BIÊN SOẠN ĐỀ VĂN

BIÊN SOẠN ĐỀ VĂN Trang văn học

08/05/2024

GIÁ CỦA HÒA BÌNH

Trong từng tấc đất có thịt xương của con
Trải êm cho mẹ gối đầu bớt đau bớt xót
Lồng lộng gió trời, chiều nay mẹ ơi chim vẫn hót
Mừng tuổi mẹ thay con bằng mây trắng hòa bình...

Tất cả người mẹ trên đời đều dũng cảm vô cùng cho một cuộc nở sinh
Khi dám mang chính trái tim mình ra ngoài lồng ngực
Chọn lùi trăm bước về sau, hi sinh từ những điều nhỏ nhất
Nguyện đem hết thảy đẹp tươi đổi cho con một kiếp ấm lành

Ai đã tày trời gây nên cuộc chiến tranh?
Để những đứa con từ hai bờ chiến tuyến
Lạy mẹ ra đi như chưa từng hiện diện
Ai thắng ai thua thì tim mẹ chúng ta cũng vỡ cả thôi mà...

Bút mực nào lột tả được xót xa
Khi tin con về được đồng đội trao bằng tờ giấy nhỏ
Mẹ ngửa cổ nhìn trời ngăn đớn đau máu rỏ
Giọt khóc cho con, giọt khóc cho mình!

Con không về, em con cũng bặt tin
Cha con bao mùa xuân quên nhà mình nhớ thương da diết
Làm sao ai định nghĩa được ly biệt
Khi đau đớn phát ra từ trong những nghẹn ngào

Sao không là thét gào, hờn căm, phẫn nộ như chiêm bao
Mà mẹ chỉ ngồi xõa tóc vô hồn lặng thinh không nói
Hay nỗi đớn đau lớn hơn tất thảy kiên cường, tài giỏi
Nên phải dùng khúc ruột mẹ sinh, đổi tấc đất sơn hà?

Đi qua cuộc chiến chinh bằng đôi mắt mù lòa
Những đêm trắng chong đèn gọi chồng con bằng vinh quang liệt sĩ
Những người mẹ sống cuộc đời hùng vĩ
Như núi sông, rừng biển, bầu trời...

Giá của hòa bình đắt quá mẹ ơi
Nên Tổ quốc cúi đầu mang ơn mẹ
Sinh ra những anh hùng gác lại bút nghiên, tình yêu và tuổi trẻ
Theo tiếng gọi non sông cho ngày giải phóng nước nhà

Hòa bình của những bà mẹ dẫu là địch hay ta
Cũng là máu xương, cũng là sinh mệnh
Cũng nơm nớp đợi tin, xé lòng thét gọi
Những đứa con từ trận đánh cuối cùng
..

Chim bồ câu nhẹ nhàng đập cánh giữa không trung
Hòa vào nhịp phách trầm hồn thiêng sông núi
Như khúc ru ngâm chiều nay của nội
“Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu...” (*)

Giá của hòa bình được đổi bằng muôn triệu nỗi đau, mong rồi đây sẽ dịu...

(Kanu House)

___

(*) trích “Đất nước” - Tạ Hữu Yên

Bài thơ đoạt giải “Tác giả triển vọng” tại thử thách sáng tác thơ tuần 2 do trang Nhà có thơ và nhóm Thật là thơ tổ chức ✍️

01/04/2024

Đừng nghĩ rằng lí luận văn học chỉ dùng để đi thi HSG, nếu làm được tốt điều này bài viết của bạn sẽ sâu sắc hơn rất nhiều và cũng mới mẻ hơn nữa đó. Kiến thức lí luận cơ bản về hiện thực, nhà văn và quá trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật, ngôn ngữ... Chúng ta sẽ lấy ví dụ và phân tích thử một vài tác phẩm dưới cách sử dụng lí luận văn học

1. Ngay từ mở bài chúng ta đã có thể vận dụng lí luận được rồi. Đưa ra những vấn đề về nền văn học nước nhà, hay hiện thực sáng tạo, tình cảm nhà văn...

Ví dụ: "Nhà thơ xứ Daghestan - Raxun Gamzatov đã từng viết với lòng biết ơn "Thơ ca nếu không có người tôi đã mồ côi". Thơ ca đã ra đời và song hành với nhân loại, như một phương tiện đắc lực và đầy xúc cảm, giúp con người bày tỏ nỗi niềm và đi sâu khám phá thế giới nội tâm sâu kín, bí hiểm. Tôi chợt nhớ thi sĩ Xuân Quỳnh và bồi hồi hình dung nhà thơ ấy sẽ cô đơn biết bao nếu không thể trao gửi tâm tình vào nghệ thuật. Bài thơ "Sóng" là tất cả nỗi niềm của nội tâm sâu kín ấy. Là sóng biển, sóng lòng mà người con gái miền La Khê đã tha thiết gửi trao trong từng dòng, từng chữ...

=> Cách viết này tránh việc nêu ra thơ ca về tình yêu đơn thuần rồi mới đi vào tác phẩm.

2. Khi vào đến thân bài, trước khi phân tích tác phẩm theo yêu cầu của đề bài chúng ta cũng có thể sử dụng lí luận để tránh việc nêu ra hoàn cảnh ra đời một cách khô cứng. Ví dụ vẫn là viết Tô Hoài lên Tây Bắc rồi có cảm hứng viết "Vợ chồng A Phủ" thì lí luận văn học sẽ biến nó trở thành như thế này:

Ví dụ: Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải thực sự là "tiếng sáo thổi lòng thời đại, thành giao liên dẫn dắt đưa đường". Dường như ý thức rõ về điều này, nhà văn Tô Hoài trong những ngày tháng sống ở Tây Bắc đã viết nên "Vợ chồng A Phủ". Áng văn là "tiếng sáo", là "giao liên" dẫn ta tới hiện thực cuộc sống lặng im Tây Bắc và cho chúng ta thấy những khát khao đẹp đẽ về tự do và hạnh phúc của con người.

Khi viết cũng có thể sử dụng kiến thức về quan niệm nghệ thuật của các tác giả để bài viết có chiều sâu và phong phú hơn.

Ví dụ: Nguyễn Tuân từng muốn mỗi ngày đều có "cái say của rượu tân hôn", kì vọng mỗi trang đời là một trang nghệ thuật. Luôn luôn đổi mới cảm giác, nhận thức cũng như phương châm cảm thụ cái đẹp, ông coi đời là những “trang hoa” luôn mở dưới ánh sáng nghệ thuật mới. Và chuyến đi Tây Bắc của nhà văn sau Cách mạng là một "trang hoa" như thế. Để từ đây vẻ đẹp thiên nhiên và con người được mở ra " dưới ánh sáng nghệ thuật" của "Người lái đò Sông Đà"... (diễn tiếp để vào phân tích)

Trong thân bài chú ý các đoạn phân tích câu thơ, câu văn đều dùng lí luận văn học được. Ví dụ: Khi phân tích đoạn thơ của Việt Bắc "Những đường Việt Bắc của ta...". Khi phân tích nhạc tính của nó xong có thể viết thêm "Đọc những dòng thơ ấy tôi thấy bồi hồi xao xuyến và nhớ lại sinh thời Huy Cận ngợi ca:

"Yêu thơ thơ kể lại hồn ông cha
Đời bao tâm sự thiết tha
Nằm trong tiếng nói lòng ta thuở nào"

Để bài văn tự nhiên hơn và đưa ra mở rộng hợp lí.

3. Sử dụng lí luận khi nâng cao khẳng định vấn đề:

Đừng vội vàng kết khi phân tích xong mà hãy nán lại để khẳng định bình luận chút đã. Đoạn này chúng ta có thể viết về sinh mệnh văn chương, sức sống trường tồn của nó hay tài năng của nhà văn nhà thơ...

Ví dụ: Nếu như tương lai của một nhà văn được đánh giá qua văn học anh ta để lại như lời của Albert Camus thì tôi nghĩ Nguyễn Minh Châu có thể tự hào về những gì mà ông đã để lại cho đời. Trang sách của Nguyễn Minh Châu đã làm đúng công việc của một kẻ sĩ " nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ", làm đúng công việc của một kẻ sĩ luôn " quan hoài thường trực cho số phận con người". Chiếc thuyền ngoài xa sẽ tồn tại trong dòng văn học như một chân giá trị để cảnh tỉnh con người về cuộc đời đa sự, và giữ cho chúng ta một cách tiếp cận đời sống sâu sắc... đại ý là như vậy. Chúng ta có thể thêm vào những cảm nhận của mình về tác phẩm (đó là tiếp nhận văn học).

ST

“Tri âm tri kỷ” là câu thành ngữ nói về sự đồng điệu, thấu hiểu giữa những người bạn, được viết từ điển tích Bá Nha và T...
28/03/2024

“Tri âm tri kỷ” là câu thành ngữ nói về sự đồng điệu, thấu hiểu giữa những người bạn, được viết từ điển tích Bá Nha và Tử Kỳ thời Xuân Thu. “Tri” chỉ sự hiểu biết, “âm” là tiếng nhạc và “kỷ” là chính mình.

Tử Kỳ, tên đầy đủ là Chung Tử Kỳ, là một danh sĩ sống ẩn trên núi để báo hiểu mẹ già. Bá Nha là quan viên nước Sở, nổi tiếng với khả năng chơi đàn thời bấy giờ.

Một lần Bá Nha đi sứ trở về , lúc ngang qua dòng sông Hán Dương, gặp trời trăng thanh gió mát, lệnh dừng thuyền uống rượu thưởng trăng gảy đàn. Đàn chưa dứt nhạc thì đàn đứt dây. Lúc này, ông phát hiện có người nghe lén tiếng đàn, nghi là thích khách nên ông cho quân lính truy đuổi. Lúc này có tiếng chàng trai vọng xuống nói mình là một tiều phu, nghe khúc đàn hay quá nên dừng lại lắng nghe.

Bá Nha cũng có ý nghi hoặc, nhưng thấy chàng trai trẻ đối đáp trôi chảy, lại hiểu biết về bản nhạc mình vừa chơi nên quyết định mời chàng trai xuống thuyển đàm đạo. Chàng trai trẻ đó chính là Chung Tử Kỳ. Sau đó, Bá Nha buộc phải về kinh tiếp tục việc làm quan, còn Tử Kỳ vẫn ở nơi núi non phụng dưỡng mẹ già. Nhưng cả hai có hẹn, Bá Nha sẽ trở lại và cả hai sẽ lại gặp nhau tại chính dòng sông này.

Đáng tiếc là mùa thu năm sau, khi Bá Nha trở lại dòng sông xưa, Tử Kỳ đã mất do bạo bệnh. Tương truyền lúc mất, di nguyện của Tử Kỳ là được chôn bên bến sông để giữ lời hẹn ước với Bá Nha. Lúc Bá Nha tìm đến mộ Tử Kỳ, ông đã đàn một bài để tiễn đưa người bạn tâm giao của mình nơi chín suối. Sau đó, ông đập vỡ cây đàn, bởi vì ông biết trên đời đã còn Tử Kỳ thứ hai, không còn ai chỉ cần nghe tiếng đàn đã có thể hiểu nỗi lòng của ông như Tử Kỳ đã từng nữa.

Ở Việt Nam, "tri âm" và "tri kỷ" thường được dùng chung để chỉ người bạn tâm giao. Tuy nhiên, ở Trung Quốc lại không như vậy. Họ cho rằng "tri âm" và "tri kỷ" là hai từ mang ý nghĩa khác nhau. “Tri âm” là chỉ những người bạn có cùng sở thích, thú vui, trân trọng tài hoa, phẩm hạnh lẫn nhau. Còn“tri kỷ” mới là để chỉ người bạn tâm giao, có sự kết nối, thấu hiệu, tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau.
__________
Tri An | Một nửa câu thơ

__________
Tài liệu tham khảo:
(1) 知音与知己有什么区别?https://zhidao.baidu.com/question/600703443.html
(2) Tri âm nghĩa là gì? Sự khác nhau giữ tri âm và tri kỷ https://blogmuahang.com/tri-am-nghia-la-gi/
Nguồn ảnh: https://images.app.goo.gl/Jq1rGRGKtMfMNBBq8

Tìm thấy trên Google, từ guwenxuexi.com

15/01/2024

"Ở hai đầu nỗi nhớ" là bài thơ của nhà báo Trần Đình Chính (1955-2014) (với bút danh Trần Hoài Thu), lần đầu xuất hiện trên báo Nhân dân vào năm 1984, được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc vào năm 1987, nổi tiếng qua giọng ca của ca sĩ Bảo Yến.

Bài thơ này là mối tình đầu của tác giả với một cô sinh viên văn khoa Sài Gòn đi cùng đoàn của Sở Thương nghiệp sang Campuchia xây dựng mạng lưới bán hàng. Năm 2013, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công bố đây là bài thơ đạt kỷ lục trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với giá bản quyền cao nhất ở Việt Nam thời điểm đó.

Ít ai biết rằng, do thiếu tiền chữa bệnh (năm 2009 ông phát bệnh thận và bệnh tiểu đường biến chứng khiến đôi mắt gần như không nhìn thấy gì), phải chạy thận thường xuyên nên nhà báo Trần Đình Chính phải đem bài thơ "Ở hai đầu nỗi nhớ" ra bán bản quyền. Khi ấy, ông Nguyễn Xuân Hàn - chủ tịch Công ty cổ phần dịch vụ Phú Nhuận (MASECO), đã mua bản quyền của bài thơ với giá 300 triệu đồng.

Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) đã chuyển toàn bộ số tiền thu được trong 10 năm của bài thơ cho ông (dù ông chưa ký hợp đồng uỷ thác quyền cho VCPMC, nhưng bài thơ này đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã là thành viên của VCPMC).

"Có một không gian nào
Đo chiều dài nỗi nhớ?
Có khoảng mênh mông nào
Sâu thẳm hơn tình thương?

Anh đang ở Pai-lin
Rừng khộp khô trong nắng
Thương em chiều mưa lạnh
Muốn gửi chút nắng hồng

Ở đầu này nỗi nhớ
Anh mơ về bên em
Ngôi sao như xuống thấp
Cho ta gần nhau hơn

Ở đầu kia nỗi nhớ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
Đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ

Ở hai đầu nỗi nhớ
Yêu và thương sâu hơn
Ở hai đầu nỗi nhớ
Nghĩa tình đằm thắm hơn"

Mùa hè 1980
Trần Hoài Thu

Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã đánh giá: "...Không ồn ào, không nỉ non, những từ ngữ trong sáng, mượt mà đẹp như những áng thơ, bản thân nó đã toát lên vẻ thanh khiết của một mối tình".

Nhà báo Thép Mới từng viết: "Đời mỗi người làm văn, làm thơ, làm báo cũng chỉ cần một tác phẩm như "Ở hai đầu nỗi nhớ" là đủ".
-
Vui lòng dẫn nguồn khi đăng tải hình ảnh và nội dung trên các trang, nhóm khác.
Lắng nghe những bài thơ, truyện ngắn hay tại podcast Góc Nhỏ Văn Thơ trên Spotify, Apple Podcast, Youtube...

01/12/2023

Làm gì có ai ngang cửa
Gió mùa vẫn cứ se lòng
Cánh cửa thôi không khép mở
Mà lòng không nguôi chờ mong.

Có một mùa đông xa xưa
Khuất sau bao nhiêu là gió
Ta đứng góc đường chờ em
Bài thơ nồng nàn như lửa

Có một mùa đông trong mưa
Lá bàng rực hồng mắt nhớ
Những chiều chủ nhật ta chờ
Sân ga – tàu về trong gió

Có một mùa đông trượt ngã
Lạnh giòn tiếng gãy cành khô
Rồi đã tan vào sương khói
Điều tưởng không tan bao giờ

Chẳng có cây cầu nào gãy
Mà đông – không còn đông xưa.

(ĐOẢN KHÚC - Đàm Huy Đông)

Sáng cb đi dạy 4 tiết văn thì gặp quả này🥲
14/11/2023

Sáng cb đi dạy 4 tiết văn thì gặp quả này🥲

Mình đọc tn khách sáng giờ
Mà mình chưa chốt đơn dc 🥺🥺

10/11/2023

🌱TỔNG HỢP DẪN CHỨNG NGHỊ LUẬN XÃ HỘI BÀI LÀM HSG HAY NHẤT🌱
----------
1. Trong tiếng Hán, chữ “nhẫn” phía trên có một mũi “dao” đâm xuống chữ “tâm”, hàm ý rằng chỉ khi nhẫn nhịn được những điều mà người khác không thể nhẫn nhịn, chúng ta mới có thể đạt được những điều mà người khác không thể đạt được.

2. Thế sự vô thường, tương lai khó có thể giống như dự liệu (Cảnh Thiên).

Lão Tử từng nói: “Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của họa.” Trên thế gian không có cái họa tuyệt đối, cũng chẳng có cái phúc tuyệt đối. Hai thứ đó nương dựa lẫn nhau, cùng nhau chuyển hóa. Nói cách khác, việc xấu đang xảy ra trước mắt chúng ta có thể sẽ mang lại kết quả tốt, và chuyện tốt cũng có thể diễn tiến thành kết quả xấu. Trang Tử từng nói: “An nguy tương dị, phúc họa tương sinh.” Có nghĩa là: An định và nguy nan có thể thay nhau chuyển hóa, tai họa và hạnh phúc cũng có thể trở thành nhân quả với nhau.

Asse – kĩ sư người Anh ban đầu dự định sẽ đáp một chuyến bay của hãng hàng không Pháp, nhưng do đã kín chỗ nên đành mua vé chuyến bay AF447, nào ngờ AF447 lại trở thành chuyến bay tử thần, Asse không bao giờ trở về nữa. Còn Stephan – người Hà Lan vốn định về nước trên chuyến bay AF447 nhưng vì bạn bè ngăn cản, nên cuối cùng anh đã không đáp chuyến bay đó…

Có lẽ ai đó sẽ cảm than rằng đây chẳng phải là ý trời hay sao? Không! Đây chính là thế sự vô thường. Ai dám đảm bảo bầu trời sẽ mãi trong xanh vời vợi? Ai dám đảm bảo máy bay sẽ không xuất hiện bất cứ sự cố nhỏ nào? Chảng ai dám đảm bảo! Cũng đạo lí tương tự, chẳng ai có thể đảm bảo rằng cuộc đời của bạn, chỗ dựa của bạn sẽ mãi mãi thuộc về bạn.

3. Tuổi trẻ là có thể lãng phí thời gian sao? (Vĩ Nhân)

Ở Trung Quốc có câu tục ngữ: “Làm khó được người già giàu có chứ sao làm khó nổi thanh niên nghèo khổ”, có thể thấy họ coi trọng thế hệ trẻ đến thế nào. Sở dĩ như vậy là vì người trẻ có vô số tài năng, có thể tạo nên những thành tựu huy hoàng. Nhưng cũng chỉ là có khả năng mà thôi, tương lai xán lạn cần chúng ta bỏ thời gian và nỗ lực để đổi lấy. Nếu bạn đem thanh xuân tươi đẹp chỉ dành để hưởng thụ ăn chơi, đến lúc bạn ý thức được tính nghiêm trọng của vấn đề thì đã quá muộn rồi.

Napoleon Hill là một tác giả người Mỹ, một trong những người sáng lập nên một thể loại văn học hiện đại có tên gọi là môn “Thành công học” (Khoa học về sự thành công của cá nhân), ông đã từng nói: “Câu nói bi ai nhất trên đời chính là, khi tôi thực sự nên làm thế này thì đã lại không làm như thế.” Các bạn có thể nghe thấy nhiều người nói “Nếu khi đó tôi làm như thế, thì bây giờ đã…rồi”, ai cũng biết những lời nói này hoàn toàn vô nghĩa. Bạn phải biết rõ, bạn gieo hạt gì thì sẽ thu hoạch được quả nấy. Hoàn cảnh của chúng ta bây giờ chính là kết quả hành động của ngày hôm qua. Đồng thời, ngày mai chúng ta ở đâu, đều được quyết định bởi hôm nay chúng ta làm gì.

4. Đừng phụ bạc quãng thời gian đẹp nhất cuộc đời bạn (Cảnh Thiên).

Trong bộ phim “Ăn, cầu nguyện và yêu” có một câu nói kinh điển: “Duy chỉ có món ngon và tình yêu là không thể phụ bạc được”. Kì thực, chúng ta không thể phụ bạc tuổi xuân của chính mình. Có một câu nói thú vị rằng: “Ai chưa từng đam mê cuồng nhiệt, người đó lãng phí tuổi xanh.” Đừng bao giờ kí thác tuổi xuân và ước mơ của mình cho người khác. Người khác có thể giúp bạn thực hiện ước mơ, nhưng họ không thể làm thay bạn. Chúng ta phải gửi gắm giấc mơ của mình vào đôi tay của chính mình, nỗ lực một cách ngoan cường từng chút, từng chút một.

5. Ernest Rutherford đoạt giải Nobel Hóa học về nghiên cứu phân tử nguyên tử. Ông từng khẳng định: “Việc sản sinh năng lượng bằng cách phân chia các nguyên tử là vô nghĩa. Mọi nỗ lực để thu được năng lượng từ sự chuyển đổi nguyên tử là điều hoang tưởng.” Nhưng một vài năm sau đó, năng lượng nguyên tử ra đời và được sử dụng để sản xuất điện.

Lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng, đừng “quá tin” người khác, tại sao lại không thể “quá tin” vào bản thân mình chứ? Nếu bạn không kiên định, không tin tưởng chính mình thì rất dễ lạc lối giữa những ý kiến và sự nghi ngờ của đám đông.

6. Định mệnh của những người không biết chia sẻ là trở thành kẻ cô độc.

Tolstoy từng nói: “Tình yêu thật kì diệu, nó có thể khiến cho mọi phép tắc toán học mất đi sự cân bằng. Hai người cùng sẻ chia một nỗi thống khổ, thì sẽ chỉ còn một nỗi thống khổ, hai người cùng chia sẻ một niềm hạnh phúc thì sẽ có hai niềm hạnh phúc.”

Chia sẻ là sự giao thoa giữa trái tim và trai tim. Chia sẻ là sự truyền đạt giữa tình cảm và tình cảm. Mỗi người trong chúng ta đều cần sự chia sẻ, đều không thể xa rời sự chia sẻ, đều phải học cách để chia sẻ. Chỉ khi hiểu được cách chia sẻ, bạn mới có thể khuếch đại được năng lượng tích cực của mình, mới khiến cho tâm trạng của bạn ngày càng tốt đẹp.

7. Chẳng ai thỏa nguyện cho cuộc đời bạn, chỉ bạn mới có thể thỏa nguyện chính mình.

Trong phim “Bá vương biệt cơ” có một câu thoại rất hay: “Làm người thì phải thỏa nguyện cho bản thân”.

Quả tình là vậy, trí tưởng tượng của chúng ta dù phong phú đến đâu cũng không thể tự nhiên thành hiện thực, những điều chúng ta mong chờ càng không bao giờ từ trên rơi xuống. Muốn có được phải dựa vào đôi tay của chính mình. Chỉ cần trải qua quá trình học hỏi, từ học hỏi trở thành hiểu biết, như vậy mới thực sự là thỏa nguyện bản thân.

8. Ngước nhìn trời sao, trưởng thành cô độc.

Có ai đó từng nói rằng, giao tiếp với người khác là một dạng năng lực. Nhưng thực ra, hưởng thụ sự cô độc cũng là một dạng năng lực.

Trong cô độc, chúng ta mới có thể tìm được phiên bản chân thực nhất của bản thân. Chúng ta trưởng thành vững mạnh và thấu tỏ ý nghĩa thực sự của cuộc đời.

- Trong cô độc, chúng ta có thể tìm được phiên bản chân thực nhất của bản thân:

Từ xưa đến nay, phàm là những người thành công thì đều có khả năng chịu đựng sự cô độc. Lý Bạch, nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc từng nói: “Bậc thánh hiền từ cổ chí kim đều cô độc, chỉ có kẻ say là lưu danh muôn thuở.” Ông cũng tự xưng mình là một “hành giả cô độc”, giả chăng chính vì ông có thể hưởng thụ sự cô độc nên mới được người đời xưng tụng là “Thi tiên”, lưu lại cho hậu thế những tác phẩm văn học thiên cổ tuyệt xướng.

Trước khi thành danh, đạo diễn tài ba Lý An cũng mất sáu năm ròng rã ở nhà, cả ngày chỉ biết cơm nước giặt giũ, chẳng khác gì một “ông nội trợ” thực thụ. Trong sáu năm đó, cảm giác cô độc là không thể tránh khỏi, nhưng ông hiểu được những lợi ích mà sự cô độc mang lại – ông có thể bình tâm học tập, tích lũy và trưởng thành. Và sau này ông trở thành một đạo diễn mà ai cũng ngưỡng mộ. Nếu năm đó ong không cam chịu sự cô độc, không lặng lẽ theo đuổi đam mê của bản thân, thì chắc hẳn ông đã không thể gặt hái thành tựu huy hoàng như hiện tại.

Nhà văn nổi tiếng Trung Quốc – Lâm Huy Nhân nói rằng: “Trong cõi hồng trần này, phàm ai cũng tư mình hành tẩu, lá trầu bà phớt qua tay áo, mây xanh làm đẫm ướt lời thề. Núi và sông có thể lãng quên nhau, nhât và nguyệt có thể chẳng liên quan. Khi đó, chỉ còn lại khúc hoan ca giữa cõi đời của một người, những năm tháng đằng đẵng của một người mà thôi.”

9. Chỉ khi kiên trì chờ đợi, chúng ta mới có thể nhìn thấy phong cảnh đẹp đẽ nhất của cuộc sống.

Trong cuộc sống, chúng ta dường như mỗi ngày đều phải chờ đợi: Con trẻ khóc lóc ỉ ôi, đó là bởi chúng chờ đợi bố mẹ về nhà chơi đùa cùng. Người già ngày qua ngày vò võ trông mong, đó là chờ đợi đứa con ở phương xa sớm về đoàn tụ. Chàng trai trẻ ôm mộng lập nghiệp, cả ngày dãi nắng dầm mưa trên đường, đó là bởi chờ đợi một cơ hội để một bước lên mây, thực hiện được ước mơ của mình. Nhạc sĩ đóng cửa cả ngày không ra ngoài, đó là bởi chờ đợi bản thân sáng tác ra những giai điệu lay động lòng người… Chờ đợi là một chủ đề lớn trong cuộc sống của chúng ta, không biết chờ đợi đồng nghĩa với việc không biết sống.

Xung quanh chúng ta có rất nhiều người không thể kiên nhẫn đợi chờ, họ thường quá sốt sắng, nông nổi mỗi khi đối diện với trở ngại, trên cả chặng đường dài lúc nào cũng muốn nhanh về đích sớm, chóng đạt thành công. Người Trung Quốc có câu thơ: “Không trải qua giá rét thấu xương, há được hưởng hương mai nức mũi?” Giả như không có sự chờ đợi mòn mỏi, làm sao có được niềm vui của thành công. Xét cho cùng, cơ hội luôn dành cho những ai có sự chuẩn bị, dành cho những ai có đủ kiên nhẫn để chờ đợi. Hãy học cách dịu lắng tâm trí, tích thêm năng lượng từ sự trầm lặng, chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận cơ hội. Đó mới là con đường mà bất cứ ai muốn thành công đều phải trải qua.

11. “Cà chua nhũn” chính là cách gọi những “nhân vật thân thiện” trong cuộc sống hay trong công việc, bọn họ đối xử với người khác lúc nào cũng rào trước đón sau, cho đi mà không cần báo đáp, không tính toán thiệt hơn… Thời gian dần trôi, bọn họ dần trở thành đối tượng để mọi người “làm phiền”.

Chỉ khi ngẩng đầu nhìn lên, chúng ta mới nhìn thấy cả một bầu trời sao. Chỉ có hành động, chúng ta mới theo đuổi được ước mơ tươi đẹp của mình. Chỉ khi không ngừng bồi đắp nội tâm, chúng ta mới học được cách từ chối, từ đó vượt lên chính mình.

12. “Đường đi gập ghềnh là đúng rồi, chứng tỏ bạn đang leo lên dốc. Lên hết con dốc là đỉnh núi nơi những nỗ lực của bạn tựu thành.”

13. “Bạn chỉ thực sự tàn tật khi linh hồn bị đánh bại. Chỉ cần linh hồn không bị đánh bại thì chắc chắn sẽ có hi vọng để thành công, bạn có thể biến nước mắt thành kim cương, tạo dựng được cuộc đời rực rỡ, huy hoàng của bản thân.” (Aimee Mullins – đại sứ thương hiệu L’Oreal).

14. Không phải mọi nỗ lực đều đạt được kết quả, nhưng mỗi kết quả đều đòi hỏi nỗ lực.

15. Mỗi “khoản lỗ” đều mang tới sự trưởng thành.

Bạn biết không? Chỉ có 2 loại người trên thế giới này: một là những người sợ thất bại, còn lại là những người không sợ thất bại. Những người thuộc vế đầu tin rằng thất bại là một gánh nặng và gây ra áp lực cho con người, Những người thuộc vế sau tin rằng thất bại là một yếu tố không thể thiếu, nó sẽ khiến cuộc sống chúng ta càng phong phú, thú vị hơn.

Một bộ phim thần tượng của Nhật Bản có tên là “101 lần cầu hôn”, nói với khan giả rằng: Để theo đuổi đích đến “thành công” mà mình mong muốn thì phải có dung khí như “101 lần cầu hôn”, đừng sợ thất bại hay sợ đả kích. Thất bại một lần thì phải rút ra bài học để bắt đầu lần thứ hai. Thất bại lần thứ hai, lại đúc rút kinh nghiệm để bắt đầu lần thứ ba. Đợi đến khi đã có đầy đủ kinh nghiệm và bài học, mỏ vàng đã mở ra, thành công sẽ không còn xa vời.

---------

nguồn: Tổng hợp

Bài văn đạt 9,5 điểm thi đại học. Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Anh/chị hãy p...
17/10/2023

Bài văn đạt 9,5 điểm thi đại học. Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng Giang để làm sáng tỏ nhận xét trên

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"... Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc.

Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài
Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp
...

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.

Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại.

Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.

Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào.

Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn.

Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi.

Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng.

Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên.

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."

"Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu".

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa.

Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cần gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:

Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.

Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

"Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "lòng quê". Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.

Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay.

Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim... Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường.

Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.

Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Address

Thị Trấn Thanh Chương
Thanh Chuong

Telephone

+84916031782

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BIÊN SOẠN ĐỀ VĂN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to BIÊN SOẠN ĐỀ VĂN:

Shortcuts

Share

Category