30/01/2024
[ NGÔN NGỮ KÝ HIỆU - TĨNH MÀ KHÔNG HỀ TĨNH 🙆 ]
Có một thứ ngôn ngữ của yêu thương, có một thứ ngôn ngữ của cảm xúc, có một thứ ngôn ngữ không cần những âm thanh nghe được, không cần những câu nói có tiếng. Đó chính là ngôn ngữ ký hiệu - thứ ngôn ngữ tĩnh mà không hề tĩnh. Ngôn ngữ ký hiệu hay thủ ngữ là ngôn ngữ dùng những biểu hiện của bàn tay thay cho âm thanh của tiếng nói và được tạo ra để gắn kết những người khiếm thính trong cộng đồng chung cũng như là mọi người trong xã hội.
Vậy thì còn chần chờ gì nữa, ngay bây giờ hãy cùng theo chân YBSC để tìm hiểu về lịch sử và đặc điểm của ngôn ngữ đặc biệt này thôi nào 💡
1. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI 🗺
Vào khoảng thế kỉ 4 TCN, Aristotle - triết gia của Hy Lạp từng cho rằng "Người điếc không thể giáo dục được. Nếu không nghe được, con người không thể học được". Điều đó đồng nghĩa với việc người khiếm thính phải đứng bên lề cuộc sống vì họ không thể giao tiếp, không thể học hành. Tình trạng đó kéo dài đến tận thế kỉ XVI– thời Phục Hưng - tất cả thay đổi khi Geronimo Cardano, một nhà toán học, một bác sĩ người Ý, tuyên bố rằng cộng đồng người khiếm thính nên được chăm sóc và giáo dục để có thể giao tiếp với thế giới. Ông nói thêm rằng người khiếm thính có thể được dạy để truyền đạt những suy nghĩ và ý tưởng của họ thông qua các hình ảnh và biểu tượng chứ không phải là các từ và cụm từ. Chỉ chưa đầy 100 năm sau, Juan Pablo de Bonet đã hiện thực hóa ước mơ được giao tiếp của những con người khiếm thính bằng việc công bố bảng chữ cái thể hiện bằng tay vào năm 1620.
Năm 1755, từ việc dạy cho 2 cô bé sinh đôi bị điếc, cha Charles-Michel de l'Épée đã thành lập trường dạy cho những người điếc. Đây là trường công đầu tiên dành cho người điếc. Cha đã hệ thống lại những dấu hiệu mà người điếc ở Pháp đã dùng và sử dụng những dấu hiệu này theo ngữ pháp của Tiếng Pháp để dạy cho học sinh điếc.
Đến năm 1778 tại Leipzig, Đức, Trường Samuel Heinicke, do nhà giáo cùng tên thành lập, là trường công lập đầu tiên dành cho người điếc không chỉ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu mà còn dùng phương pháp nói và đọc khẩu hình (speech-reading), tiên phong cho việc dùng tất cả các phương pháp để giao tiếp tối ưu (dùng ngôn ngữ ký hiệu, cử chỉ, đánh vần bằng ký hiệu, đọc khẩu hình, nói, trợ thính, đọc, viết và tranh vẽ).
2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM 🇻🇳
Cũng như lịch sử ra đời và phát triển của ngôn ngữ ký hiệu trên thế giới, ngôn ngữ ký hiệu của Việt Nam cũng xuất hiện từ khá lâu trước đó. Nhưng do chưa từng có tiền lệ các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về ngôn ngữ này nên người Việt Nam không cho rằng đó là thứ ngôn ngữ riêng của những người khiếm thính mà chỉ cho rằng đó là hành động cử chỉ tay để cố gắng giao tiếp của những người khiếm thính.
Năm 1996, một tiến sĩ ngôn ngữ học người Mỹ - James C. Woodward, người đã từng làm việc với William Stokoe tại trường đại học Gallaudet của Mỹ, đã sang Việt Nam thực hiện nghiên cứu về ngôn ngữ ký hiệu của cộng đồng người điếc ở Việt Nam. Nghiên cứu của ông chỉ ra rằng tại Việt Nam có ít nhất 3 ngôn ngữ ký hiệu phổ biến. Cũng từ đó James S. Woodward đã dùng tên của những địa danh này để đặt tên cho 3 ngôn ngữ ký hiệu đó: Ngôn ngữ ký hiệu Hà Nội, ngôn ngữ ký hiệu Hải Phòng, và ngôn ngữ ký hiệu Thành phố Hồ Chí Minh.
3. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ KÝ HIỆU 🖇️
Cũng như ngôn ngữ nói có sự khác biệt rõ rệt giữa từng khu vực, từng quốc gia thậm chí là từng vùng miền, ngôn ngữ ký hiệu từ đó cũng được phân hóa dẫn tới sự khác biệt của hệ thống từ vựng và ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu giữa các nước. Tuy nhiên, ngôn ngữ ký hiệu ở các nước trên thế giới đều có những điểm tương đồng nhất định.
Chẳng hạn như khi nói 'uống nước' thì ta giả bộ cầm cốc uống nước, khi nói 'lái ô tô' thì giả bộ cầm vô lăng ô tô quay. Mỗi người chúng ta đều có sẵn 30% kiến thức ngôn ngữ ký hiệu nhưng do ngôn ngữ ký hiệu phát triển hơn trong cộng đồng người khiếm thính, nên những người thuộc cộng đồng này của hai nước khác nhau có thể giao tiếp với nhau tốt hơn hai người bình thường không biết ngoại ngữ.
Hai đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ này chính là tính giản lược và có điểm nhấn. Chẳng hạn như trong ngôn ngữ nói chúng ta thường hỏi: "Bạn có khỏe không ?" thì trong ngôn ngữ ký hiệu sẽ được giản lược và nhấn mạnh thành "KHỎE không ?". Do tính giản lược và có điểm nhấn nên cấu trúc ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu nhiều khi không thống nhất, cùng một câu có thể sắp xếp nhiều cách khác nhau và thường thì điểm nhấn sẽ được đưa lên đầu câu để gây hiệu quả chú ý.
4. NGÔN NGỮ KÝ HIỆU VÀ CUỘC SỐNG 🏫
Thực tế trong đời sống chúng ta vẫn, đã và đang sử dụng ngôn ngữ ký hiệu rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Khoa học đã chứng minh chúng ta truyền tải ngôn ngữ 70% thông qua các biện pháp không lời, tức là cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… Như thế, ngôn ngữ ký hiệu tràn ngập trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta có thể không nhận thức, nhưng nó vẫn tồn tại, phát triển và giúp cho cuộc sống tiện lợi, thoải mái hơn. Có thể nói rằng những người câm điếc đã tiếp thu sự sáng tạo ngôn ngữ của những người bình thường rồi từ đó mô phỏng và hệ thống hóa tất cả lại thành một thứ ngôn ngữ của riêng họ.
Con người có quyền được tự do, được giáo dục và được giao tiếp với xã hội xung quanh. Như vậy, người câm điếc cũng cần được cất lên tiếng nói của bản thân để không phải tách mình ra khỏi xã hội, ra khỏi cộng đồng chung. Và ngôn ngữ ký hiệu sinh ra mang sứ mệnh như vậy - sứ mệnh gắn kết con người với con người 👭💕
Nguồn: Wikipedia, Báo Dân Trí, Cao Thị Xuân Mỹ - Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM
🔬 Thu Huyền
📷 Phương Linh
—---------------
YBSC - Young Bac D**g Quan Scientists Club
Sẵn sàng giải đáp thắc mắc:
*Nguyễn Thị Thu Huyền - leader CLB
📞 0333993781
💌 [email protected]"