Lớp văn cô Thu

Lớp văn cô Thu Cô Thu-giáo viên dạy Văn chuyên luyện thi cấp 3,thi THPT Quốc gia,bồi dưỡng Ngữ văn các lớp 6-12,Tiếng Việt tiểu học.

Phương châm giáo dục: Rèn ý thức trước khi truyền kiến thức! Cô Thu chú trọng phát triển trong mỗi học sinh một tình yêu đối với việc học Văn – ham hiểu biết, chủ động không ngừng vươn lên tìm tòi kiến thức mới, rèn luyện những kỹ năng mới

🍀Đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐭𝐫𝐢̀𝐧𝐡 𝐛𝐚̀𝐲 𝐬𝐮𝐲 𝐧𝐠𝐡𝐢̃ 𝐯𝐞̂̀ “𝐦𝐨̛ 𝐮̛𝐨̛́𝐜” 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐡𝐚̂𝐧 𝐯𝐚̣̂𝐭 𝐭𝐫𝐮̛̃ 𝐭𝐢̀𝐧𝐡 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ ...
22/08/2026

🍀Đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐭𝐫𝐢̀𝐧𝐡 𝐛𝐚̀𝐲 𝐬𝐮𝐲 𝐧𝐠𝐡𝐢̃ 𝐯𝐞̂̀ “𝐦𝐨̛ 𝐮̛𝐨̛́𝐜” 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐡𝐚̂𝐧 𝐯𝐚̣̂𝐭 𝐭𝐫𝐮̛̃ 𝐭𝐢̀𝐧𝐡 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ 𝐁𝐨̂́𝐧 𝐦𝐮̀𝐚 𝐦𝐨̛ 𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐜𝐮̉𝐚 𝐭𝐚́𝐜 𝐠𝐢𝐚̉ 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐋𝐚̃𝐦 𝐓𝐡𝐚̆́𝐧𝐠
------
𝐁𝐨̂́𝐧 𝐦𝐮̀𝐚 𝐦𝐨̛ 𝐮̛𝐨̛́𝐜
Em mơ mình là cánh én
Gọi nắng xuân về muôn nơi
Trong veo nỗi niềm thương mến
Hòa trong rộn rã tiếng cười.
Em mơ mình là cơn gió
Giữa ngày nắng hạ nồng oi
Cùng mây bay đi đâu đó
Đem mưa dịu mát muôn nơi.

Em mơ là vầng trăng tỏ
Lung linh giữa trời thu xanh
Vui cùng những ngôi sao nhỏ
Như ngàn đôi mắt long lanh
Em mơ mình là ngọn lửa
Xua tan giá lạnh mùa đông
Đàn chim vui bay về tổ
Bữa cơm chiều quê ấm nồng…

Yêu từng dặm dài đất nước
Em mơ về con đường xa
Bốn mùa còn bao mơ ước
Ở phía chân trời bao la.
(𝑁𝑔𝑢𝑦𝑒̂̃𝑛 𝐿𝑎̃𝑚 𝑇ℎ𝑎̆́𝑛𝑔, 𝐺𝑖𝑎̂́𝑐 𝑚𝑜̛ 𝑏𝑢𝑜̂̉𝑖 𝑠𝑎́𝑛𝑔, 𝑁𝑋𝐵 𝑉𝑎̆𝑛 ℎ𝑜̣𝑐, 2/2017)

🌿𝐆𝐨̛̣𝐢 𝐲́

- Ước mơ đẹp đẽ của nhân vật trữ tình, gắn liền với hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, ý nghĩa:
+ Ước mơ là cánh én mùa xuân mang đến không khí rộn ràng, ấm áp; mang đến niềm vui…
+ Ước mơ là cơn gió mùa hạ bay khắp nơi, mang theo hơi mát và những cơn mưa dịu lành…
+ Ước mơ là vầng trăng sáng mùa thu, gợi lên không gian yên bình, thơ mộng…
+ Ước mơ là ngọn lửa mùa đông mang lại sự ấm áp, sum vầy:
=> Ước mơ sống có ích, mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc sống.
=> Thể hiện lẽ sống cao đẹp, đáng được trân trọng, ngợi ca…
(Trong quá trình phân tích, học sinh cần phân tích từ ngữ đặc sắc, biện pháp tu từ… => Tránh diễn xuôi)
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Thể thơ 6 chữ tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, phù hợp với nội dung của bài thơ.
+ Hình ảnh giàu sức gợi: “cánh én”, “cơn gió”, “vầng trăng”, “ngọn lửa” đều là những hình ảnh quen thuộc, mang tính biểu tượng giàu ý nghĩa…
+ Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ: Cánh én “gọi” nắng xuân, gió “đem” mưa mát lành, trăng “vui” cùng sao nhỏ, lửa “xua tan” giá lạnh giúp thiên nhiên trở nên gần gũi, có hồn.
+ Giọng điệu trong sáng, tha thiết, thể hiện những khát khao hồn nhiên, đẹp đẽ của nhân vật trữ tình…

🌿𝐁𝐚̀𝐢 𝐥𝐚̀𝐦 𝐭𝐡𝐚𝐦 𝐤𝐡𝐚̉𝐨

“Thơ là bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm” (Leonardo da Vinci). Quả thật, trong bài thơ Bốn mùa mơ ước của Nguyễn Lãm Thắng, “mơ ước” hiện lên như một hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi, qua đó bộc lộ một tâm hồn trong trẻo và giàu khát vọng cống hiến. Vốn là những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên, “cánh én”, “cơn gió”, “vầng trăng”, “ngọn lửa” qua cảm nhận của nhân vật trữ tình lại trở thành những biểu tượng đẹp đẽ của ước mong sống có ích. Nhân vật trữ tình “mơ mình là cánh én” để “gọi nắng xuân về”, đem theo “rộn rã tiếng cười”; mơ thành “cơn gió” để “đem mưa dịu mát muôn nơi”; mơ là “vầng trăng tỏ” soi sáng bầu trời thu; rồi hóa thành “ngọn lửa” để “xua tan giá lạnh mùa đông”, mang hơi ấm đến những mái nhà. Điệp ngữ “Em mơ”, kết hợp với hình ảnh ẩn dụ và nhân hóa, khiến những ước mơ vừa hồn nhiên vừa chan chứa tình yêu cuộc sống, con người và quê hương. Đặc biệt, câu thơ “Yêu từng dặm dài đất nước/ Em mơ về con đường xa” đã mở rộng ước mơ từ những điều bình dị đến khát vọng khám phá, dựng xây quê hương. Qua đó, nhà thơ gửi gắm thông điệp: tuổi trẻ hãy biết nuôi dưỡng những ước mơ đẹp và biến chúng thành những việc làm có ích cho cuộc đời. Có thể khẳng định, “mơ ước” chính là điểm sáng làm nên chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp trong trẻo của bài thơ.
-----
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

Đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐩𝐡𝐚̂𝐧 𝐭𝐢́𝐜𝐡 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐝𝐨̀𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐨̛ 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ “𝐌𝐚̀𝐮 𝐦𝐚̂𝐲 đ𝐨̉ 𝐭𝐫𝐞̂𝐧 đ𝐢̉𝐧𝐡 đ𝐨̂̀𝐢 𝐀𝟏” 𝐜𝐮...
21/08/2026

Đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐩𝐡𝐚̂𝐧 𝐭𝐢́𝐜𝐡 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐝𝐨̀𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐨̛ 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ “𝐌𝐚̀𝐮 𝐦𝐚̂𝐲 đ𝐨̉ 𝐭𝐫𝐞̂𝐧 đ𝐢̉𝐧𝐡 đ𝐨̂̀𝐢 𝐀𝟏” 𝐜𝐮̉𝐚 𝐧𝐡𝐚̀ 𝐭𝐡𝐨̛ 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐂𝐡𝐢𝐞̂́𝐧
------
“Điện Biên Phủ, trái tim và khẩu súng
Phút hi sinh người lính trẻ nghĩ gì
Anh gọi mẹ, trời quê đầy ắp nắng
Mẹ trên đồng gặt lúa, mẹ còn nghe”.

Gợi ý

- Nội dung chủ đề:
+ Suy nghĩ của người lính trước phút hi sinh về nơi chiến trường ác liệt.
+ Lời từ biệt của người lính với mẹ và quê hương.
- Đặc sắc nghệ thuật: thể thơ tự do; cách sử dụng từ ngữ giàu tính biểu tượng; câu hỏi tu từ; giọng điệu thiết tha, sâu lắng…

Bài làm tham khảo

Thơ ca là tiếng nói của tâm hồn, nơi nhà thơ gửi gắm những rung động sâu xa trước con người và cuộc đời. Với “Màu mây đỏ trên đỉnh đồi A1”, Nguyễn Việt Chiến đã tái hiện xúc động vẻ đẹp tâm hồn người lính trong những phút giây khốc liệt của chiến tranh. Bốn câu thơ đã khắc họa sâu sắc suy nghĩ của người chiến sĩ trước phút hi sinh về nơi chiến trường ác liệt. Hình ảnh “trái tim và khẩu súng” vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa biểu tượng cho sự hòa quyện giữa tình yêu quê hương và ý chí chiến đấu. Câu hỏi “người lính trẻ nghĩ gì” gợi sự nghẹn ngào, đồng thời mở ra thế giới nội tâm đầy xúc động của người lính. Trong khoảnh khắc cận kề cái chết, anh không nghĩ về bản thân mà hướng về mẹ, về quê hương với “trời quê đầy ắp nắng”, với hình ảnh người mẹ đang “gặt lúa” bình dị, thân thương. Tiếng gọi “mẹ” vang lên như lời từ biệt cuối cùng, chất chứa nỗi nhớ, tình yêu và khát vọng được trở về. Thể thơ tự do, ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu tượng cùng giọng thơ thiết tha, sâu lắng đã khắc họa vẻ đẹp cao quý của người lính Điện Biên, đồng thời làm sống dậy tình mẫu tử và tình yêu quê hương bất diệt trong những năm tháng chiến tranh.
------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

🌿𝐕𝐢𝐞̂́𝐭 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐩𝐡𝐚̂𝐧 𝐭𝐢́𝐜𝐡 đ𝐚̣̆𝐜 đ𝐢𝐞̂̉𝐦 𝐧𝐠𝐡𝐞̣̂ 𝐭𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐭𝐫𝐢́𝐜𝐡 "𝐓𝐡𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐚́ 𝐫𝐚𝐮 𝐫...
20/08/2026

🌿𝐕𝐢𝐞̂́𝐭 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐩𝐡𝐚̂𝐧 𝐭𝐢́𝐜𝐡 đ𝐚̣̆𝐜 đ𝐢𝐞̂̉𝐦 𝐧𝐠𝐡𝐞̣̂ 𝐭𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐭𝐫𝐢́𝐜𝐡 "𝐓𝐡𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐚́ 𝐫𝐚𝐮 𝐫𝐚̆𝐦" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐍𝐠𝐨̣𝐜 𝐓𝐮̛
---
Ông Tư Mốt chỉ cái dãi xanh mù mù trong mưa, bảo cù lao Mút Cà Tha kìa. Văn ờ, nói thấy xa quá chú ha. Ông cười, gạt ngang, xa gì, đây tới đó mấy hồi. Rồi chiếc xuồng máy nhỏ mong manh rập rờn đi trong giông gió. Người thành phố ngồi ngấm cái “mấy hồi” của ông già, mừng tủi thấy màu xanh cây cỏ cù lao đã thẫm trước mắt (mà sau mới biết mình mừng hụt). Mưa dịu lại, hạt nhỏ rức nhưng gió mạnh lên, thổi xà quần , không biết đâu là chiều hướng. Ông Tư quăng cho Văn cái can nhựa còn ít xăng, bảo, tới khúc “mức” nghen, coi chừng lật xuồng. Mà, có kịp coi gì, Văn thấy mình ngã ập xuống nước, hành lý trôi mất, lên tới bờ anh chỉ còn trụi trơ bộ đồ đang mặc. Ông Tư kè chiếc xuồng vô sau, dậm chân dậm cẳng bứt đầu gãi tóc như thể mình vừa lỡ tay làm nên cơn giông chiều nay. Bởi ông biết rằng, mưa gió kia, sóng nước mênh mông kia và cả màu chiều đang lịm dần kia sẽ làm cho người bác sĩ trẻ nầy thất vọng. Bác sĩ thứ sáu về làm việc ở trạm xá cù lao. Năm người trước đã ra đi, đi vì không chịu nổi thiếu thốn. Và buồn.
Cù lao Mút Cà Tha nằm gần cuối sông Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về phía mặt trời, rộn rịp được đoạn đó rồi thôi. Mút Cà Tha nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi lại tẽn tò quay ra vì lầm đường, vì không biết đằng sau cù lao, sông cụt. Ngó sông vắng vẻ quá trời buồn, nhìn cảnh cù lao còn buồn hơn. Buồn từ mùi ổi chín phảng phất trong vườn, từ giọng người ới lên một tiếng rồi bặt, dư âm còn thâm u trên các ngọn cây, tiếng cạo cơm cháy xa vẳng trong nắng chiều… Từ mé rừng mắm chống lở đất phía bên nầy, đi hết vườn cây nầy gặp được một căn nhà thì lại tiếp đến vườn cây trái khác. Cuối cùng là bãi bồi, dây khoai lang bò xùm xòa phủ kín đất. Bóng người ẩn hiện dọn cỏ dưới các gốc cây […].
(Trích Thương quá rau răm, Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2020, tr.17-18)

𝐆𝐨̛̣𝐢 𝐲́ 𝐥𝐚̀𝐦 𝐛𝐚̀𝐢

- Một số nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật của đoạn trích:

+ Người kể chuyện ở ngôi thứ ba đem lại một cái nhìn bao quát, khách quan, chân thực về con người và khung cảnh miền đất cù lao.

+ Nghệ thuật khắc họa nhân vật: chú trọng miêu tả nội tâm nhân vật (tâm trạng tự trách, lo âu của nhân vật ông Tư khi Văn bị ngã…)

+ Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, mang đậm màu sắc phương ngữ Nam Bộ (xà quần, ha, nghen, nầy…)

+ Giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, đượm buồn.

+ Những chi tiết miêu tả thiên nhiên, khung cảnh cù lao tinh tế, tỉ mỉ (cái dải xanh mù mù trong mưa, mưa dịu lại, hạt nhỏ rức nhưng gió mạnh lên, bãi bồi, dây khoai lang bò xùm xòa phủ kín đất, bóng người ẩn hiện dọn cỏ dưới các gốc cây… );

+ Kết hợp hài hòa giữa tự sự, miêu tả, biểu cảm (Ngó sông vắng vẻ quá trời buồn, nhìn cảnh cù lao còn buồn hơn. Buồn từ mùi ổi chín phảng phất trong vườn, từ giọng người ới lên một tiếng rồi bặt, dư âm còn thâm u trên các ngọn cây, tiếng cạo cơm cháy xa vẳng trong nắng chiều…)


- Vai trò của các phương diện nghệ thuật trong đoạn trích.

+ Góp phần khắc họa rõ hình tượng nhân vật ông Tư Mốt và khung cảnh Mút Cà Tha bình dị, gần gũi mà u buồn

+ Bộc lộ tình yêu quê hương đất nước và quan niệm của tác giả về mối quan hệ gắn bó giữa con người và quê hương…)

𝐁𝐚̀𝐢 𝐥𝐚̀𝐦 𝐭𝐡𝐚𝐦 𝐤𝐡𝐚̉𝐨

Mỗi tác phẩm văn học chân chính đều là sự kết tinh giữa giá trị nội dung và vẻ đẹp nghệ thuật. Đoạn trích “Thương quá rau răm” của Nguyễn Ngọc Tư đã gây ấn tượng bởi cách kể chuyện tinh tế cùng những nét nghệ thuật giàu sức gợi. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba, giúp người kể có cái nhìn bao quát, chân thực về con người và cảnh sắc cù lao Mút Cà Tha. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng để lại dấu ấn qua việc khắc họa tâm lí ông Tư Mốt. Khi Văn bị ngã xuống nước, ông “dậm chân dậm cẳng bứt đầu gãi tóc” như tự trách mình, qua đó cho thấy sự chân thành, lo lắng của một con người giàu tình thương. Bên cạnh đó, những hình ảnh thiên nhiên được miêu tả tinh tế như “cái dãi xanh mù mù trong mưa”, “bãi bồi”, “dây khoai lang bò xùm xòa” đã tái hiện một cù lao bình dị mà đượm buồn. Ngôn ngữ mộc mạc, đậm màu sắc Nam Bộ qua các từ “ha”, “nghen”, “nầy”, “xà quần” kết hợp với giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng càng làm câu chuyện trở nên gần gũi. Sự hòa quyện giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp con người và quê hương Nam Bộ, đồng thời thể hiện tình yêu tha thiết của Nguyễn Ngọc Tư đối với miền đất này. Gấp lại trang sách, dư âm của đoạn trích vẫn ngân vang bởi vẻ đẹp nghệ thuật tinh tế và cảm xúc nhân văn sâu sắc.
------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

🌿𝐕𝐢𝐞̂́𝐭 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐜𝐚̉𝐦 𝐧𝐠𝐡𝐢̃ 𝐯𝐞̂̀ 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ "𝐋𝐚́ 𝐱𝐚𝐧𝐡" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐒𝐢̃ Đ𝐚̣𝐢----𝑳𝒂́ 𝒙𝒂𝒏𝒉Người v...
19/08/2026

🌿𝐕𝐢𝐞̂́𝐭 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐜𝐚̉𝐦 𝐧𝐠𝐡𝐢̃ 𝐯𝐞̂̀ 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ "𝐋𝐚́ 𝐱𝐚𝐧𝐡" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐒𝐢̃ Đ𝐚̣𝐢
----
𝑳𝒂́ 𝒙𝒂𝒏𝒉
Người vá trời lấp bể
Kẻ đắp lũy xây thành
Ta chỉ là chiếc lá
Việc của mình là xanh.
(Trái tim người lính (thơ), Nguyễn Sĩ Đại, NXB Thanh niên, 1998)

𝐇𝐮̛𝐨̛́𝐧𝐠 𝐝𝐚̂̃𝐧 𝐥𝐚̀𝐦 𝐛𝐚̀𝐢

1. Mở đoạn: Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.

2. Thân đoạn: Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

- Cảm nghĩ về nội dung: Bài thơ thể hiện quan điểm sống của “ta” - tác giả:

+ Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại đã đặt ra sự đối lập giữa “người”, “kẻ” với “ta”. Nếu “người” và “kẻ” (chỉ những người khác) làm những việc lớn lao như “vá trời lấp bể”, “đắp lũy xây thành” – cách nói khoa trương để chỉ những ước muốn to lớn, thậm chí phi thường của con người… Thì “ta” – chỉ đơn giản ý thức một cách khiêm tốn và thực tế :“chỉ là chiếc lá” bé nhỏ.

+ Trong cách nói “Ta chỉ là chiếc lá” có sự phân biệt giữa bản thân và người khác. “Chỉ là” thể hiện một sự tự nhận thức về bản thân đúng mức, không ồn ào, không ảo tưởng hay huyễn hoặc về mình. Nhưng dù “chỉ là chiếc lá”, bản thân “ta” vẫn ý thức:“Việc của mình là xanh”, như một lẽ tất yếu trong cuộc đời.

+ Như vậy bài thơ thể hiện một cách tự nhiên mà ấn tượng về quan điểm của tác giả, là ý thức về cái tôi cá nhân: dù chỉ là một cá thể nhỏ bé, không có những mơ ước phi thường, cũng vẫn phải ý thức được ý nghĩa sự sống của mình trong cuộc đời: là cống hiến.

- Cảm nghĩ về nghệ thuật: Bài thơ chỉ có 4 câu, mỗi câu 5 chữ, với cách nói khoa trương ở hai câu đầu kết hợp với những hình ảnh diễn đạt giản dị, mộc mạc ở hai câu cuối, cùng với nghệ thuật so sánh giàu sức gợi, tác giả đã làm nổi bật sự lựa chọn lí tưởng sống – cống hiến theo khả năng của mình.

3.Kết đoạn

Khái quát cảm nghĩ về bài thơ + bài học

𝐁𝐚̀𝐢 𝐥𝐚̀𝐦 𝐭𝐡𝐚𝐦 𝐤𝐡𝐚̉𝐨

Có người từng nói "Mỗi bài thơ là một lát cắt tâm hồn của người viết". Có lẽ vì thế mà khi đọc bài thơ "Lá xanh" của Nguyễn Sĩ Đại, ta không chỉ đọc bằng mắt mà còn lắng nghe bằng trái tim - như thể đang bắt gặp một lời thủ thỉ rất thật giữa dòng đời vội vã. Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc bởi cách tác giả nhìn nhận vị trí của cá nhân giữa cuộc đời. Hai câu thơ “Người vá trời lấp bể / Kẻ đắp lũy xây thành” gợi ra những con người theo đuổi việc lớn, mang khát vọng phi thường. Đối lập với họ, “Ta chỉ là chiếc lá” là lời tự nhận thức giản dị, khiêm tốn về sự nhỏ bé của bản thân. Thế nhưng, chiếc lá dù nhỏ bé vẫn có một sứ mệnh đẹp đẽ: “Việc của mình là xanh”. “Xanh” vừa là trạng thái tồn tại, vừa gợi sự sống, sức cống hiến và giá trị mà mỗi người đem lại cho cuộc đời. Không chỉ chạm đến cảm xúc bằng nội dung, bài thơ còn hấp dẫn bởi nghệ thuật cô đọng, hình ảnh giàu sức gợi, phép đối lập và ẩn dụ tự nhiên. Thể thơ năm chữ cùng giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng khiến lời thơ ngắn mà ý nghĩa rộng lớn. Sau khi đọc bài thơ, ta càng hiểu rằng giá trị của mỗi người không nằm ở việc mình lớn lao đến đâu, mà ở cách mình sống và cống hiến. “Lá xanh” vì thế trở thành lời nhắc nhở mỗi người biết trân trọng bản thân, sống có ích và làm tốt “việc của mình”.
-------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

🌷𝐕𝐢𝐞̂́𝐭 𝐛𝐚̀𝐢 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟔𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐩𝐡𝐚̂𝐧 𝐭𝐢́𝐜𝐡 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ 𝐧𝐠𝐡𝐞̣̂ 𝐭𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ "𝐂𝐚̂̀𝐮 𝐯𝐨̂̀𝐧𝐠" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐨...
18/08/2026

🌷𝐕𝐢𝐞̂́𝐭 𝐛𝐚̀𝐢 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟔𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐩𝐡𝐚̂𝐧 𝐭𝐢́𝐜𝐡 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐝𝐮𝐧𝐠 𝐯𝐚̀ 𝐧𝐠𝐡𝐞̣̂ 𝐭𝐡𝐮𝐚̣̂𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ "𝐂𝐚̂̀𝐮 𝐯𝐨̂̀𝐧𝐠" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐨̂𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐢̣ 𝐍𝐠𝐨̣𝐜 𝐇𝐨̀𝐚
-----
𝐂𝐚̂̀𝐮 𝐯𝐨̂̀𝐧𝐠
(𝑁𝑜̂𝑛𝑔 𝑇ℎ𝑖̣ 𝑁𝑔𝑜̣𝑐 𝐻𝑜𝑎̀)

Tuổi còn thơ khi chợt tắt cơn dông
Tôi nôn nao mong cầu vồng bảy sắc
Mẹ thường bảo: những người ở ác
Không sao qua nổi cầu vồng
Với cọng rạ đồng quê và lọ nước xà phòng
Tôi có được quả bóng tròn bé nhỏ

Cầu vồng của tôi sinh ra từ chiếc lọ
Có gì mà chẳng thể qua
Lớn lên rồi mới kịp nhận ra
Cầu vồng đẹp nhờ mặt trời rực rỡ
Quả bóng xà phòng dễ vỡ
Với bao điều chứa khuất ở bên trong

Cầu vồng, cầu vồng tôi chờ mong
Có chăng chỉ là ước vọng
Chỉ là trong thần thoại
Để nửa đời tôi ngộ nhận hào quang.
(In trong Thơ Việt Nam thế kỷ XX, Thơ trữ tình, Nguyễn Bùi Vợi (chủ biên), NXBGD,Hà Nội,2008,tr 280)

🌿𝐇𝐮̛𝐨̛́𝐧𝐠 𝐝𝐚̂̃𝐧 𝐥𝐚̀𝐦 𝐛𝐚̀𝐢

I. Mở bài: Giới thiệu đôi nét về tác giả tác phẩm.

- Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa, dân tộc Tày sinh năm 1955 tại Bắc Kạn. Các sáng tác của bà thường phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là văn hóa dân tộc Tày.

- Bài thơ “Cầu vồng” của Nông Thị Ngọc Hoà là một dòng hồi ức giàu chất trữ tình về hành trình nhận thức của con người từ những suy nghĩ hồn nhiên của tuổi thơ đến những thức tỉnh về những ảo tưởng, những giá trị đích thực của cuộc sống...

II. Thân bài: Phân tích nội dung và nghệ thuật.

a. Luận điểm 1. Bài thơ Khắc họa hành trình từ tuổi thơ hồn nhiên đến sự trưởng thành đầy chiêm nghiệm. Từ đó, nhắc nhở chúng ta trân trọng kí ức tuổi thơ và giữ vững niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

- Khổ 1: Khắc họa tuổi thơ hồn nhiên với niềm khao khát những điều kì diệu:

+ Tuổi thơ gắn liền với những cơn dông và sự chờ đợi cầu vồng hiện ra: “Tuổi còn thơ khi chợt tắt cơn dông / Tôi nôn nao mong cầu vồng bảy sắc” thể hiện sự háo hức, ngây thơ trước vẻ đẹp của tự nhiên. Lời mẹ: “những người ở ác / Không sao qua nổi cầu vồng”: đưa vào yếu tố dân gian, gắn cầu vồng với quan niệm đạo đức. Tuổi thơ tin vào những điều kì ảo, giản dị mà trong trẻo.

+ Lời mẹ dạy: những người ở ác/ Không sao qua nổi cầu vồng thể hiện cái nhìn thiện ác phân minh, giáo dục con người hướng thiện ngay từ thuở nhỏ. Câu vồng khi ấy là biểu tượng của sự công bằng, là ranh giới mà chỉ người tốt mới vượt qua được.

- Khổ 2: Hình ảnh cầu vồng gắn với những trò chơi dân dã và trí tưởng tượng trẻ thơ:

+ Hình ảnh “cọng rạ đồng quê”, “lọ nước xà phòng”, “quả bóng tròn bé nhỏ”: những vật dụng quen thuộc tạo nên “cầu vồng” riêng của tuổi thơ.

+ Cầu vồng của tôi sinh ra từ chiếc lọ / Có gì mà chẳng thể qua” thể hiện niềm tin đơn giản, hồn nhiên rằng mọi điều đều có thể đạt được, gợi vẻ đẹp bình dị, sáng tạo của tuổi thơ nơi làng quê.

- Khổ 3: Sự trưởng thành và nhận thức lại về bản chất của “cầu vồng”:

+ “Lớn lên rồi mới kịp nhận ra”,“Quả bóng xà phòng dễ vỡ”: Con người nhận ra vẻ đẹp đôi khi chỉ là hiện tượng thoáng qua, không bền vững.

+ Tác gả nhận ra quy luật: Có gì mà chẳng thể qua. Cuộc đời có những vẻ đẹp phù du, chóng vánh và cả những nỗi đau, thử thách rồi cũng sẽ qua

- Khổ 4: Sự vỡ mộng và chiêm nghiệm về những ước vọng đời người:

“Cầu vồng... chỉ là ước vọng / Chỉ là trong thần thoại”: phủ định những ảo tưởng đẹp đẽ.“Để nửa đời tôi ngộ nhận hào quang” thể hiện sự thức tỉnh muộn màng, nhìn lại hành trình sống, gửi gắm triết lí: con người cần tỉnh táo trước những ảo ảnh, biết nhìn nhận thực tế cuộc sống.

b. Luận điểm 2: Hành trình từ tuổi thơ hồn nhiên đến sự trưởng thành đầy chiêm nghiệm được thể hiện dưới những hình thức nghệ thuật đặc sắc

- Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt, phù hợp với dòng cảm xúc từ hồn nhiên đến suy tư.

- Giọng thơ biến chuyển: từ trong trẻo, hồn nhiên sang trầm lắng, chiêm nghiệm.

- Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi: cơn dông, cầu vồng, cọng rạ, lọ xà phòng... nhưng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng.

- Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm, mang màu sắc đời sống dân gian.

- Biện pháp tu từ:

+ Ẩn dụ: “cầu vồng”, “bóng xà phòng” biểu tượng cho ước mơ, ảo tưởng mong manh.

+ Liệt kê: “cọng rạ, lọ nước xà phòng” tái hiện không gian tuổi thơ sinh động.

+ Điệp từ: “cầu vồng ”nhấn mạnh hình tượng trung tâm và dòng suy tưởng. Đối lập: giữa tuổi thơ-trưởng thành, thực-ảo, làm nổi bật sự thức tỉnh.

- Nghệ thuật góp phần làm nổi bật chiều sâu triết lí và hành trình nhận thức của con người trong bài thơ.

c. Đánh giá, mở rộng

III. Kết bài:

+ Khẳng định lại giá trị của bài thơ

+ Cảm nhận bản thân

🌿𝐁𝐚̀𝐢 𝐥𝐚̀𝐦 𝐭𝐡𝐚𝐦 𝐤𝐡𝐚̉𝐨

Nhà thơ Tố Hữu từng khẳng định: “Thơ là tiếng nói của trái tim, là tiếng hát của tâm hồn trước cuộc đời.” Bởi thế, mỗi bài thơ chân thành đều mở ra một miền cảm xúc, nơi con người được trở về với kí ức, đối diện với hiện tại và lắng nghe những thanh âm sâu kín của chính mình. Nông Thị Ngọc Hòa - nhà thơ dân tộc Tày đã mang vào thơ vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống và tâm hồn con người miền núi. Bài thơ “Cầu vồng” là một sáng tác giàu chất trữ tình và suy tưởng, kể lại từ một kỉ niệm tuổi thơ để rồi mở rộng thành những chiêm nghiệm về ước mơ, niềm tin, ảo tưởng và sự thức tỉnh của con người trước cuộc đời.

Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã đưa người đọc trở về một miền kí ức xa xăm, nơi tâm hồn trẻ nhỏ vẫn nguyên vẹn sự trong veo và niềm tin vào những điều kì diệu:

“Tuổi còn thơ khi chợt tắt cơn dông
Tôi nôn nao mong cầu vồng bảy sắc
Mẹ thường bảo: những người ở ác
Không sao qua nổi cầu vồng”

Hình ảnh “cơn dông” vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa như một phông nền để cầu vồng xuất hiện. Sau những phút trời đất dữ dội, đứa trẻ lại “nôn nao” ngóng chờ sắc màu rực rỡ trên bầu trời. Chỉ một từ “nôn nao” mà cả thế giới tuổi thơ như bừng dậy. Đó là sự háo hức, mong đợi, là niềm tin hồn nhiên trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Cầu vồng trong mắt đứa trẻ không đơn thuần là một hiện tượng của đất trời. Lời mẹ đã khoác lên nó một màu sắc huyền thoại: “những người ở ác / Không sao qua nổi cầu vồng”. Một lời dạy mộc mạc mà thấm sâu vào tâm hồn trẻ nhỏ. Cầu vồng trở thành biểu tượng của sự công bằng, là một ranh giới thiêng liêng mà chỉ người sống lương thiện mới có thể vượt qua. Qua hình ảnh ấy, ta nhận ra vẻ đẹp của một tuổi thơ được nuôi dưỡng bằng niềm tin vào điều thiện, vào sự phân minh giữa tốt và xấu.

Từ bầu trời rộng lớn, cầu vồng bước xuống một không gian rất đỗi thân thương của làng quê. Thế giới tuổi thơ hiện ra qua những vật dụng giản dị:

“Với cọng rạ đồng quê và lọ nước xà phòng
Tôi có được quả bóng tròn bé nhỏ”

Chỉ “cọng rạ đồng quê”, “lọ nước xà phòng”, một đứa trẻ cũng có thể tạo nên thế giới riêng của mình. Cái nghèo của vật chất dường như chẳng thể ngăn nổi sự giàu có của trí tưởng tượng. Và rồi, “quả bóng tròn bé nhỏ” ấy lại được nâng lên thành một thứ cầu vồng của riêng nhân vật trữ tình:

“Cầu vồng của tôi sinh ra từ chiếc lọ
Có gì mà chẳng thể qua”

Câu thơ “Có gì mà chẳng thể qua” vang lên hồn nhiên mà mạnh mẽ. Đó là niềm tin của tuổi nhỏ trước cuộc đời. Khi chưa trải qua nhiều va vấp, con người nhìn thế giới bằng đôi mắt rộng mở, tin rằng mọi giới hạn đều có thể vượt qua, mọi ước mơ đều có thể chạm tới. “Cầu vồng của tôi” vì thế trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho một thế giới riêng được tạo nên bằng trí tưởng tượng, niềm vui và niềm tin. Những hình ảnh bình dị như “cọng rạ”, “lọ nước xả phòng” khiến kí ức tuổi thơ hiện lên vừa gần gũi vừa ấm áp, gợi nhớ một thời con người có thể tìm thấy hạnh phúc từ những điều nhỏ bé nhất.

Thế nhưng, thời gian luôn âm thầm đưa con người đi qua những miền kí ức. Khi trưởng thành, ánh nhìn về thế giới cũng dần thay đổi. Câu thơ “Lớn lên rồi mới kịp nhận ra” giống như một cánh cửa mở sang một miền suy tưởng khác:

“Lớn lên rồi mới kịp nhận ra
Cầu vồng đẹp nhờ mặt trời rực rỡ
Quả bóng xà phòng dễ vỡ
Với bao điều chứa khuất ở bên trong”

Nếu tuổi thơ chỉ nhìn thấy vẻ đẹp lung linh của cầu vồng thì người trưởng thành bắt đầu tìm kiếm nguyên nhân phía sau vẻ đẹp ấy. Cầu vồng đẹp “nhờ mặt trời rực rỡ”. Ánh sáng ấy làm nên sắc màu, nhưng cũng khiến ta hiểu rằng vẻ đẹp mình nhìn thấy luôn có điều kiện để tồn tại. Đặc biệt, hình ảnh “quả bóng xà phòng dễ vỡ” mang sức gợi lớn. Quả bóng ấy có thể óng ánh dưới ánh sáng, có thể khiến một đứa trẻ say mê, nhưng chỉ một tác động rất nhẹ cũng khiến nó tan biến. Đó chính là hình ảnh ẩn dụ cho những điều đẹp đẽ nhưng mong manh trong đời sống, cho những ước vọng và hào quang mà con người từng nâng niu. Càng trưởng thành, con người càng hiểu rằng đằng sau vẻ ngoài rực rỡ của cuộc đời còn “bao điều chứa khuất ở bên trong”. Vẻ đẹp đích thực đòi hỏi con người phải nhìn sâu, nghĩ kĩ và biết phân biệt giữa giá trị bền vững với ánh sáng nhất thời.

Mạch thơ cứ thế lắng xuống, rồi bất ngờ dồn lại trong khổ cuối bằng một cảm giác vừa xót xa vừa tỉnh thức:

“Cầu vồng, cầu vồng tôi chờ mong
Có chăng chỉ là ước vọng
Chỉ là trong thần thoại
Để nửa đời tôi ngộ nhận hào quang.”

Điệp ngữ “cầu vồng, cầu vồng” khiến hình ảnh trung tâm của bài thơ vang lên như một tiếng gọi từ quá khứ. Nhưng cầu vồng ở đây đã mang một ý nghĩa khác. Nó trở thành biểu tượng cho những điều con người từng khao khát, từng tin tưởng, từng đuổi theo. Hai chữ “ước vọng” chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn nỗi buồn. Ước vọng giúp con người hướng tới tương lai, song nếu biến ước vọng thành một thứ hào quang tuyệt đối, con người dễ rơi vào sự ngộ nhận.

Đặc biệt, câu thơ “Để nửa đời tôi ngộ nhận hào quang” là điểm lắng sâu nhất của tác phẩm. “Nửa đời” gợi một khoảng thời gian dài, còn “ngộ nhận” gợi sự thức tỉnh sau một quãng đời đã đi qua. Câu thơ giống như một tiếng thở dài của người đã từng tin, từng chờ đợi, từng say mê ánh sáng của cầu vồng rồi nhận ra phía sau ánh sáng ấy là sự mong manh. Tuy vậy, sắc thái của bài thơ không dừng lại ở nỗi thất vọng. Sự thức tỉnh cũng là một dạng trưởng thành. Khi nhận ra ảo ảnh, con người có cơ hội tìm kiếm những giá trị chân thật hơn, biết sống tỉnh táo hơn và biết trân trọng những điều bền vững hơn.

Làm nên sức lay động của bài thơ còn là một nghệ thuật biểu đạt giản dị mà tinh tế. Thể thơ tự do tạo điều kiện cho cảm xúc vận động linh hoạt, khi ngân nga theo kí ức, khi chậm lại trong suy tư. Giọng thơ chuyển biến tự nhiên từ trong trẻo, hồn nhiên sang trầm lắng, giàu chiêm nghiệm. Hình ảnh “cầu vồng” được lặp lại nhiều lần như một sợi chỉ xuyên suốt tác phẩm, vừa gắn kết các lớp kí ức vừa mở rộng ý nghĩa biểu tượng. Bên cạnh đó, hình ảnh “quả bóng xà phòng dễ vỡ”, “cọng rạ đồng quê”, “lọ nước xà phòng” đều rất đời thường nhưng lại chứa đựng sức gợi lớn. Nghệ thuật đối lập giữa tuổi thơ và trưởng thành, giữa vẻ đẹp lung linh và sự mong manh, giữa niềm tin hồn nhiên và sự tỉnh thức đã tạo nên chiều sâu triết lí cho bài thơ. Ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên, giàu màu sắc đời sống khiến những suy ngẫm tưởng như lớn lao trở nên gần gũi với mỗi người.

Khép lại “Cầu vồng”, người đọc vẫn còn nghe vang một tiếng gọi từ miền kí ức xa xôi. Đó là tiếng gọi của tuổi thơ, của những ước mơ từng rực rỡ, đồng thời cũng là tiếng gọi của sự trưởng thành. Nông Thị Ngọc Hòa đã mượn một hiện tượng thiên nhiên quen thuộc để nói về một vấn đề sâu sắc của đời người: con người cần biết ước mơ nhưng cũng cần đủ tỉnh táo để nhận ra đâu là ánh sáng chân thực, đâu chỉ là thứ hào quang dễ vỡ. Bài thơ vì thế vừa đẹp bởi chất thơ trong trẻo, vừa đáng nhớ bởi chiều sâu suy tưởng. Những sắc màu của cầu vồng rồi sẽ tan trên bầu trời, quả bóng xà phòng rồi sẽ vỡ, nhưng bài học về niềm tin, ước vọng và sự tỉnh thức mà nhà thơ gửi lại vẫn còn ở lại thật lâu trong lòng người đọc.
--------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

🌼Đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐠𝐡𝐢 𝐥𝐚̣𝐢 𝐜𝐚̉𝐦 𝐧𝐠𝐡𝐢̃ 𝐯𝐞̂̀ 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ "𝐑𝐮 𝐡𝐨𝐚" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐨̂ 𝐕𝐚̆𝐧 𝐏𝐡𝐮́-------RU HOARu hoa, m...
17/08/2026

🌼Đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐯𝐚̆𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐧 𝟐𝟎𝟎 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐠𝐡𝐢 𝐥𝐚̣𝐢 𝐜𝐚̉𝐦 𝐧𝐠𝐡𝐢̃ 𝐯𝐞̂̀ 𝐛𝐚̀𝐢 𝐭𝐡𝐨̛ "𝐑𝐮 𝐡𝐨𝐚" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐨̂ 𝐕𝐚̆𝐧 𝐏𝐡𝐮́
-------
RU HOA
Ru hoa, mẹ hát theo mùa
Cái hoa khép mở tựa hồ mắt con
Mẹ quen chân lấm tay bùn
Lấy đâu hoa quế, hoa hồng mà ra.
Dẫu yêu hoa mận, hoa mơ,
Cái liềm kéo áo, cái bừa núi chân.
Ba cữ rét mấy tuần xuân
Mẹ đem hoa lúa kết thành lời ru.
Sen mùa hạ, cúc mùa thu
Hoa đồng cỏ nội, bốn mùa gọi con
(Ru hoa – Ngô Văn Phú – NXB Hội Nhà văn 2007, trang 113)

Dàn bài

1. Mở đoạn
Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ
2. Thân đoạn
*Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật :
+ Trình bày cảm nghĩ về nội dung của bài thơ: sự vất vả lam lũ của người mẹ và tình yêu thương con qua lời ru gắn liền với những loài hoa mộc mạc, dân dã.
+ Cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật: Thể thơ lục bát với âm điệu nhẹ nhàng, tha thiết, sâu lắng phù hợp với việc diễn tả lời ru cũng như biểu hiện tình yêu thương sâu nặng của người mẹ dành cho con; hình ảnh thơ gần gũi, mộc mạc, gợi hồn của quê hương nông thôn vùng Bắc Bộ (hoa mận, hoa mơ, hoa lúa, hoa hồng, cái liềm, cái bừa,...); biện pháp tu từ: liệt kê nhân hoá, so sánh, ẩn dụ và sử dụng thành ngữ “chân lấm tay bùn” làm tăng giá trị gợi hình, biểu cảm cho bài thơ.
3. Kết đoạn
Khái quát cảm nghĩ về bài thơ.

Bài làm tham khảo

Trong những bài thơ viết về tình mẫu tử, “Ru hoa” của Ngô Văn Phú đã để lại trong em một dư âm thật dịu dàng và sâu lắng. Bài thơ không chỉ là lời ru ngọt ngào của mẹ mà còn là câu chuyện về cuộc đời lam lũ và tình yêu thương con vô bờ bến. Mẹ hiện lên với “chân lấm tay bùn”, gắn bó với “cái liềm”, “cái bừa”, chẳng có những đóa hoa quý phái để ru con, chỉ có “hoa lúa”, “hoa đồng cỏ nội” mộc mạc mà thân thương. Chính từ những gì bình dị nhất của đồng quê, mẹ đã kết thành lời ru, gửi vào đó tình yêu và niềm mong ước dành cho con. Em đặc biệt xúc động trước hình ảnh những mùa hoa nối tiếp nhau, như vòng tay mẹ âm thầm ôm ấp con qua bốn mùa năm tháng. Không chỉ giàu cảm xúc, bài thơ còn hấp dẫn bởi thể thơ lục bát mềm mại, giọng điệu thiết tha, cùng những hình ảnh dân dã và phép so sánh, liệt kê, ẩn dụ tinh tế. “Ru hoa” giúp em càng thấm thía rằng tình mẹ tuy bình dị mà lớn lao, luôn âm thầm nâng đỡ và chở che con suốt cuộc đời.
-------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

🌷𝐒𝐨 𝐬𝐚́𝐧𝐡 đ𝐚́𝐧𝐡 𝐠𝐢𝐚́ 𝟐 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐭𝐫𝐢́𝐜𝐡 "𝐎̂𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐨𝐚̣𝐢" 𝐯𝐚̀ "𝐆𝐢𝐚̀𝐧 𝐛𝐚̂̀𝐮 𝐭𝐫𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐧𝐠𝐨̃" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐍𝐠𝐨̣𝐜 𝐓𝐮̛-----𝐎̂𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐨𝐚̣...
16/08/2026

🌷𝐒𝐨 𝐬𝐚́𝐧𝐡 đ𝐚́𝐧𝐡 𝐠𝐢𝐚́ 𝟐 đ𝐨𝐚̣𝐧 𝐭𝐫𝐢́𝐜𝐡 "𝐎̂𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐨𝐚̣𝐢" 𝐯𝐚̀ "𝐆𝐢𝐚̀𝐧 𝐛𝐚̂̀𝐮 𝐭𝐫𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐧𝐠𝐨̃" 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 𝐍𝐠𝐨̣𝐜 𝐓𝐮̛
-----
𝐎̂𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐨𝐚̣𝐢
𝑁𝑔𝑢𝑦𝑒̂̃𝑛 𝑁𝑔𝑜̣𝑐 𝑇𝑢̛
(Tóm tắt đoạn đầu: Gia đình cậu mợ của Dung đi định cư nước ngoài. Mẹ Dung quyết định cho Dung sang ở với ông Ngoại để tiện bề trông nom ông. Dung dù không muốn nhưng vẫn nghe lời mẹ)
Sang bên ấy được hai hôm, Dung chạy về mẹ, than thở lướt sướt: "Ở với ông ngoại buồn muốn chết, đi học về, mở karaoke lại sợ ồn, nói chưa được mấy câu thì hết chuyện. Chẳng lẽ con lại nói chuyện tình yêu với ông ngoại à? Bọn bạn không dám lại nhà chơi. Ông khó lắm. Con mở nhạc cũng ngại, con nấu cơm khét ông mắng cả buổi. Suốt ngày ông cứ lo tỉa tót cho mấy chậu
kiềng, mấy con cá vàng. Con hỏi:" Ngoại chăm sóc hoài không chán sao? ", Ngoại nói" Cây cũng có linh hồn. Con không tin, ghé tai vào nghe thử, có cây nào than buồn, có cây nào thèm nghe Michael Jackson đâu ".
(Thế nghĩa là có hai thế giới ở trong ngôi nhà. Thế giới của ông là mấy ông bạn già và thế giới của Dung là tiếng nhạc gào thét xập xình. Hai thế giới vừa giành giựt vừa hòa tan nhau.)
Hôm bữa Dung nói với ông:
- Sao ông Chín bên nhà rủ ngoại đi tham gia câu lạc bộ gì đó, ngoại không đi?
Ông nhìn Dung thật lâu:" Ngoại sợ con ở nhà một mình buồn ". Dung chột dạ, có bao giờ đi chơi mà mình nghĩ tới ông không.
Có những sự thay đổi Dung không thể ngờ được. Bây giờ mỗi đêm Dung trở mình nghe ông ngoại họ khúc khắc. Nghe cây mai nhỏ nứt mình, nảy chồi Dung nghiện hương trầm tối tối ông thắp lên bàn thờ bà ngoại. Lắm khi lũ em Dung sang, chúng nó phá phách quậy tung cả lên, Dung mắng, chúng nó trề môi "Chị hai khó như một bà già", Dung giật mình. Có lẽ quen với cái tĩng lặng trong sân mà mỗi chiều Dung giúp ông tưới cây, cái khoảng không xanh lạc lõng trong khói bụi, đâu đó, trên tàng me già, dăm chú chim hót líu lo Dung quen dáng ông ngoại với mái tóc bạc, với đôi mắt hõm, cái cằm vuông, quen mỗi tháng một lần cọc cạch lên phường lương hưu. Có một điều Dung ngày càng nhận ra tiếng họ của ông ngày càng khô và rời rạc như lời kêu cứu. Chủ nhật Dung cắm cúi lau chùi bên dàn karaoke phủ bụi, ông đứng lên nheo måt:
- Sao con không hát, con hát rất hay mà. - Dung thoáng ngỡ ngàng, nó hỏi:
- Ngoại có thích nghe không?
Rồi mở máy. Hôm ấy Dung rất vui, lần đầu tiên nó hát cho riêng ông nghe và quan trọng nhất là ông đã ngồi lại đấy, gật gù.
(Tóm tắt: Sinh nhật Dung, ông và Dung cùng làm bánh kem mời bạn bè đến thật đông. Hôm ấy, hai ông cháu cùng nhảy điệu tango, đám bạn ai cũng khen, Dung hãnh diện lắm.)
(Trích Ông ngoại, tập truyện Ông ngoại, Nguyễn Ngọc Tư, NXB trẻ, 2001)
-------
𝑮𝒊𝒂̀𝒏 𝒃𝒂̂̀𝒖 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒏𝒈𝒐̃
𝑁𝑔𝑢𝑦𝑒̂̃𝑛 𝑁𝑔𝑜̣𝑐 𝑇𝑢̛
Tóm tắt: Gia đình tôi không thích giàn bầu vì gây bất tiện và khiến họ ngán ăn, nhưng không ai dám chặt vì đó là của bà nội, bà trồng để nhớ quê. Cha tôi cho rằng quê hương là khắp đất nước và đã đưa bà nội lên thành phố sống cùng gia đình.
Ở nhà tôi, công việc nhàn đến mức bà thơ thần vào rồi lại thơ thần ra. Nhà cao cửa rộng, khéo đi, cả ngày chẳng ai gặp mặt ai. Chị tôi đi học cả ngày, mẹ tôi đến sở. Bà ra cửa trước, tôi vào cửa sau, bà lên lầu, cha đi xuống, gặp nhau ở lối ngõ cầu thang, nội ngó cha, nhắc “Lúc này bay bận rộn, đến không không ăn cơm ở nhà, khéo ngã bệnh nghen con”. Cha cười “má khỏi lo”. Rồi mỗi người mỗi ngả. Bà năng xuống bếp, quấn quít ở đấy. Chị bếp khoe:
- Bác ơi, con làm bánh tổ nè, bác cháu mình cùng ăn nghen.
Bà tôi gật gù khen ngon. Tôi tò mò nhón lấy một miếng ăn thử, nó ngòn ngọt dai dai. Thứ bánh nhà quê này xem ra có khác với Sandwich, chocolate. Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết được, nào là bánh ngọt, bánh ú toàn là bánh nhà quê, mà hình như chỉ tôi ăn, ba mẹ, chị
Lan đều tránh xa xa hỏi " Bánh đó ăn ra làm sao? " Tôi khoe "Sáng này nội làm bánh khọt ngọt ngon lắm."Chị Lan tròn mắt" bánh gì tên ngộ vậy?
Ừ, ngộ, ngộ chứ. Nội mua về cái lò đất khói tù mù. Cha tôi chê. Nội mang ra ngoài hè để đỡ ám khói tường nhà. Bà bảo: "Làm bánh khọt thì phải đốt bằng lò đất, nó mới ngon". Bà đốt lửa, mắt già tèm nhem nước mắt mùi khói thơm thơm, cay nồng. Mùa này nhiều trái bầu khô, nội hái vào móc ruột ra, lấy cái vỏ mắn mì gọt. Lâu lâu nội đưa lên nhìn, nheo nheo mắt.
Tôi hỏi, nội gọt gì. Nội cười, đưa cho tôi mảnh vỏ dầy hình trái tim nỏ xíu.
- Mặt dây chuyền cho tụi nhỏ đeo. Tôi
không nén được xuỳ một tiếng.
- Thời này ai đeo mấy thứ này, nội làm chỉ mất công.
Trong đôi mắt đùng đục của bà, tôi thấy có một nỗi buồn sâu kín.....
Tóm tắt: Giàn bầu thưa dần đi khi trời mưa và bà nội tôi bị tai biến não, trở nên lơ ngơ và chỉ nhớ về quá khứ. Cha tôi nói rằng dù có thể đưa người ta ra khỏi quê hương, nhưng không thể tách quê hương ra khỏi trái tim họ, điều mà tôi thấy đúng khi nhìn bà nội ngồi lặng lẽ dưới giàn bầu.
(Trích Giàn bầu trước ngõ, Nguyễn Ngọc Tư, sach.info/story.php)

🌿DÀN BÀI

1. Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề.
- Giới thiệu tác giả, và 2 đoạn trích.
- Nêu vấn đề nghị luận: nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Ngọc Tư qua hai truyện ngắn.

2. Thân bài:

- Giải thích: nghệ thuật kể chuyện là một hình thức giao tiếp, truyền tải thông điệp, cảm xúc và thông tin thông qua việc kể lại các câu chuyện. Nghệ thuật kể chuyện không chỉ đơn thuần là việc kể lại sự kiện mà còn là sự kết hợp giữa sáng tạo, cảm xúc và kỹ thuật để tạo nên một trải nghiệm đáng nhớ cho người nghe hoặc người đọc.

- Điểm giống nhau trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Ngọc Tư qua hai đoạn trích:
+ Truyện ngắn với cốt truyện đơn giản, thời gian ngắn, không gian nhỏ hẹp, xoay quanh cuộc sống đời thường, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
+ Cách đặt nhan đề: Mộc mạc hướng đến nhân vật, đề tài, góp phần thể hiện chủ đề.
+ Ngôn ngữ đời thường, đậm chất Tây Nam Bộ và có giá trị biểu cảm cao; giọng điệu tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng thấm thía.
+ Giàu tính nhân văn khi đề cập đến sự nối kết thế hệ: Tình cảm gia đình, tinh thần trách nhiệm, biết sẻ chia, hi sinh.

- Điểm khác biệt:
* Truyện ngắn: “Ông ngoại”
+ Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện toàn tri cho phép người kể chuyện quan sát được tất cả các nhân vật.
+ Người kể chuyện nương theo điểm nhìn của nhân vật Dung.
+ Chủ đề và tư tưởng tác phẩm: Qua quá trình rút ngắn khoảng cách thế hệ để thấu hiểu, yêu thương giữa Dung và ông
ngoại, tác phẩm hướng tới đề cao những giá trị nhân văn truyền thống.
* Truyện ngắn “ Giàn bầu trước ngõ”
+ Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện hạn tri:
+ Tâm trạng và cảm xúc của bà: Bà tận hưởng việc làm bánh, tìm niềm vui trong những công việc truyền thống. Tuy nhiên bà
vẫn có một nỗi buồn sâu kín.

- Đánh giá chung:
+ Giàu tính nhân văn khi đề cập đến sự nối kết các thành viên trong gia đình.
+ Nghệ thuật kể chuyện rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư.

3. Kết bài:

- Khẳng định ý nghĩa của so sánh, đánh giá hai tác phẩm.
- Có thể nêu những ấn tượng của bản thân.

🌿Bài làm tham khảo

Nguyễn Ngọc Tư đã từng chiêm nghiệm rằng: "Truyện ngắn như một tấm ảnh chụp nhanh, bắt lấy khoảnh khắc đáng nhớ của cuộc đời." Nó là một lát cắt ngắn nhưng sự sống được kết tinh một cách đậm đặc. Vốn là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, với những truyện ngắn mang đậm chất quê hương Nam Bộ. Hai truyện ngắn "Ông ngoại" và "Giàn bầu trước ngõ" là những tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật kể chuyện của bà. Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ mang lại những câu chuyện đầy cảm xúc mà còn gửi gắm những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Qua hai tác phẩm này, chúng ta có thể thấy rõ tài năng và phong cách kể chuyện độc đáo của bà.

Nghệ thuật kể chuyện là cách nhà văn tổ chức câu chuyện bằng việc lựa chọn cốt truyện, ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu và những chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa. Với Nguyễn Ngọc Tư, câu chuyện càng nhỏ bé thì khả năng đánh thức những rung động lớn lao càng mạnh mẽ. Cả Ông ngoại và Giàn bầu trước ngõ đều được xây dựng từ những lát cắt rất đời thường. Một bên là cuộc sống chung của Dung với ông ngoại, một bên là những ngày tháng bà nội sống giữa gia đình nơi thành phố. Không gian truyện thu hẹp trong mái nhà, khoảng sân, căn bếp, giàn bầu trước ngõ; thời gian cũng được mở ra vừa đủ để những biến chuyển trong tâm hồn nhân vật hiện lên tự nhiên. Chính sự giản dị ấy làm nên vẻ đẹp riêng cho cách kể chuyện của Nguyễn Ngọc Tư.

Hai tác phẩm còn gặp nhau ở lối kể nhẹ nhàng, thủ thỉ, giàu chất Nam Bộ. Nhà văn không áp đặt cảm xúc lên người đọc mà để tình cảm tự lan ra từ những lời thoại và chi tiết nhỏ. Một tiếng ho khẽ của ông ngoại, một mùi hương trầm buổi tối, một chồi mai nứt mình hay chiếc bánh quê, cái lò đất, mảnh vỏ bầu hình trái tim đều mang theo hơi ấm của tình thân. Những nhan đề Ông ngoại và Giàn bầu trước ngõ cũng mộc mạc như chính thế giới nghệ thuật ấy: một nhan đề hướng trực tiếp đến nhân vật trung tâm, một nhan đề gọi tên hình ảnh gắn với ký ức và quê hương. Sau vẻ bình dị của câu chữ là một tấm lòng nhân hậu luôn hướng về những con người bé nhỏ, đặc biệt là người già và trẻ em.

Nếu những điểm gặp gỡ tạo nên nền tảng chung cho phong cách kể chuyện thì cách lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn lại đem đến sắc thái riêng cho từng tác phẩm. Ở Ông ngoại, câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn chủ yếu đặt vào Dung. Nhờ điểm nhìn ấy, người đọc được chứng kiến một sự thay đổi thật đẹp: từ khoảng cách đến gần gũi, từ xa lạ đến yêu thương, từ vô tâm đến thấu hiểu. Ban đầu, Dung thấy sống với ông thật buồn tẻ. Thế giới của cô là tiếng nhạc, bạn bè và những câu chuyện tuổi trẻ; thế giới của ông là cây cối, cá vàng, bạn già và sự tĩnh lặng. Hai thế giới tưởng như chẳng thể gặp nhau. Vậy mà một câu nói “Ngoại sợ con ở nhà một mình buồn” đã khiến Dung chột dạ. Cô bắt đầu nghe tiếng ho của ông, quen với dáng người tóc bạc, yêu khoảng sân xanh và nhận ra tiếng ho ngày một khô, rời rạc như một lời kêu cứu. Cách kể nương theo những chuyển biến rất khẽ trong tâm hồn Dung khiến tình ông cháu hiện lên cảm động mà không hề lên gân. Đến cảnh Dung hát cho riêng ông nghe, niềm vui của cô cũng chính là niềm vui của một trái tim đã biết mở cửa để bước vào thế giới của người mình yêu thương.

Nếu Ông ngoại khiến người đọc ấm lòng bởi sự thức tỉnh của tình thân thì Giàn bầu trước ngõ lại gieo vào lòng người một nỗi buồn dịu dàng về quê hương và ký ức. Câu chuyện được kể theo ngôi thứ nhất qua lời của nhân vật “tôi”, giúp những gì được nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận trở nên gần gũi, chân thực. Ban đầu, “tôi” còn vô tư trước những món bánh quê, còn bật cười trước món đồ chơi bà làm bằng vỏ bầu. Nhưng ánh mắt “đùng đục” với “một nỗi buồn sâu kín” của bà đã khiến đứa cháu dần nhận ra phía sau những việc làm tưởng nhỏ bé là cả một miền quê đang được bà gìn giữ. Giàn bầu, chiếc lò đất, những món bánh quê và mảnh vỏ bầu hình trái tim đều trở thành những sợi dây níu bà với quá khứ. Đặc biệt, lời người cha rằng dù đưa con người ra khỏi quê hương vẫn chẳng thể tách quê hương khỏi trái tim họ đã nâng câu chuyện gia đình thành một suy ngẫm sâu sắc về cội nguồn. Cách kể bằng cái nhìn của người cháu khiến sự nhận thức ấy diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, để nỗi buồn về tuổi già và xa quê cứ thấm dần vào lòng người đọc.

Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, vẻ đẹp nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư càng hiện rõ. Nhà văn kể chuyện bằng những điều nhỏ bé nhưng khơi dậy những tình cảm lớn lao; dùng lời văn tự nhiên mà vẫn giàu sức gợi; tạo nên những câu chuyện ít biến cố nhưng nhiều dư âm. Ông ngoại nghiêng về sự hòa giải khoảng cách thế hệ, còn Giàn bầu trước ngõ hướng đến nỗi nhớ quê và sự gắn bó với cội nguồn. Một câu chuyện khiến ta biết lắng nghe người thân khi họ còn ở bên cạnh; một câu chuyện nhắc ta nâng niu những gì thuộc về quê hương, ký ức. Cả hai cùng gặp nhau ở một điểm sáng nhân văn: tình yêu thương thường trú ngụ trong những điều bình dị nhất.

Nguyễn Minh Châu đã từng viết: "Nhà văn chân chính là người suốt đời đi tìm kiếm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người, để rồi bằng tài năng và trái tim của mình, mang những hạt ngọc ấy ra ánh sáng, soi rọi và làm đẹp cho đời." Có lẽ Nguyễn Ngọc Tư đã thành công trong vai trò của một nhà văn chân chính, viết về cuộc đời và tấm lòng vì cuộc đời. Với nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, bà phát triển các tình tiết khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn. Nghệ thuật kể chuyện của bà không chỉ thu hút người đọc mà còn để lại những ấn tượng sâu sắc về giá trị nhân văn và tình cảm gia đình. Qua hai truyện ngắn "Ông ngoại" và "Giàn bầu trước ngõ", chúng ta có thể thấy rõ sự tinh tế và tài năng của Nguyễn Ngọc Tư trong việc kể chuyện, mang đến những câu chuyện đầy cảm xúc và ý nghĩa.
---------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

Address

371 Vũ Tông Phan
Thai Hà Ap

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Lớp văn cô Thu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Lớp văn cô Thu:

Shortcuts

Share