Lớp văn cô Thu

Lớp văn cô Thu

Share

Cô Thu-giáo viên dạy Văn chuyên luyện thi cấp 3,thi THPT Quốc gia,bồi dưỡng Ngữ văn các lớp 6-12,Tiếng Việt tiểu học.

Phương châm giáo dục: Rèn ý thức trước khi truyền kiến thức! Cô Thu chú trọng phát triển trong mỗi học sinh một tình yêu đối với việc học Văn – ham hiểu biết, chủ động không ngừng vươn lên tìm tòi kiến thức mới, rèn luyện những kỹ năng mới

23/06/2026

🌻 DÀN Ý CHI TIẾT – ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
🍀 I. Mở đoạn
- Dẫn dắt: Xuất phát từ một hiện tượng đời sống, một câu chuyện, một câu nói nổi tiếng hoặc một giá trị đạo đức quen thuộc để đưa người đọc vào vấn đề.
- Giới thiệu vấn đề: Nêu trực tiếp luận đề cần bàn luận, đảm bảo rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc.
Ví dụ :Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, con người không chỉ cần tri thức để tồn tại mà còn cần những giá trị tinh thần để hoàn thiện nhân cách. Một trong những phẩm chất cao đẹp ấy là lòng biết ơn – đạo lý truyền thống đã nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt.
🍀 II. Thân đoạn
1. Giải thích
- Làm sáng tỏ khái niệm của vấn đề.
- Nếu trích dẫn câu nói, cần giải nghĩa từ ngữ, hàm ý, hoặc tư tưởng ẩn sau câu nói.
Ví dụ: Lòng biết ơn là sự trân trọng, ghi nhớ và đền đáp những điều tốt đẹp mà người khác đã dành cho mình. Đó là thái độ sống văn minh, thể hiện qua lời nói, hành động và cách ứng xử hằng ngày.
2. Phân tích – Bàn luận
- Nêu ý nghĩa – vai trò của vấn đề đối với mỗi cá nhân và cả xã hội.
- Làm rõ qua những biểu hiện cụ thể: trong giao tiếp, học tập, lao động, quan hệ gia đình – bạn bè…
Ví dụ: Lòng biết ơn góp phần nuôi dưỡng tình người, giúp mỗi cá nhân sống nhân ái và sống có trách nhiệm hơn. Khi học sinh biết ơn thầy cô, các em sẽ chăm chỉ học tập; khi biết ơn cha mẹ, các em sẽ sống ngoan ngoãn, lễ phép; khi biết ơn bạn bè, các em sẽ biết sẻ chia và giúp đỡ nhau. Nhờ vậy, xã hội trở đoàn kết, gắn bó, giàu già trị nhân văn.
3. Chứng minh
- Đưa ra dẫn chứng thực tế, ngắn gọn, chính xác, có sức thuyết phục.
- Có thể lấy ví dụ trong đời sống, lịch sử, sách báo, hoặc ngay trong môi trường học đường.
Ví dụ: Nhiều học sinh luôn thể hiện lòng biết ơn thầy cô bằng sự chăm chỉ và nỗ lực mỗi ngày; nhiều bạn dành những phần thưởng sau các kì thi để tri ân cha mẹ – những người đã hi sinh thầm lặng vì mình.
4. Phản đề
- Nêu biểu hiện trái ngược, phê phán những thái độ sai lệch liên quan tới vấn đề. Mục đích: nhấn mạnh tính đúng đắn của vấn đề bàn luận.
Ví dụ: Trái lại, những người vô ơn, sống chỉ biết nhận mà không biết cho đi sẽ dễ đánh mất lòng tin, sự tôn trọng của người khác và tự làm nghèo giá trị bản thân.
🍀 III. Kết đoạn
- Khẳng định lại ý nghĩa, giá trị của vấn đề.
- Rút ra bài học hoặc định hướng hành động cho bản thân và mọi người.
Ví dụ: Lòng biết ơn là hành trang quan trọng giúp con người sống tử tế và hạnh phúc hơn. Mỗi chúng ta, đặc biệt là học sinh, cần nuôi dưỡng phẩm chất ấy bằng những hành động nhỏ bé nhưng chân thành trong đời sống hằng ngày.
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Trong nhịp sống hiện đại đầy biến động, con người không chỉ cần tri thức để tồn tại mà còn cần những giá trị tinh thần để hoàn thiện nhân cách. Một trong những phẩm chất cao đẹp ấy là lòng biết ơn – đạo lý truyền thống đã nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt. Lòng biết ơn là sự trân trọng, ghi nhớ và đền đáp những điều tốt lành mà người khác đã dành cho mình trong cuộc sống. Đây không chỉ là cảm xúc, mà còn là thái độ sống thể hiện qua lời nói và hành động cụ thể. Biết ơn giúp con người sống nhân ái hơn, biết trân trọng những hi sinh thầm lặng quanh mình và sống có trách nhiệm với bản thân cũng như cộng đồng. Trong học tập, lòng biết ơn thầy cô khiến học sinh nỗ lực hơn mỗi ngày. Trong gia đình, lòng biết ơn cha mẹ giúp ta sống hiếu thảo và yêu thương. Trong bạn bè, lòng biết ơn tạo nên sự gắn kết, sẻ chia, cùng nhau vượt qua khó khăn. Nhờ những biểu hiện ấy, xã hội trở nên ấm áp và giàu tính nhân văn hơn. Thực tế cuộc sống cho thấy nhiều bạn học sinh luôn dành những lời tri ân chân thành hay những nỗ lực học tập nghiêm túc để bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy cô và cha mẹ. Và chính điều đó đã giúp các bạn trưởng thành trong nhân cách, sống có ích cho bản thân và cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một thực tế đáng buồn, không ít người vẫn có thái độ vô ơn, thờ ơ với tình cảm và sự giúp đỡ của người khác, họ dễ bị xa lánh và đánh mất đi những giá trị tốt đẹp của chính mình.Hãy rèn luyện thái độ biết ơn bằng những hành động nhỏ nhưng giàu ý nghĩa: lễ phép, cố gắng học tập và trân trọng những gì đang có. Đó là cách để chúng ta hoàn thiện chính mình và sống có ý nghĩa.
-------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

22/06/2026

🍀Thơ ca là loại hình nghệ thuật đặc thù, được tạo thành từ những rung động mãnh liệt của người nghệ sĩ trước hiện thực đời sống, vì thế, khi đọc hiểu thơ, cần chú ý đến các yếu tố như: nhân vật trữ tình, hoàn cảnh sáng tác, tình cảm tư tưởng, các dấu hiệu đặc biệt trong hình thức thể hiện của bài thơ, giọng thơ riêng của tác giả so sánh với các tác giả khác…
1️⃣Xác định nhân vật trữ tình.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ thực chất cũng chính là tác giả, trong quá trình sáng tạo đã tự hoá thân để dễ dàng hơn trong việc bày tỏ những tâm tư cảm xúc trước hiện thực đời sống, đọc hiểu thơ, phải nắm bắt yếu tố này trước tiên. Từ nhân vật trữ tình, có thể nhận biết được nhanh các yếu tố tiếp theo của bài thơ
2️⃣Xác định hoàn cảnh sáng tác.
“Lịch sử nào thì văn học ấy”, phải đặt tác phẩm vào đúng hoàn cảnh tạo sinh nên, người đọc mới có thể hiểu sâu hơn về những cảm xúc, cách thể hiện của người viết. Xu hướng hiện nay trong các đề thi, sau phần văn bản thơ, sẽ có những chú dẫn về hoàn cảnh sáng tác, các từ ngữ… HS cần tinh tế nhanh nhạy nắm bắt, kết hợp với vốn hiểu biết xã hội của chính mình để có được cảm nhận đầy đủ về bài thơ
3️⃣Xác định cảm xúc, tư tưởng của nhân vật trữ tình
Lecmontop từng thổ lộ “Có những đêm không ngủ, mắt rực cháy và lòng thổn thức tâm tư, khi ấy tôi viết”, lời tâm sự đã khái quát được vấn đề cốt lõi của thơ ca, đó chính là cảm xúc, đặc biệt đó phải là những trạng thái cảm xúc mãnh liệt dâng tràn từ tâm hồn thính nhạy của nghệ sĩ trước đời sống, nếu tình cảm hời hợt nông cạn, thơ sẽ trở thành những con chữ “thấp khớp” nằm thẳng đơ trên trang giấy. Đọc hiểu thơ, cần nhận định được cảm xúc người nghệ sĩ muốn thể hiện, để từ đó có thể soi chiếu vào chính tâm hồn, nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp…
4️⃣Xác định các dấu hiệu đặc biệt về nghệ thuật
Chữ, hình ảnh thơ, các biện pháp nghệ thuật, giọng điệu… đều là những điểm đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ. Thơ vốn là thể loại đòi hỏi sự hàm súc, cô đọng, nên mỗi chữ đưa vào bài đều là kết quả của quá trình chọn lọc kì công, thậm chí khổ luyện, trả chữ với giá “cắt cổ” của người nghệ sĩ, vì vậy, khi đọc hiểu, cần phát hiện những điểm này để đưa ra những bàn luận sao cho thấu đáo.
5️⃣Xác định điểm riêng biệt độc đáo của nhà thơ
Riêng và độc đáo- thực chất là phong cách sáng tạo của người nghệ sĩ, phân biệt người viết đó với những người viết cùng trào lưu, nhóm, giai đoạn… Đây cũng là điểm tạo nên những dấu ấn đậm sâu của người sáng tạo trong dòng chảy văn chương, như cách nói “đứng trước văn chương cũng như đứng trước dãy núi chạy thẳng về chân trời quá khứ, người ta chỉ có thể nhìn thấy những đỉnh cao mà thôi”
----------------------
🎯Sau đây là một ví dụ minh hoạ cụ thể cho những yếu tố đã đề cập ở trên
Bài thơ: NHỚ - Phạm Tiến Duật
(Lời một chiến sĩ lái xe)
Cái vết thương xoàng mà đi viện
Hàng còn chờ đó tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
(1969)
🔹️Nhân vật trữ tình: Người lính lái xe của những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước
🔹️Hoàn cảnh sáng tác: Người lính bị thương phải nằm viện, không thể tiếp tục lái xe chở hàng chi viện tiền tuyến
🔹️Tâm trạng người lính: Bồn chồn, mong ngóng, muốn nhanh chóng được trở lại với công việc lái xe chở hàng chi viện chiến trường
🔹️Các dấu hiệu nghệ thuật: Đối lập: vết thương xoàng- đi viện, nhân hoá: hàng chờ, xe reo, liệt kê đi kèm điệp từ: nằm ngửa- nhớ trăng, nằm nghiêng- nhớ bến, ngồi dậy- nhớ lưng đèo
🔹️Điểm riêng biệt, độc đáo của Phạm Tiến Duật: Giọng thơ trẻ trung, có phần ngang tàng, nhưng cũng đậm chất sâu lắng, trữ tình, tái hiện rất đẹp hình tượng người lính lái xe cung đường Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt…
--------------------
⏩🍄Từ những định hướng như trên, HS có thể viết đoạn văn cảm nhận về bài thơ:
Bài thơ “Nhớ” của Phạm Tiến Duật đã ghi lại chân thực và xúc động tâm trạng của người lính lái xe Trường Sơn, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ đang bước vào giai đoạn khốc liệt (1969). Người lính ấy bị thương, phải nằm viện điều trị, không thể theo những chiếc xe, những chuyến hàng chi viện cho chiến trường miền Nam, chính lúc chiến trường cần kíp, thúc giục khẩn trương. Lời thơ mở đầu cho thấy nhân vật không hề muốn phải đi viện, tự nhận định vết thương của bản thân chỉ là “xoàng” không có gì nặng. Nhưng đường Trường Sơn năm 1969, biết bao mưa bom và bão đạn, bụi nhoà và “trời lửa”, đã có biết bao con người hoá thành “vầng mây trắng” nơi rừng núi ấy, những người lính lái xe luôn phải đương đầu với hiểm nguy, chết chóc, vì thế, “vết thương xoàng” trong lời người lính kia chắc hẳn không hề “xoàng”. Lời thơ đầu như lời phân trần, lại giống như đang phàn nàn về chính mình của người lính. Câu thơ sau đó đã giúp người đọc hiểu vì sao anh lại có tâm trạng như thế “Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo”, cách nhân hoá được nhà thơ dùng khiến người đọc cảm nhận hàng và xe đều như đang vẫy gọi, reo vang thôi thúc người lái mau chóng trở lại với những cung đường, đó cũng là sự thôi thúc từ trong chính tâm hồn người lính. Chiến trường đang gấp, đang mong chờ, đỏ mắt mỗi chuyến hàng vào, một chuyến xe chậm, một xe hàng bị bắn phá là sẽ kéo theo bao hi sinh, mất mát nơi vùng đất đau thương đang bị giày xéo dưới gót giày quân xâm lược bạo tàn. Người lính ý thức rất rõ điều đó, bởi thế anh mới không muốn nằm viện, không muốn phải rời xa cung lái, anh không nghĩ về mình mà chỉ nghĩ về công việc, về sự gấp rút khẩn trương của chiến trường lúc bấy giờ. Những ngày nằm viện, anh da diết nhớ về những hình ảnh, khoảnh khắc của núi rừng Trường Sơn nơi xe anh qua, nhà thơ đã kết hợp tài tình phép điệp từ “nhớ” với lối liệt kê “nằm ngửa- nhớ trăng” “nằm nghiêng- nhớ bến” “ngồi dậy- nhớ lưng đèo”. Nghệ thuật đảo ngữ ở câu thơ cuối “Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo” đã làm nổi bật lên nỗi nhớ da diết, cồn cào, nôn nao của người lính, nhớ về lưng đèo, nhớ đường, nhớ xe, thật giống như nhớ về người yêu, và lại càng thêm mong muốn nhanh được trở lại. Đó là nỗi nhớ cao đẹp của một người lính hết lòng vì công việc, vì chiến trường, vì đất nước, là biểu hiện của tâm hồn cả một thế hệ “đã đi không tiếc đời mình” “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” …Phạm Tiến Duật đã khắc hoạ lại được rất khéo điều đẹp đẽ ấy trong dung lượng một bài thơ rất gọn…
💧Trên đây là những gợi ý cơ bản, với mỗi bài thơ, đoạn thơ, hs cũng cần đọc mở rộng, tìm kiếm thêm các kiến thức liên quan, tích luỹ thêm tri thức lí luận, rèn cách diẽn đạt… để từ đó, việc đọc hiểu bài thơ, đoạn thơ ngoài chương trình sẽ không còn là công việc khô- khó- khổ!
Tác giả: Vương Thị Phương Thảo - GV Ngữ văn, trường THPT Trần Phú
-----
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

21/06/2026

🌿Chi tiết nghệ thuật đã tạo nên cách mở đầu hấp dẫn cho câu chuyện🌿
Bàn về cách viết truyện ngắn, nhà văn Sê Khốp có phát biểu: “Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận” (Theo “Sêkhốp bàn về văn học”). Nhà văn phải dụng công để tạo nên một cách mở đầu thật độc đáo, ấn tượng, thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ những dòng đầu tiên. Kiệt tác “Chí Phèo” của Nam Cao thật đặc sắc khi mở ra bằng chi tiết tiếng chửi của Chí. Đây là cách giới thiệu trực tiếp nhân vật và mở đầu không theo trình tự thời gian mà đi thẳng vào giữa truyện. Chi tiết tiếng chửi là một dụng công rất lớn của Nam Cao. Cách chửi của nhân vật khá độc đáo: “Bắt đầu hắn chửi trời... Rồi hắn chửi đời... Chửi ngay tất cả làng Vũ Đại... chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn...”. Thoạt đầu Chí chửi vu vơ, sau đó thu hẹp dần đối tượng và cuối cùng bất ngờ chửi “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn...”. Hắn chửi người đẻ ra mình, tức là chửi chính mình, chửi số kiếp mình. Cả làng Vũ Đại không ai biết “đứa chết mẹ nào” đã đẻ ra Chí Phèo, nhưng nhà văn Nam Cao biết: Đẻ ra Chí Phèo bằng xương bằng thịt là một người đàn bà bất hạnh, còn đẻ ra hiện tượng Chí Phèo là cả cơ chế xã hội bất công thối nát đương thời, ở đó chất độc nằm ngay trong sự sống. Chí Phèo chửi cả làng với hi vọng được ai đó chửi lại, tức là hắn khao khát được giao cảm với mọi người. Nhưng tín hiệu giao tiếp phát đi liên tục, lại chỉ gặp sự im lặng đến đáng sợ. Ngay từ đầu tác phẩm Chí Phèo đã rơi vào tình trạng hoàn toàn cô độc, không ai giao tiếp với hắn dù là bằng hình thức thấp kém nhất: chửi nhau: "chửi rồi lại nghe", "chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu". Tiếng chửi đã thể hiện tâm trạng bi phẫn, bất mãn, một trái tim đau đớn, vật vã, giằng xé, một tâm hồn tuyệt vọng khi bị xã hội khai trừ, bị cự tuyệt quyền làm người. Chi tiết này đã hé mở tình trạng bi đát của thân phận Chí Phèo. Tiếng chửi được thể hiện trong một đoạn văn đa giọng điệu: ngôn ngữ trực tiếp của người kể chuyện, ngôn ngữ của người kể chuyện hòa lẫn vào ngôn ngữ của nhân vật, tạo ra ngôn ngữ nửa trực tiếp. Nhà văn như đã hóa thân vào nhân vật, đồng cảm và nói hộ nỗi đau của thân phận Chí Phèo. Đằng sau cách gọi Chí là "hắn" đầy lạnh lùng là cả một trái tim trĩu nặng yêu thương của Nam Cao.
🔥 Chi tiết nghệ thuật là yếu tố quan trọng tạo nên tình huống truyện
Tình huống là một trong những thành tố cấu trúc nên truyện ngắn hiện đại. Một trong những khâu quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn là sáng tạo tình huống truyện độc đáo. Mỗi truyện ngắn thường được kết cấu xoay quanh một tình huống. Tình huống là một biến cố, một sự kiện trong đời sống được nhà văn lạ hóa để làm nổi rõ bản chất thật của con người, sự việc, qua đó, tác giả gửi gắm tư tưởng tình cảm của mình. Bởi vậy, tình huống giống như một thứ thuốc rửa ảnh làm nổi bật lên chân dung của nhân vật và tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Tình huống truyện được hình thành bởi hệ thống các chi tiết nghệ thuật có quan hệ biện chứng với nhau.
Tình huống trong truyện "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam là tình huống độc đáo, giàu chất thơ, man mác buồn, một tình huống bình dị mà sâu xa như đời sống: Cuộc sống nơi phố huyện tất cả đều tàn lụi nhưng có một thứ không tàn: đó là khát vọng được đổi thay, được sống khác của những cư dân tội nghiệp sống trong phố huyện nghèo. Tuy phải sống một cuộc sống nghèo khổ, tối tăm, lay lắt, nhưng đêm nào họ cũng cố thức chờ chuyến tàu từ Hà Nội về, để gửi gắm mơ ước về một cuộc sống tươi sáng hơn. Tình huống truyện này đã được tạo nên từ những chi tiết về thời gian tàn, không gian tàn, những kiếp đời tàn, những đồ vật tàn…. Thời gian tàn từ chiều tà đi dần vào đêm khuya. Chỉ cần qua một buổi chiều, một lát cắt của thời gian, ta có thể cảm nhận mọi buổi chiều trong nhịp sống của phố huyện. "Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru...". Âm điệu câu văn mở đầu chậm rãi, như ngân như ru lòng người vào một nỗi niềm bâng khuâng, mơ hồ, man mác. Câu văn được cất lên qua giọng điệu của Liên, hòa cùng sự ngậm ngùi của tác giả. Đó là một tiếng kêu thảng thốt, một tiếng thở dài não nuột của một tâm hồn già nua trước tuổi. Thế là một buổi chiều nữa của đời Liên lại về. Đó là khoảnh khắc Liên phải đối mặt và cảm nhận được sâu sắc nhất sự nghèo nàn, ảm đạm của phố huyện. Và để cho không khí tàn lụi đọng thành một ấn tượng đậm nét, nhà văn đã chọn không gian tàn với âm thanh, cảnh vật, màu sắc đều tàn lụi. Trong bức tranh khung cảnh, gợi cảm nhất là chi tiết: "Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những áng mây ánh hồng như hòn than sắp tàn", cảnh vật như đang lóe sáng lên lần cuối cùng trước khi tàn úa. Hình ảnh mặt trời đỏ ối sắp tắt là biểu tượng của một ngày tàn, là khoảnh khắc hấp hối của vũ trụ, hay là của chính miền quê này? Về màu sắc, gam màu đen bao trùm cả không gian. Bóng tối là một chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh đè nặng lên cảnh vật và con người. Không dưới ba mươi lần hình ảnh bóng tối xuất hiện, như một cái gì hãi hùng đang xâm lấn, luồn lách vào mọi cảnh vật, bủa vây mọi con người. Nó tạo nên không gian đen đặc cho bức tranh phố huyện. Bóng tối trở thành nỗi ám ảnh về một cuộc sống tối tăm, bế tắc, ngao ngán. Đối lập với bóng tối là những chi tiết về ánh sáng. Ánh sáng được miêu tả rất khe khắt, hiếm hoi và đơn độc, chỉ là những khe sáng, hột sáng, quầng sáng, vệt sáng, chấm lửa,... không đủ để soi sáng không gian, mà còn tô đậm thêm bóng đêm đậm đặc, mênh mông của phố huyện. Nếu như ánh sáng, âm thanh là biểu tượng của sự sống, thì bóng tối, sự tịch mịch là biểu tượng của hư vô, của cái chết. Cuộc sống hiện tại của chị em Liên là phố huyện ngập chìm trong đêm tối, nghĩa là sự sống đang hụt hơi, hấp hối như một miền đời quên lãng, một vùng đất chết, thiếu vắng sự sống.
Bức tranh phố huyện càng buồn hơn khi nhà văn góp vào cái giờ khắc của ngày tàn một phiên chợ vãn, với những chi tiết tưởng như vu vơ nhưng lại chứa đầy dụng ý của nhà văn. Trên đất chỉ còn lại những rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía. Ảm đạm nhất là chi tiết: “Một mùi âm ẩm bốc lên”, đó là mùi của sự tàn rữa. Trung tâm của bức tranh phố huyện là những mảnh đời nhỏ bé, âm thầm trong cuộc sống tối tăm, quẩn quanh, bế tắc. Những kiếp đời ấy làm nên gương mặt âm u của phố huyện. Làm nên cuộc sống của họ là những đồ vật tàn: một ngôi quán ọp ẹp, vách dán giấy nhật trình, một cái chõng tre sắp gãy, một manh chiếu rách, chiếc chậu sắt rúm ró,… Qua bức tranh phố huyện trong cảnh ngày tàn, với thời gian tàn, không gian tàn, kiếp người tàn lụi, tác giả thể hiện tiếng nói xót thương cho những kiếp người bé nhỏ, sống cuộc sống vô danh, vô nghĩa, quẩn quanh. Bao trùm lên bức tranh phố huyện là một vẻ tàn lụi, tăm tối, sự sống dường như đang từng ngày lìa bỏ nơi này. Nhưng có một thứ không tàn, đó là niềm hy vọng của con người về một tương lai tươi sáng hơn: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Và khao khát vượt ra khỏi cuộc sống mòn mỏi ấy được thể hiện rất rõ qua tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ.
Thạch Lam tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng đoàn tàu theo trình tự thời gian, qua tâm trạng chờ trông của Liên và An. Chúng ta không thể bỏ qua được những chi tiết về đoàn tàu như: ánh sáng rực rỡ, lấp lánh chốn thị thành, át đi ánh sáng mờ ảo, yếu ớt của phố huyện. Âm thanh náo nhiệt, tưng bừng đối lập với những thanh âm buồn tẻ, đơn điệu của phố huyện. Đoàn tàu đã mang đến một thế giới khác lạ, nó khuấy động không gian phố huyện, làm cho con người nơi đây trong chốc lát quên đi hiện thực tăm tối, để sống với ước mơ. Thạch Lam đã nhìn thấy trong hành động đợi tàu của hai đứa trẻ chứa đựng một khao khát không phải của riêng hai đứa trẻ và không phải của một thời, mà của mọi thời. Đó là khát khao đổi đời, cần phải thay đổi thế giới tăm tối này đi, đem đến một thế giới khác, ở đó ai cũng có quyền được sống trong hy vọng, chứ không phải là tàn đi trong vô vọng.
🔥 Vai trò của chi tiết trong việc xây dựng hình tượng nhân vật
Nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong tác phẩm tự sự, là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực, và “gửi gắm tư tưởng, tình cảm, quan niệm của mình về cuộc đời”. Nhân vật là “con đẻ tinh thần của nhà văn”. Hình tượng nhân vật trở nên sinh động, gợi cảm là nhờ các chi tiết. “Chi tiết (…) cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng (...). Do đó chi tiết rất quan trọng đối với nhân vật, vừa tạo ra sức hấp dẫn, thú vị, vừa bộc lộ ý nghĩa của chúng.”. Mỗi nhân vật là một sinh thể toàn vẹn được tạo nên bởi các chi tiết có quan hệ máu thịt với nhau: các chi tiết về ngoại hình (Chí Phèo: khuôn mặt, đầu, răng, mắt, quần áo, …); các chi tiết về hành động (Chẳng hạn với Chí Phèo là những hành động: chửi, say, ăn vạ, đến với Thị Nở, đòi lương thiện, giết Bá Kiến, tự sát.); các chi tiết về nội tâm (tâm trạng của Chí Phèo từ khi gặp Thị Nở, …); các chi tiết về ngôn ngữ (Chí Phèo: tiếng chửi, những lời nói tỏ tình với Thị Nở, tiếng nói đòi lương thiện,…); các chi tiết về mối quan hệ giữa các nhân vật và giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh, các mối quan hệ này bộc lộ địa vị, tính cách, và số phận của nhân vật (Chí Phèo: quan hệ với Bá Kiến, thị Nở, với hoàn cảnh xã hội của làng Vũ Đại,…)
Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, tôi đặc biệt ấn tượng với nhân vật người “Vợ nhặt” mà tác giả đã dồn bao tinh hoa và tinh huyết để xây dựng nên. Thị là nạn nhân khốn khổ nhất của nạn đói. Nhưng điều đáng quý đã làm nên chất thơ cho hiện thực đắng cay này đó là, sau khi nguy cơ chết đói đã qua, cô gái đã trở lại với con người thật của mình, và nữ tính cũng hồi sinh, cô chợt e lệ và xấu hổ. Chi tiết cô ăn xong thị “cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở : hà, ngon !” là chi tiết thể hiện nữ tính của người vợ nhặt. Đó là cách cô gái đánh trống lảng vì ngượng và che giấu sự xấu hổ bên trong. Đặc biệt trên đường về nhà chồng người vợ nhặt đã thay đổi hẳn, trở thành một cô dâu rất đáng yêu, không còn chao chát, chỏng lỏn nữa. Điều đó được thể hiện rõ nét qua những chi tiết về dáng vẻ, lời nói của thị: vì xấu hổ nên nói chuyện trống không với chồng; bước chân “rón rén”, “e thẹn”, “ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”, “đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”, đúng là dáng vẻ của một cô dâu đầy nữ tính. Tấm lòng nhân đạo của Kim Lân thể hiện qua cách ông đã miêu tả rất tỉ mỉ, chi tiết dáng vẻ của người đàn bà trên đường về nhà chồng, từ dáng đi e thẹn cho đến nỗi hờn tủi cho thân phận mình.
Ở đây nhà văn đã rất kiên nhẫn lặp đi lặp lại những từ đồng nghĩa. Dường như ông cố minh oan, để trả lại cho người đàn bà khốn khổ bản chất dịu hiền vốn có. Khi về đến nhà, thị “ngượng nghịu”, “ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”. Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa. Người đàn bà đã thực sự trở thành một người vợ "hiền hậu đúng mực", đảm đang, tảo tần, chịu khó. "Thị" đã đem đến cho ngôi nhà của Tràng một sinh khí mới, một nhịp sống mới. Trong bữa cơm đầu tiên, thị đã “điềm nhiên và vào miệng miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. Đây là chi tiết thể hiện sự ý tứ và thái độ đồng cảm, sẻ chia với gia đình nhà chồng của người vợ nhặt. Thông qua một loạt các chi tiết biết nói, nhà văn muốn nhắn gửi tới chúng ta một điều: Hóa ra chính cái đói đã đẻ ra sự liều lĩnh, táo bạo, thô thiển, trắng trợn, nhưng không thể làm mất đi bản chất hiền hậu, tốt đẹp trong tâm hồn con người. Người vợ nhặt vốn là một cô gái nghèo, có tư cách, có khao khát hạnh phúc. Nạn đói đã làm mất đi phần nào tư cách ấy, biến dạng một phần tâm hồn cô, nhưng cuối cùng cô vẫn vươn lên giữ vững tư cách người. Dù bị đẩy đến đường cùng, "thị" vẫn khao khát sống, khao khát hạnh phúc. Hành động theo Tràng về làm vợ của người đàn bà, chứng tỏ "thị" luôn tìm mọi cách để vượt lên cái đói, tìm đến sự sống, kể cả phải hành động liều lĩnh. Nhà văn đã mở ra con đường sống cho những kiếp đời khổ cực. Nhân vật vợ Tràng đã thể hiện niềm tin bền vững của Kim Lân vào bản chất tốt đẹp của người lao động.
Như vậy, khi phân tích một nhân vật, chúng ta phải tuân thủ tính hệ thống của các chi tiết nghệ thuật làm nên hình tượng đó. Từ đó phát hiện và xoáy sâu vào những chi tiết độc đáo, là điểm sáng mà nhà văn đã rất dụng công khi xây dựng hình tượng.
Từ sự phân tích ở trên chúng ta thấy lựa chọn được những chi tiết đắt giá sẽ quyết định thành công của tác phẩm, bởi chúng được chưng cất lên từ tấm lòng và tài năng của người cầm bút.
🔥 Chi tiết nghệ thuật góp phần tạo nên kết cấu đặc sắc cho tác phẩm
Kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm... không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm” . Trong tác phẩm văn học chi tiết phải tuân thủ kết cấu. Kết cấu giúp tổ chức chi tiết. Trong nhiều truyện ngắn, nhà văn đã tạo nên được những kết cấu độc đáo nhờ các chi tiết nghệ thuật. Khi mới ra đời “Chí Phèo” có tên là “Cái lò gạch cũ”. Đó là nơi Chí Phèo cha ra đời và cũng có thể là nơi hứa hẹn sự ra đời của Chí Phèo con. Chi tiết cái lò gạch cũ được nhắc đi nhắc lại hai lần trong tác phẩm, đặt ở vị trí đầu và cuối của thiên truyện như một thủ pháp trùng lặp, góp phần khái quát một hiện tượng phổ biến đến mức đã thành quy luật khủng khiếp trong cuộc đời những người nông dân ở xã hội cũ: họ bị xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy vào con đường lưu manh, sa vào kiếp sống tối tăm của thú vật, bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Việc lặp lại hai lần chi tiết cái lò gạch cũ và lấy chi tiết đó đặt tên cho tác phẩm, Nam Cao đã nói lên một điều rằng: chừng nào còn có xã hội bất công, tàn bạo, có cơ chế đẻ ra tội ác, chừng ấy còn có hiện tượng Chí Phèo. Qua cách kết cấu này, chúng ta thấy, Nam Cao đã nhận thức được cái tận cùng của xung đột giai cấp ở nông thôn.
🔥 Chi tiết nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả
Macxim Gorki đã nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Điều đó thật đúng với tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân. Trong mỗi chi tiết mà ông sáng tạo nên đều dồn tụ biết bao ý nghĩa. Để làm nổi bật sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối, của cái cao thượng đối với cái thấp hèn, của cái đẹp với cái xấu xa, nhà văn đã xây dựng một loạt những chi tiết về một Huấn Cao luôn hiên ngang, bất khuất, ngẩng cao đầu trước quyền lực của nhà tù: hành động rỗ gông, thản nhiên nhận rượu thịt, câu nói khinh miệt đến điều với quản ngục, bình thản trước tin báo mình sắp sửa bị hành hình... Đặc biệt, khi miêu tả tư thế Huấn Cao cho chữ viên quản ngục, Nguyễn Tuân rất tài tình khi ông dùng từ "vướng xiếng" thay từ "bị xiềng". Cách viết ấy đã gợi lên hình ảnh người tù hiên ngang, khẳng khái, bị trói buộc, giam cầm về thân thể nhưng luôn tự do về tinh thần. Gông xiềng chỉ là một cái gì vướng víu dưới chân. Còn tâm hồn người tù đang say sưa với mùi thơm của mực, ngây ngất trước màu trắng tinh khiết của tấm lụa bạch. Huấn Cao hiện lên như một nghệ sĩ đang say mê sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo những con chữ nói lên hoài bão tung hoành của cả một đời người. Giây phút cuối cùng của cuộc đời tử tù không than thân trách phận. Trong khoảnh khắc thiêng liêng nhất, Huấn Cao vẫn dành trọn cho cái đẹp. Việc Huấn Cao cho chữ quản ngục, không phải là hành động của người sắp bị tử hình đem những thứ quý giá nhất của đời mình trao cho người khác, càng không phải là cơ hội cuối cùng để Huấn Cao trổ hết tài hoa. Mà lí do sâu xa như Huấn Cao đã nói: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người… Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Như vậy, việc Huấn Cao cho chữ Quản ngục thực chất là lấy lòng để tạ lòng, là tình cảm của kẻ tri âm dành cho người tri kỉ. Trong khoảnh khắc này, cái tài và cái tâm của Huấn Cao cùng thăng hoa để cho cái đẹp vút bay.
Bên cạnh những chi tiết miêu tả phong thái của Huấn Cao khi cho chữ, chủ đề của tác phẩm còn thấm đẫm trong những chi tiết tưởng như rất nhỏ bé như chi tiết hương thơm của chậu mực, chi tiết tấm lụa trắng...“Thoi mựa thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm từ chậu mực bốc lên không?...”. Câu hỏi của Huấn Cao như muốn lay thức tâm hồn trong sạch của quản ngục trỗi dậy. Hương thơm của mực hay chính là hương vị của tình người, hương vị của sự cộng cảm giữa những tâm hồn đồng điệu. Dấu (…) tạo nên khoảng lặng để tâm hồn con người được thăng hoa, ngây ngất thưởng thức cái đẹp. Chi tiết tấm lụa trắng xuất hiện bốn lần trong một đoạn văn ngắn mà bóng tối của nhà tù không thể xóa nhòa (tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ, tấm lụa trắng tinh, phiến lụa óng, bức lụa trắng). Hình ảnh tấm lụa trở đi trở lại gợi lên sự trong trẻo, thanh sạch trong tâm hồn con người mà hoàn cảnh tăm tối không thể làm hoen ố. Như vậy, ngục tù không thể tiêu diệt được cái đẹp. Đó không chỉ là cái đẹp định hình trong con chữ, mà còn là cái đẹp thoát bay từ tâm hồn, từ thiên lương trong sáng. Huấn Cao – người nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp tuy sắp lìa đời, nhưng cái chết của ông có ý nghĩa tái sinh sự sống và làm hồi sinh thiên lương của quản ngục.
Dường như, Nguyễn Tuân đã dồn nén bao tư tưởng trong chi tiết lời giáo huấn của người tù: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người”. Lời giáo huấn không cứng nhắc, giáo điều mà thấm thía. Nó cất lên khoan thai, thư thái, đĩnh đạc. Đó là những lời gan ruột của bạn tri âm dành cho người tri kỉ. Câu nói ấy vừa gói ghém được nhân cách của Huấn Cao vừa thể hiện được quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp: Cái đẹp không thể sống chung với cái xấu, cái ác, cái bạo tàn. Sự trong lành của thiên lương không thể đồng hành với sự đê tiện. Huấn Cao nhấn mạnh lại: “Thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.” Qua những lời gan ruột này, nhà văn muốn nêu lên một yêu cầu đối với người thưởng thức nghệ thuật: Phải sống trong sạch, sống lương thiện mới có thể đến với nghệ thuật, đến với cái đẹp. Trước khi là một nghệ sĩ phải là một con người chân chính, có nhân cách cao đẹp. Lời răn dạy của Huấn Cao có sức mạnh cảm hóa kì diệu. Bởi tiếng nói của trái tim sẽ đến với trái tim. Ngục quan cảm động, trào dâng những giọt nước mắt nóng hổi tình người, nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Đây không chỉ là sự thuần phục của lí trí, mà còn là sự yêu mến của trái tim. Cái cúi đầu của quản ngục đã dạy chúng ta rằng: muốn nên người phải biết kính sợ ba điều: cái tài, cái đẹp, cái thiện tính tốt đẹp của con người. Như vậy: Cái đẹp có sức mạnh cảm hóa, có thiên chức hướng thiện. “Cái đẹp cứu nhân thế”. Sự trở về không bao giờ là muộn, và sự trở về của quản ngục đã chứng tỏ chiến thắng cuối cùng của cái đẹp. Trong trật tự của xã hội phong kiến đó là cái đẹp “nổi loạn”. Qua chi tiết này, Nguyễn Tuân muốn khẳng định rằng: Trên cõi đời này không chỉ có quyền lực của nhà tù, mà còn có quyền uy của cái đẹp – Cái đẹp của nhân cách, của tài hoa, của khí phách và thiên lương con người.

-------
🍀https://lopvancothu.com (st)
----------
🔰Trải nghiệm khóa học văn online cùng cô Thu - Tự tin chinh phục mọi thử thách!

Want your school to be the top-listed School/college in Thai Hà Ap?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


371 Vũ Tông Phan
Thai Hà Ap