộng thành suy tư, cảm nhận sự biến đổi của đất trời (sông, chim, mây).
• Khổ 3: Cảm xúc lắng sâu thành chiêm nghiệm, liên hệ sự chuyển mùa với quy luật đời người (từ trẻ sang già, từ sôi nổi sang chín chắn).
➡️Mạch cảm xúc: Ngỡ ngàng → say mê cảm nhận → lắng lại suy tư.
🍒Bước 3: Khái quát mạch cảm xúc toàn bài
Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ sự ngỡ ngàng, bâng khuâng trước tín hiệu mùa thu, đến niềm say mê khám phá vẻ đẹp giao mùa, và kết lại bằng suy tư sâu lắng về sự chuyển biến của đất trời và con người thể hiện tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu triết lý của nhà thơ.
30/06/2025
Đề và đáp án Ngữ văn 2025
🔥🔥CÔNG THỨC NHẬN DIỆN THỂ LOẠI THƠ – PHẦN ĐỌC HIỂU NGỮ LIỆU THƠ
Đây là câu hỏi KHÔNG THỂ THIẾU trong đề đọc hiểu văn học! Nhưng nhiều bạn vẫn hay nhầm lẫn giữa thơ tự do và thơ có số chữ cố định như thơ 4, 5, 6, 7, 8 chữ… Đặc biệt khi cả bài chỉ có 1-2 câu khác biệt!
Vậy làm sao để nhận diện CHUẨN XÁC thể thơ?
Hãy cùng ghi nhớ đặc điểm nổi bật của từng thể thơ dưới đây nhé!
1. Thơ TỰ DO
Đặc điểm:
• ❌ Không giới hạn số câu, số chữ
• ✅ Nhịp điệu linh hoạt, không cố định
• ✅ Tự do về cấu trúc, hình ảnh giàu cảm xúc
2. Thơ LỤC BÁT
Cấu trúc: 1 câu 6 chữ (lục) + 1 câu 8 chữ (bát)
Đặc điểm:
• 🔁 Vần liên tiếp: chữ thứ 6 của câu 6 vần với chữ thứ 6 câu 8
• 🕊 Nhịp điệu: 2/2/2 (câu 6), 2/2/2/2 (câu 😎
• ➕ Có thể kéo dài nhiều cặp lục – bát
3. Thơ 4 CHỮ
Đặc điểm:
• ✍️ Mỗi dòng 4 chữ
• 🔄 Nhịp: 2/2 hoặc 4
• 🔗 Vần liền, vần cách hoặc linh hoạt
4. Thơ 5 CHỮ
Đặc điểm:
• ✍️ Mỗi dòng 5 chữ
• 🔄 Nhịp: 3/2 hoặc 2/3
• 🔗 Vần liền, vần cách, vần ôm
• 💖 Thường mang tính nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng
5. Thơ 6 CHỮ
Đặc điểm:
• ✍️ Mỗi dòng 6 chữ
• 🔄 Nhịp: 3/3 hoặc 2/2/2
• 🔗 Gieo vần linh hoạt
6. Thơ 7 CHỮ (Thất ngôn)
Đặc điểm:
• ✍️ Mỗi dòng 7 chữ
• 🔄 Nhịp: 4/3 hoặc 3/4
• 🧱 Có thể là Thất ngôn tứ tuyệt (4 câu) hoặc Thất ngôn bát cú (8 câu – theo luật Đường)
7. Thơ 8 CHỮ
Đặc điểm:
• ✍️ Mỗi dòng 8 chữ
• 🔄 Nhịp: 4/4, 3/2/3 hoặc linh hoạt
• 💬 Dùng để thể hiện cảm xúc sâu lắng, trang trọng
8. Thơ SONG THẤT LỤC BÁT
Cấu trúc:
• 2 câu 7 chữ (song thất) + 1 câu 6 chữ + 1 câu 8 chữ (lục bát)
Cách gieo vần:
• 🧩 7-7-6-8, vần theo quy luật rất đặc trưng
9. Thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
Cấu trúc:
• 8 câu, mỗi câu 7 chữ
• 🧱 Bố cục: Đề – Thừa – Chuyển – Hợp
• 📐 Có luật: bằng/trắc – niêm – đối – vần chân (1, 2, 4, 6, 😎
10. Thơ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT ĐƯỜNG LUẬT
Cấu trúc:
• 4 câu, mỗi câu 7 chữ
• 🧱 Bố cục: Khai – Thực – Luận – Kết
• 🎯 Vần chân: câu 1, 2, 4
• 📐 Có thể theo luật bằng/trắc
11. Thơ NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT ĐƯỜNG LUẬT
Cấu trúc:
• 4 câu, mỗi câu 5 chữ
• 🧱 Bố cục tương tự thơ 7 chữ
• 🎯 Vần chân: câu 1, 2, 4
• 🧠 Nội dung hàm súc, đậm chất triết lý
NÉT MỚI VỀ ĐỀ THI, CHẤM THI TỐT NGHIỆP MÔN VĂN NĂM NAY ( COPPY Từ tài liệu tập huấn)
1. Về đề thi
- Điểm mới:
+ Bộ lưu ý về cách lựa chọn ngữ liệu cho đề thi. Ngữ liệu chính là linh hồn của đề thi môn Văn. Hiện nay, khi ra đề, giáo viên thường chọn các ngữ liệu đương đại của các tác giả mới, chưa tiêu biểu cho thành tựu văn học dân tộc, chưa qua thời gian thử thách; nội dung ngữ liệu chưa hay; khó quá hoặc đơn giản quá… Giáo viên khi lựa chọn ngữ liệu các thầy cô cần lưu ý: Nội dung ngữ liệu phải phù hợp với trình độ hs lớp 12; nên chọn ngữ liệu của các tác giả tiêu biểu đã qua thời gian thử thách của lịch sử văn học.
+ Về các dạng bài NLVH: mặc dù chương trình ngữ văn 12 chỉ dạy dạng bài so sánh, đánh giá 2 tác phẩm văn học nhưng trong tất cả các lần tập huấn, BỘ đều nêu 3 dạng bài NLVH:
-Phân tích, đánh giá những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật 1 tác phẩm văn học
-Phân tích, đánh giá 1 đặc điểm của thể loại qua một tác phẩm văn học
-So sánh, đánh giá 2 tác phẩm văn học
Lí giải của Bộ là: Đây là đề thi TN THPT, không phải đề thi cho lớp 12, do đó, các dạng bài NLVH nằm trong cả chương trình THPT. Các thầy cô lưu ý điều này để không sa vào tình trạng chỉ ôn 1 dạng bài so sánh văn học.
+ Phần tiếng Việt: Nên có 1 câu hỏi về tiếng Việt trong hệ thống câu hỏi Đọc hiểu; về kiến thức tiếng Việt cần huy động: Ưu tiên kiến thức tiếng Việt lớp 12; khi kiến thức tiếng Việt lớp 12 đưa vào mà gượng ép thì có thể sử dụng đến kiến thức tiếng việt ở các lớp dưới.
( Nghị luận xã hội vẫn vậy, không thay đổi)
2. Về Đáp án, hướng dẫn chấm
- Đáp án, HDC biên soạn theo hướng đánh giá năng lực. Nghĩa là, cần xác định được cách làm, cách đọc (cách hiểu/ giải mã văn bản), cách viết (cách nghĩ), cách diễn dạt và trình bày một vấn đề văn học, xã hội…Phân biệt với đề thi, đáp án và HD chấm nội dung.
- Đáp án ngoài chấm Ý thì còn phải chấm Văn: Các năm trước đây trong đáp án cũng đã có điểm cho phần diễn đạt, dùng từ, chính tả nhưng còn rất ít (0,25 – 0,5 điểm), chưa đánh giá được năng lực diễn đạt của học sinh, dẫn đến tình trạng giáo viên đếm ý cho điểm, thậm chí chỉ cần chạm ý là đã cho điểm. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng điểm 8 – 9, thậm chí 9,75 tràn ngập khắp nơi trong khi năng lực diễn đạt của học sinh thì không được rèn luyện kĩ càng. Theo các chuyên gia tập huấn lần này, đề thi đánh giá năng lực của môn Ngữ văn thì cần chú trọng đến năng lực đặc thù của môn Văn đó là năng lực diễn đạt, biểu hiện ở cách dùng từ, đặt câu trong sáng, mạch lạc. Vì thế giáo viên cần chú trọng rèn luyện cho học sinh cách diễn đạt, cách viết đúng chính tả và ngữ pháp để tránh điểm trừ.
- Đáp án không còn phần d. Diễn đạt và e. Sáng tạo. 2 Phần này gộp chung với phần c. Viết đoạn văn/bài văn đảm bảo các yêu cầu. Trong phần c này sẽ có cả yêu cầu về hình thức và yêu cầu về nội dung, điểm diễn đạt và sáng tạo cũng đã nằm trong phần này.
- HDC sẽ có điểm trừ cho các lỗi diễn đạt, chính tả và dung lượng. Cụ thể là các loại lỗi về: dùng từ (sai về nghĩa, từ khẩu ngữ), lỗi diễn đạt lủng củng, không mạch lạc, lỗi viết câu sai cấu trúc, lỗi chấm câu sai, lỗi chính tả…. Trong phần đề thi và HDC tham khảo kèm theo các chuyên gia đã định lượng cụ thể bao nhiêu lỗi sai thì trừ điểm, và điểm trừ nhiều nhất sẽ là ½ tổng số điểm của phần viết (VD: câu viết đoạn có thể trừ tới 1,0/2,0; câu viết bài văn sẽ trừ tới 2,0/4,0). Về dung lượng thì đoạn văn sẽ cộng trừ 100 chữ, bài văn sẽ cộng trừ 200 chữ. Tuy nhiên, định lượng chính thức là bao nhiêu thì sẽ do tổ làm đề của Bộ GD quyết định căn cứ vào tình hình thực tiễn.
Tháng 4 này Bộ sẽ ra 1 đề thử nghiệm và cho thi khảo sát ở 1 số tỉnh, cho gv chấm thi theo HDC mới, từ đó rút kinh nghiệm và có điều chỉnh hợp lí. Nhưng điều chắc chắn là Bộ sẽ trừ điểm tương đối nhiều phần lỗi diễn đạt, chính tả của học sinh. Điểm thi TN môn Văn năm nay HS trung bình sẽ chỉ đạt 5,0 điểm.
3. Những lưu ý với các thầy cô trong quá trình dạy và ôn thi TN
- Bám sát cấu trúc đề thi tham khảo mà Bộ đã công bố 2 lần gần đây để ôn tập các kĩ năng cho học sinh
- Bám sát yêu cầu cần đạt của chương trình 2018 để xây dựng các đề thi thử và ôn luyện cho học sinh các kĩ năng: Kĩ năng đọc hiểu theo đặc trưng thể loại, kĩ năng viết đoạn văn (NLXH – NLVH), kĩ năng viết bài văn (NLXH – NLVH)
- Tập trung rèn năng lực diễn đạt (dùng từ, đặt câu, liên kết câu), chữa các lỗi chính tả cho học sinh khi làm bài để tránh bị trừ điểm khi làm bài. Đây là công việc cực kì gian nan và cần rất nhiều thời gian.
- Tập trung rèn kĩ năng viết đảm bảo yêu cầu về dung lượng trong bài làm của phần Viết
( COPPY )
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Telephone
Website
Address
Thanh Hóa