CÙNG NHAU HỌC VĂN

CÙNG NHAU HỌC VĂN

Share

Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý.

29/12/2025

LÝ LUẬN VĂN HỌC, HIỂU ĐÚNG ĐỂ VIẾT SÂU
(Bồi dưỡng HSG Văn)
Ths. Phan Danh Hiếu

I. Hiểu đúng “luật chơi” của phần lý luận văn học HSG

- Trong bài thi HSG, lý luận văn học không phải để định nghĩa, mà để soi sáng tác phẩm và thể hiện năng lực tư duy trừu tượng của thí sinh.
- Giám khảo khó tính thường đánh giá bài viết qua 4 tiêu chí ngầm:
1. Độ chính xác học thuật (không sai, không hời hợt)
2 Độ sâu tư duy (biết đi từ khái quát - cụ thể - khái quát cao hơn)
3. Khả năng vận dụng (lý luận gắn với tác phẩm)
4. Giọng văn có bản lĩnh (không rập khuôn, không sao chép)

Vì vậy: Viết hay lý luận văn học = hiểu sâu + biết chọn + biết đặt vào đúng chỗ.

II. Cách viết phần lý luận văn học “ăn điểm cao”
1. Không mở đầu bằng định nghĩa sách giáo khoa.
- Sai lầm thường gặp: Hs hay viết kiểu: “Theo từ điển thuật ngữ văn học, hình tượng là…”. Đây là cách khô cứng, rập khuôn kiểu viết văn theo công thức mà có nhiều người hay nói trên mạng.

- Cách viết chinh phục giám khảo:
+ Mở bằng nhận định. Hoặc khái quát vấn đề.
Hoặc một mối quan hệ bản chất.

Ví dụ:
Văn học, với tư cách là một hình thái ý thức thẩm mỹ, không phản ánh đời sống bằng sự sao chép giản đơn hiện thực khách quan, mà bằng quá trình tái tạo nghệ thuật thông qua hệ thống hình tượng mang dấu ấn sáng tạo của chủ thể nghệ sĩ. Hiện thực khi đi vào tác phẩm đã trải qua một quá trình chọn lọc, khái quát và thẩm mỹ hóa, nơi cảm xúc, tư tưởng và cá tính sáng tạo của nhà văn cùng tham dự để tạo nên một “hiện thực thứ hai” – hiện thực của nghệ thuật. Chính trong thế giới hình tượng ấy, những vấn đề vốn trừu tượng và phức tạp của đời sống như số phận con người, bản chất nhân tính hay những xung đột tinh thần của thời đại được cụ thể hóa bằng những hình ảnh sống động, giàu sức gợi và ám ảnh. Vì vậy, hình tượng văn học không chỉ là phương tiện chuyển tải nội dung, mà là phương thức phản ánh đặc thù, nơi tư duy nghệ thuật được hiện hình trong cảm xúc, và tư tưởng được truyền đạt bằng con đường thẩm mỹ. Cũng từ đó, văn học khẳng định sức mạnh riêng của mình: không áp đặt chân lý, mà đánh thức nhận thức con người thông qua sự rung động sâu xa của cảm xúc và liên tưởng.

2. Viết lý luận theo cấu trúc “3 tầng tư duy”

- Giám khảo HSG thích bài viết có trí tuệ, không phải học thuộc rồi đưa vào một cách khô khan.

- Một đoạn lý luận chuẩn nên có 3 tầng:

Tầng 1: Khái quát bản chất: Nêu bản chất của vấn đề (hình tượng, ngôn ngữ, tư tưởng, cái tôi, thể loại…)

Tầng 2: Phân tích – lí giải: Vì sao lại như vậy?
Cơ chế nghệ thuật là gì? Vai trò của yếu tố đó trong tác phẩm?

Tầng 3: Nâng lên nhận thức thẩm mỹ: Ý nghĩa đối với người đọc. Giá trị đối với văn học. Vai trò với sự phát triển tư tưởng – nhân văn.

Ví dụ (về ngôn ngữ văn học):
Ngôn ngữ văn học không chỉ là phương tiện truyền đạt nội dung mà còn là nơi tư tưởng nghệ thuật kết tinh thành hình hài cảm xúc. Khi được tổ chức theo nguyên tắc thẩm mỹ, ngôn ngữ không còn phản ánh đời sống một cách thô mộc, mà trở thành không gian gợi mở cảm xúc, khơi dậy liên tưởng và dẫn dắt người đọc bước vào thế giới tinh thần của tác phẩm.

3. Lý luận luôn phải “có điểm tựa tác phẩm”.

- Giám khảo rất dị ứng với: lý luận suông. Nói hay nhưng không “chạm” văn bản.

- Nguyên tắc vàng: Mỗi ý lý luận phải có khả năng “đi vào” ít nhất một tác phẩm cụ thể.

- Cách viết đúng: Không cần phân tích dài.
Chỉ cần nhắc đúng chi tiết – đúng bản chất.

Ví dụ:
Điều này thể hiện đặc biệt sâu sắc trong cách Nguyễn Minh Châu xây dựng những tình huống truyện giàu tính nhận thức trong Chiếc thuyền ngoài xa, nơi một chi tiết tưởng như rất nhỏ của đời sống lại đủ sức mở ra những vấn đề lớn lao về con người và đạo đức sống. Tình huống phát hiện “chiếc thuyền ngoài xa” trong màn sương sớm trước hết đem đến cho nghệ sĩ Phùng một khoảnh khắc thẩm mỹ hoàn hảo, khiến anh ngỡ rằng mình đã chạm tới “chân lý của sự hoàn thiện”. Nhưng ngay sau đó, cũng chính từ hình ảnh đẹp đẽ ấy, hiện thực đời sống trần trụi và tàn nhẫn bất ngờ hiện ra qua cảnh bạo lực gia đình trên bãi biển. Sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp nghệ thuật và sự thật đau đớn của cuộc sống không chỉ làm đảo lộn nhận thức ban đầu của nhân vật, mà còn buộc người đọc phải suy ngẫm lại mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa cái nhìn phiến diện và bản chất phức tạp của con người. Ở đây, Nguyễn Minh Châu không kể một câu chuyện để minh họa cho đạo lý sẵn có, mà đặt nhân vật – và cả người đọc – vào tình thế phải tự chất vấn những chuẩn mực tưởng như hiển nhiên về cái đẹp, cái thiện và công bằng. Chính từ những chi tiết nhỏ, những khoảnh khắc tưởng chừng rất đời thường ấy, nhà văn khơi dậy những trăn trở mang tính triết lý sâu xa, làm cho tác phẩm vượt lên trên một câu chuyện về số phận để trở thành một bản đối thoại nghiêm túc về trách nhiệm đạo đức của con người trong việc nhìn nhận và thấu hiểu cuộc đời.
➡ Một câu như vậy cho thấy: học sinh không nói suông.

4. Dùng nhận định – nhưng phải “biết đặt đúng chỗ”.

- Giám khảo khó tính không cần nhiều câu nói nổi tiếng, mà cần:
+ Đúng vấn đề.
+ Đặt đúng thời điểm.
+ Gắn chặt với lập luận.

- Vị trí tốt nhất để đặt nhận định:
+ Cuối đoạn → chốt ý.
+ Sau khi phân tích → nâng tầm.
Ví dụ:
Đúng như Belinxky từng nhận định, văn học “là tư duy bằng hình tượng”, bởi chỉ thông qua hình tượng, những tư tưởng trừu tượng mới có thể chạm đến chiều sâu cảm xúc của con người.

III. Giọng văn – yếu tố “ăn điểm thầm lặng”.

- Giám khảo HSG rất tinh, các thầy cô cảm được giọng văn. Vì vậy cần lưu ý những vấn đề sau:
1. Tránh giọng kể – liệt kê. Hạn chế viết kiểu: “Thứ nhất…, thứ hai…”. Ưu tiên: giọng nghị luận học thuật.

2. Viết câu có nhịp điệu tư duy. Câu dài – ngắn đan xen. Có mệnh đề phụ. Có điểm “dừng” để suy nghĩ.
Ví dụ:
Không phải ngẫu nhiên mà trong những tác phẩm có sức sống lâu bền, ngôn ngữ luôn trở thành nơi lưu giữ rõ nét nhất dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn – nơi mỗi lựa chọn từ ngữ, mỗi nhịp điệu câu văn, dù rất nhỏ, cũng âm thầm bộc lộ cách người nghệ sĩ cảm nhận, suy tư và đối thoại với đời sống.

IV. Ba lỗi “chết người” khiến bài HSG mất điểm nặng.
1. Lý luận chung chung – sáo rỗng.
- Thuộc nhiều nhưng không thể hiện được nét riêng của bản thân.
- Viết như bài học thuộc, không có chính kiến.

khảo HSG luôn hỏi thầm:
“Em có thật sự hiểu điều mình đang viết không?”

V. Công thức ngắn gọn để học sinh ghi nhớ.

Lý luận hay = Bản chất đúng + Lập luận sâu + Gắn tác phẩm + Giọng văn có tư duy.

Chúc các em học và thi tốt!

(Nguồn: Ths. Phan Danh Hiếu)

26/12/2025

MỘT HƯỚNG GIẢI QUYẾT
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA NĂM HỌC 2025 – 2026
MÔN NGỮ VĂN
Người soạn: Thầy giáo Nguyễn Trọng Đức
Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh

CÂU 1. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Vấn đề nghị luận: Mối quan hệ giữa tự lập, tình yêu và cảm thức cộng đồng.

1. Giải thích:
- "Tự lập": Trong nguyên nghĩa tiếng Việt, “tự lập” được hiểu là tự xây dựng lấy cuộc sống của mình, không ỷ lại, không lệ thuộc hay nhờ vả người khác. Trong ngữ cảnh đoạn đối thoại trên, tự lập nghĩa là “thoát khỏi bản tính ích kỷ”, không xem mình là “trung tâm thế giới”, không xem mình như một đứa trẻ để nhận sự chiều chuộng của mọi người. Tự lập ở đây là tự lập về tinh thần, thể hiện sự trưởng thành về nhân cách.
- Trong ngữ cảnh đoạn đối thoại, khái niệm “tình yêu” được hiểu theo nghĩa rộng, đó là tình cảm gắn bó sâu sắc, mật thiết giữa người với người; tình yêu không đơn giản là cảm xúc riêng tư, mà là khả năng vượt thoát khỏi cái “tôi” ích kỷ cá nhân. Khi con người thoát ra khỏi cái tôi cá nhân hẹp hòi cũng là lúc con người biến “tôi” thành “chúng ta” để đón nhận thế giới với ý nghĩa thực sự của nó.
- “Cảm thức cộng đồng”: là cách nhìn nhận, đánh giá, tình cảm, nhận thức về cộng đồng - kết quả của quá trình nỗ lực gắn kết, trải nghiệm, tìm hiểu về đời sống. Trong ngữ cảnh đoạn đối thoại, cảm thức cộng đồng là sự vượt thoát khỏi bản tính ích kỷ để “quan tâm tới xã hội, quan tâm tới người khác”. Đó là nền tảng đạo đức, là tinh thần nhân văn thể hiện trong các mối quan hệ xã hội.
- Ba khái niệm “tự lập”, “tình yêu” và “cảm thức cộng đồng” không tách rời, mà gắn kết với nhau trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách và lẽ sống của con người. Vấn đề đặt ra cho tất cả chúng ta là: Trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc, chúng ta cần ý thức được mối quan hệ giữa các yếu tố ấy để vượt thoát khỏi cái tôi vị kỷ, gắn kết với mọi người, với cồng đồng bằng tất cả tình yêu và trách nhiệm.

2. Bàn luận:

2.1. Ích kỷ là bản tính cố hữu bên trong mỗi người
- Ích kỷ là cơ chế tự vệ, là bản tính tự nhiên gắn với lẽ sinh tồn của con người.
- Mỗi người mang một cái tôi nội tại, cái tôi ấy tự nhiên ưu tiên quyền lợi bản thân trước khi quan tâm đến người khác, đó cũng là quy luật.
- Từ thực tiễn, bất kỳ ai, khi suy nghĩ và hành động đều nghĩ đến lợi ích, quyền lợi.
- Ích kỷ không đồng nghĩa với việc khẳng định năng lực và bản lĩnh cá nhân, bảo vệ lợi ích cá nhân một cách chính đáng, bởi có năng lực, con người mới đủ khả năng tự lo, tự quyết định cuộc sống của mình, và có bản lĩnh, con người mới dám đứng trên đôi chân của chính mình, vượt qua khó khăn và thử thách.
- Quan tâm đến lợi ích cá nhân không phải là điều tiêu cực, vì đó có thể là động lực thúc đẩy sự phát triển của bản thân và kéo theo cả sự tiến bộ của cộng đồng xã hội; nhưng một khi sự quan tâm đó bị đẩy đến mức thái quá thì sẽ trở thành ích kỷ - lối sống thiếu trách nhiệm với cộng đồng và trái với đạo lí làm người.

2.2. Chủ động thoát khỏi bản tính ích kỷ để yêu thương, quan tâm và gắn kết với cộng đồng là điểm xuất phát cho hành trình xây dựng lối sống tự lập.
- Con người không thể tự lập đúng nghĩa khi còn tính ích kỷ, tức là lệ thuộc hoàn toàn vào ham muốn, sợ hãi, định kiến cá nhân. Khi chưa vượt qua bản tính ích kỷ thì tự lập mới chỉ là cái vỏ bề ngoài, chưa thể tự lập về tinh thần – điểm mấu chốt của nhân cách, lối sống.
- Khi còn mang trong mình bản tính ích kỷ, mỗi người sẽ là một vũ trụ riêng biệt, thế giới quan và nhân sinh quan sẽ rất hạn hẹp; nó sẽ điều khiển mọi hành động của con người trong sự lạc điệu về cảm thức cộng đồng.
- Yêu thương, quan tâm, gắn kết với cộng đồng là cách giải phóng bản ngã để hòa vào cuộc đời chung; giúp chúng ta thấu hiểu nhu cầu, cảm xúc,… của mọi người, từ đó điều chỉnh nhận thức và hành động trong quan hệ với cộng đồng.
- Khi con người còn ích kỷ, con người chỉ là “đứa trẻ được chiều chuộng”, còn khi thoát khỏi bản tính ích kỷ để gắn kết, thể hiện trách nhiệm với cộng đồng là khi con người thể hiện sự trưởng thành về nhân cách, lối sống, cũng là khi chúng ta trở thành người tự lập.
- Cần ý thức rõ ích kỷ không có nghĩa là tự lập, và tự lập không phải là chỉ nghĩ đến bản thân; tự lập là khi chúng ta thoát khỏi bản tính ích kỷ hẹp hòi, hòa vào cuộc đời chung để có thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn; từ đó tự điều chỉnh, tự quyết định cách ứng xử, hành động của mình hướng tới những giá trị tốt đẹp.

2.3. Cuộc sống sẽ hạnh phúc và thế giới sẽ được đón nhận với tất cả ý nghĩa tốt đẹp khi cúng ta tự lập về lối sống.
- Theo triết lí được gửi gắm trong đoạn đối thoại, “tự lập nghĩa là thoát khỏi bản tính ích kỷ”, và “tình yêu đã biến chủ ngữ của cuộc đời vốn là “tôi” thành “chúng ta”, hài hòa với “cảm thức cộng đồng”.
- Ba yếu tố: “tự lập”, “tình yêu” và “cảm thức cộng đồng” có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. “Tự lập” là phương châm khẳng định năng lực và giá trị bản thân trước cộng đồng; “tình yêu”, sự quan tâm tới người khác, tới xã hội là giải pháp, còn “cảm thức cộng đồng” giữ vai trò nền tảng cho lẽ sống tốt đẹp của con người.
- Khi chúng ta vượt thoát bản tính ích kỷ và gắn kết với cộng đồng xã hội, chúng ta sẽ không còn bị giam cầm trong cái tôi cá nhân chật hẹp, không phải nặng nề với mọi toan tính thiệt hơn, không phải đau đớn vật lộn với lo sợ để sống một cách nhẹ nhàng.
- Như đã nói ở trên, “tự lập” trong ngữ cảnh này là tự lập về tinh thần, về lối sống, tự lập về suy nghĩ, cảm xúc, hành vi. Đó mới là tự lập đích thực. Khi đó chúng ta được sống là chính mình, với tất cả những gì mình có; cuộc sống trong mắt ta sẽ trở nên tốt đẹp.
- Khi mỗi người đều thoát khỏi bản tính ích kỷ để sống hài hòa với cộng đồng xã hội, khi đó mỗi cá nhân sẽ có thêm sức mạnh từ cộng đồng, trong cộng đồng sẽ có niềm tin, tình cảm và trách nhiệm giữa người với người. Cộng đồng vì thế sẽ trở thành không gian để mỗi cá nhân được lắng nghe, được thấu hiểu và được khẳng định giá trị.
- Thoát khỏi bản tính ích kỷ, hòa mình vào cuộc sống chung của cộng đồng là một trong những biểu hiện cho đạo đức xã hội, tạo nên sự gắn kết giữa người với người, khơi dậy tinh thần dấn thân vì lợi ích chung. Lẽ sống ấy là nền tảng cho hành trình tìm kiếm hạnh phúc của mỗi người và cũng là cơ sở cho một thế giới tốt đẹp.
- Tuy vậy, thoát khỏi cái tôi vị kỷ để yêu thương, quan tâm tới mọi người không có nghĩa là hòa tan mình trong cộng đồng; quan tâm cộng đồng cũng hoàn toàn khác với việc lệ thuộc vào những người xung quanh.
- Để thoát khỏi bản tính ích kỷ, hướng tới cuộc sống tự lập, khẳng định giá trị bản thân trước cộng đồng thì mỗi người phải trang bị cho mình “vũ khí” để tương tác, để gắn kết với cộng đồng, đó là nhân cách, là nhận thức đời sống, là cách ứng xử hài hòa,…

3. Bài học nhận thức:
- Thay đổi nhận thức về bản thân, về cộng đồng, không xem mình là trung tâm của thế giới.
- Nỗ lực thoát khỏi bản tính ích kỷ vốn có trong bản thân mình;
- Yêu thương, quan tâm, trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội.

CÂU 2. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Vấn đề nghị luận: Sáng tác văn học – hoạt động tri giác đa chiều để chiếm lĩnh và phản ánh thực tại đời sống một cách toàn diện bằng tất cả mọi giác quan bén nhạy.

1. Giải thích:
- Mỗi nhà văn đều có một “đôi mắt” để tri giác và thấu thị về đời sống, nhưng cái nhìn của cá nhân nhà văn luôn hữu hạn, khó có thể nắm bắt thực tại một cách đầy đủ, trọn vẹn. Đó cũng là lí do để C.S Lewis thừa nhận: “Chỉ mắt tôi không đủ cho tôi, tôi muốn nhìn qua mắt những người khác”.
- Nhưng, thực tại đời sống vốn phong phú, đa chiều, cho nên “cả cả khi được nhìn qua mắt của nhiều người vẫn chưa đủ”. Muốn phản ánh đời sống một cách sâu sắc và toàn diện, nhà văn phải nhìn bộ mặt thế giới bằng cả cái nhìn của “con chuột”, “con ong”, phải tri giác thế giới mùi hương, thông tin và cảm xúc của “con chó”. Trong ngữ cảnh này, con chuột, con ong, con chó là những sinh vật mang ý tính biểu tượng, hàm ý nhà văn phải quan sát, cảm nhận, tri giác một cách tinh vi, thấu suốt về thế giới, không chỉ nhìn bằng con mắt cá nhân, mà còn phải nhìn bằng con mắt của muôn người, của vạn vật; không chỉ nhìn mà còn phải lắng nghe, cảm nhận, tri giác, tưởng tượng để thấu thị đời sống một cách trọn vẹn.
- Vấn đề đặt ra qua nhận định của C.S Lewis: Sáng tạo văn học chính là hoạt động tri giác đa chiều để chiếm lĩnh và phản ánh thực tại đời sống một cách tinh tế, sâu sắc, toàn diện bằng tất cả mọi giác quan bén nhạy.

2. Bàn luận:

2.1. Cách nhìn đời sống – điểm mấu chốt trong hoạt động sáng tạo của nhà văn.
- Mỗi nhà văn đều có cuộc đời, trải nghiệm, vốn sống, trí tuệ, cảm xúc, tư tưởng riêng biệt. Cho nên mỗi người sẽ có cách nhìn, cái nhìn riêng về đời sống.
- Muốn phản ánh chân thực, sinh động, sâu sắc, toàn vẹn về thế giới, nhà văn cần có chất liệu để xây dựng nên thế giới nghệ thuật. Chất liệu sáng tác chỉ có thể có được khi nhà văn phát huy tối đa năng lực quan sát và thấu thị về thế giới.
- Vấn đề không dựng lại ở hoạt động quan sát, mà quan trọng hơn, để nắm vững bản chất đời sống thì nhà văn cần có cách quan sát tinh tế, đa chiều. Điều đó lại càng khẳng định tầm quan trọng của cách nhìn đời sống – điểm mấu chốt, điểm khởi đầu trong hoạt động sáng tạo của nhà văn.

2.2. Để phản ánh đời sống một cách sâu sắc, tinh tế và toàn diện, nhà văn cần vượt qua giới hạn cái nhìn của bản thân, cộng hưởng với cái nhìn của muôn người, của vạn vật
- Vốn sống, trải nghiệm, trí tuệ của mỗi nhà văn đều có giới hạn, trong khi đó hiện thực đời sống thì muôn màu đa sắc. Theo đó, ngoài cánh nhìn riêng của mình, nhà văn cần hóa thân vào đời sống để thấu thị cái nhìn của nhiều người, của vạn vật. Chỉ khi đó nhà văn mới có thể phản ánh một cách chân thực bản chất của đời sống.
- Sáng tác là hoạt động khám phá và thể hiện thành quả khám phá đời sống của mỗi cá nhân người nghệ sĩ. Nhưng sáng tác đồng thời cũng phải là hoạt động nỗ lực khám phá và thể hiện tiếng nói chung của mọi người, của thế giới. Theo đó, ngoài cái nhìn cá nhân, người nghệ sĩ phải dung nạp cả cái nhìn của mọi người, của vạn vật.
- Người đọc, khi đến với văn chương, ngoài tìm kiếm những giá trị mới mẻ còn tìm kiếm cả sự đồng điệu, đồng cảm với những cảnh những sự được người nghệ sĩ thể hiện trong tác phẩm. Họ cần cần tác phẩm nói hộ suy nghĩ của họ, cần tìm mình trong thế giới nghệ thuật vừa quen vừa lạ do nhà văn sáng tạo.
- Nhà văn chỉ nhìn thế giới qua đôi mắt của mình thôi là chưa đủ; nhà văn cần nhìn thế giới bằng cái nhìn của nhiều người. Nhưng sản phẩm sáng tạo của nhà văn không phải là phép cộng của nhiều cái nhìn của nhiều người, mà tất cả mọi cái nhìn ấy cần được hội tụ, hòa quyện trong một cái nhìn mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ.
- Để dung hòa cái nhìn riêng của mình với cái nhìn chung của nhiều người, của vạn vật trong thế giới này, đòi hỏi nhà văn phải có thực tài và có tâm với cuộc đời, với văn chương.

2.3. Chỉ nhìn bằng mắt thường thôi chưa đủ, nhà văn cần phải hóa thân vào đời sống, tri giác đời sống bằng tất cả mọi giác quan và xúc cảm mãnh liệt của mình.
- Văn học phản ánh hiện thực đời sống, hiện thực ấy bao gồ hiện thực của thế giới khách quan và hiện thực của thế giới chủ quan bên trong con người. Đó là xúc cảm, là rung động, là tình cảm của nhà văn trước cuộc đời. Theo đó, nếu chỉ nhìn đời bằng mắt thường thôi là chưa đủ, nhà văn cần nhìn đời bằng tất cả mọi giác quan; không chỉ nhìn mà còn phải cảm, không chỉ cảm mà còn phải tưởng tượng, phải hóa thân mình vào vạn vật, vào mọi người. Chỉ như thế mới có thể năm bắt được mọi chiều kích của hiện thực đời sống.
- Nhà văn không chỉ phản ánh những cái đã có mà còn phản ánh cả những cái chưa có; không chỉ phản ánh cái hiện hữu mà còn phản ánh cả những điều không có thực trong thực tại đời sống nhưng lại có trong cảm thức, trong trí tưởng tượng của con người. Bởi vậy, nhà văn, ngoài cái nhìn còn cần đến sự tưởng tượng, tri giác bằng tất cả mọi giác quan và xúc cảm mãnh liệt của mình.
- Văn học là thế giới hư cấu tưởng tượng, nhà văn vì thế không chỉ đặt mình ở vị trí của mình – một con người – một nghệ sĩ, mà cần đặt mình vào nhiều vị trí khác nhau của nhiều người, kể cả của thế giới sinh vật trong thế giới để thấu tỏ về thế giới.
- Tất nhiên, mọi sự tri giác, tưởng tượng đều phải được lắng lọc qua thế giới chủ quan của nhà văn, và đều có thể giải thích được bằng cơ sở đời sống tinh thần của con người.

3. Nâng cao vấn đề
- Nhận định trên đây được đúc kết từ thực tiễn sáng tác của các nhà văn, và có cơ sở từ nguyên lí văn chương muôn thuở.
- Nhận định ấy cũng cho thấy khát vọng của các nhà văn chân chính. Khát vọng ấy thôi thúc các nhà văn luôn nỗ lực tìm tòi, khám phá, sáng tạo để vươn tới mục tiêu phản ánh đầy đủ, trọn vẹn và sâu sắc về thế giới.
- Nhận định ấy đồng thời cũng mở ra một hướng tiếp cận văn học cho người đọc – nắm bắt và lí giải cái nhìn, cách nhìn thế giới mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm, từ đó đánh giá về tầm cỡ tư tưởng và tài năng của các nhà văn./.
---------------
* Trở lên chỉ là một hướng giải quyết đề thi của cá nhân tôi, xin chia sẻ với quý thầy cô và các em học sinh. Kính mong nhận được sự trao đổi của quý thầy cô để chúng ta cùng nhau đi đến giải pháp tốt nhất, giúp các em học sinh có thêm kinh nghiệm cho những kỳ thi đỉnh cao sắp tới.
25/12/2025.
NTĐ.

14/12/2025

RÈN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU THƠ (CHƯƠNG TRÌNH MỚI)

1. Xác định phương thức biểu đạt:
+ Chính: một phương án (thường là biểu cảm)
+ Các: từ hai phương án (thường là biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự)
+ Đọc kĩ đoạn thơ, căn cứ nội dung đối chiếu với các phương thức biểu đạt để tìm câu trả lời.
2. Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ
- Xác định thể thơ:
+ Đếm số chữ trong từng dòng thơ
+ Kết luận:
▪ Các thể thơ hiện đại (5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, tự do);
▪ Các thể thơ truyền thống (ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, lục bát, song thất lục bát).
- Phong cách ngôn ngữ: nghệ thuật
3. Chỉ ra biện pháp tu từ? Nêu tác dụng? Các bước phân tích biện pháp tu từ:
B1: Gọi tên, chỉ ra biện pháp tu từ B2: Nêu tác dụng
- Nội dung:
+ Nhấn mạnh và làm nổi bật điều gì
+ Thể hiện thái độ, quan điểm, tình cảm gì của tác giả
- Nghệ thuật:
1. So sánh: Là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
→ Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc.
2. Nhân hóa: Là gọi tả con vật, cây cối, đồ vật … bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi với con người; biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.
→ Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn hơn.
3. Ẩn dụ: Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
→ Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc.
4. Hoán dụ: Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
→ Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc.
5. Điệp ngữ: Là lặp đi, lặp lại từ ngữ hoặc cả một câu để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh
→ Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cảm.
6. Liệt kê: Là sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay của tư tưởng, tình cảm.
→ Diễn tả cụ thể, toàn diện.
7. Chơi chữ: Là cách lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,… làm câu văn hấp dẫn và thú vị.
8. Câu hỏi tu từ: Là cách sử dụng câu hỏi nhưng không có câu trả lời nhằm biểu thị một ý nghĩa nào đó trong diễn đạt
→ Là cách sử dụng câu hỏi nhưng không có câu trả lời nhằm biểu thị một ý nghĩa nào đó trong diễn đạt
9. Nói quá: Là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.
→ Giúp hiện tượng, sự vật miêu tả được nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm
10. Nói giảm nói tránh: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.
→ Làm giảm nhẹ đi ý đau thương, mất mát nhằm thể hiện sự trân trọng.
4. Tìm hình ảnh, từ ngữ thể hiện một nội dung nào đó.
+ Đọc kĩ câu hỏi, gạch chân dưới từ ngữ quan trọng.
+ Đọc văn bản để tìm những từ ngữ, hình ảnh liên quan đến nội dung cần trả lời.
Ví dụ: Tìm những từ ngữ, hình ảnh thể hiện mục đích chiến đấu của nhân vật người cháu trong đoạn thơ sau:
Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
(Trích Tiếng gà trưa, Xuân Quỳnh thơ và đời, NXB Văn hóa, 1996, tr.10) Cách trả lời: Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện mục đích chiến đấu của nhân vật người cháu là: Lòng yêu Tổ quốc, xóm làng thân thuộc, bà, tiếng gà, ổ trứng hồng.
5. Xác định nội dung chính của văn bản:
- B1: Xác định đối tượng trữ tình (được miêu tả và phản ánh trong bài thơ) và nhân vật trữ tình (xưng em, anh, tôi, thường là sự hóa thân của tác giả).
=> Căn cứ vào nhan đề, từ ngữ, hình ảnh lặp đi lặp lại để rút ra nội dung chính.
- B2: Nội dung chính của một đoạn thơ/bài thơ bao giờ cũng có hai phần. Để tìm được nội dung chính, cần trả lời câu hỏi:
▪ CH(1) Đối tượng trữ tình được miêu tả trong bài thơ có đặc điểm như thế nào?
▪ CH(2) Thông qua việc miêu tả, phản ánh đối tượng trữ tình, tác giả đã bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình như thế nào?
- B3: Bài thơ đã miêu tả/phản ánh … Qua đó, tác giả đã thể hiện sự…
8. Trình bày cách hiểu về một câu thơ, đoạn thơ:
- Đọc kĩ câu hỏi, gạch chân dưới từ ngữ quan trọng.
- Giải thích những từ ngữ quan trọng.
- Đưa ra cách hiểu của bản thân theo nghĩa đen, nghĩa bóng ý nghĩa cả câu thơ/đoạn thơ.
- Rút ra bài học cho bản thân.
Ví dụ: Trình bày cách hiểu câu thơ “Ở hiền thì lại gặp hiền/Người ngay thì được phật tiên độ trì”
7. Bày tỏ quan điểm và lí giải tại sao?
- Học sinh đọc kĩ câu hỏi, gạch chân dưới từ ngữ quan trọng.
B1: Bày tỏ quan điểm (đồng ý/không đồng ý).
B2: Lí giải:
+ Giải thích từ ngữ quan trọng, ý nghĩa cả câu thơ/ đoạn thơ,
+ Nếu không có … thì sẽ … (hướng xấu)
+ Nếu có …thì sẽ …(kết quả tốt).
B3: kết hợp kiến thức XH để giải thích và đi đến kết luận.
Ví dụ: Anh/chị có đồng ý với quan điểm: “Ở hiền thì lại gặp hiền/Người ngay thì được phật tiên độ trì” hay không vì sao?
Cách trả lời: Em/tôi có đồng ý với quan điểm: “Ở hiền thì lại gặp hiền/Người ngay thì được phật tiên độ trì”
Bởi vì:
- Ở hiền là:
- Gặp hiền là:
- Người ngay là
- Phật tiên độ trì là
=> Hai câu thơ trên được hiểu như sau: …………………………………………………… Sở dĩ tôi đồng ý vì:
+ Nếu không ở hiền và sống ngay thẳng thì …
+ Nhưng khi ở hiền và sống ngay thẳng thì…
=> Chính vì thế, đây là một quan điểm đúng đắn cần thực hiện trong cuộc sống.
8. Thông điệp có ý nghĩa nhất? Tại sao?
B1: Đọc kĩ đoạn thơ/bài thơ, xác định nội dung chính của bài thơ đoạn thơ ra nháp.
B2: Xác định thông điệp (có ý nghĩa đối với mọi người) gắn liền với nội dung chính hoặc câu thơ có ý nghĩa làm nổi bật tư tưởng chủ đề của đoạn thơ/bài thơ.
B3: Lí giải tại sao đây là thông điệp ý nghĩa bằng cách kết hợp những hiểu biết xã hội.
▪ Nếu không thực hiện thông điệp thì ntn?
▪ Nếu thực hiện thông điệp thì ra sao?
=> Kết luận.
9. Bài học rút ra? Tại sao?
B1: Đọc kĩ đoạn thơ/bài thơ, xác định nội dung chính (ra nháp)
B2: Rút ra bài học (có ý nghĩa với bản thân) về nhận thức, hành động.
B3: Căn cứ vào tình hình thực tế bản thân, hiểu biết XH để lí giải.
10. Đoạn thơ đã bồi đắp những tình cảm gì?
- Căn cứ vào nội dung chính của bài thơ/đoạn thơ để trả lời.
- Ví dụ như: Đoạn thơ viết về quê hương thì trả lời đã bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước; khi viết về hình ảnh quân xâm lược bạo tàn thì trả lời đã bồi đắp lòng căm thù giặc và tình yêu nước...
- Nói tóm lại: chúng ta có thể nêu các cung bậc tình cảm: yêu thương, căm ghét, tự hào, cảm phục, quý trọng, căm thù, đồng cảm, xót thương...
11. Anh/chị nhận xét như thế nào về thái độ, tình cảm của tác giả:
- Căn cứ vào nội dung chính, có thể trả lời:
B1: Đoạn thơ đã thể hiện thái độ, tình cảm...
Đó là thái độ: tôn trọng, ngợi ca, lên án, phản đối, dứt khoát, rõ ràng
B2: Đó là thứ tình cảm rất nồng nàn, chân thành, tha thiết. Thứ tình cảm xuất phát từ một tái tim, một tấm lòng...
B3: Chính thái độ, tình cảm ấy khiến cho đoạn thơ hay hơn, xúc động, truyền cảm, chạm đến trái tim bạn đọc. Giúp cho tôi hiểu sâu sắc hơn về ... (Nội dung chính, tư tưởng chủ đề của đoạn thơ.
Lưu ý:
- Học sinh trả lời bằng câu (có chủ ngữ + vị ngữ, kết thúc bằng dấu chấm).
- Nhận diện đúng câu hỏi, huy động kĩ năng trả lời của từng loại câu hỏi.
- Đề bài hỏi gì thì trả lời đấy.
- Trả lời ngắn gọn, đầy đủ.
- Thời gian trả lời 25 phút

Nguồn: Sưu tầm

14/12/2025

CÁCH PHÂN TÍCH MỘT NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
(Trích khóa học Văn điểm 9+)

Phân tích một nhân vật trong truyện không chỉ là thao tác giải mã một hình tượng nghệ thuật; đó còn là cuộc đối thoại thầm lặng giữa người đọc và chính đời sống. Mỗi nhân vật, dù bé nhỏ đến đâu, đều là kết tinh của một cách nhìn, một cảm hứng và một triết lý mà nhà văn gửi gắm. Vì vậy, khi phân tích nhân vật, người đọc phải có được một cái nhìn toàn diện: nhìn bằng đôi mắt nghệ thuật, nhưng cảm bằng cả trái tim. Gs. Lê Trí Viễn từng nói: “Nhân vật văn học là linh hồn của tác phẩm” – nắm được nhân vật nghĩa là tìm ra nhịp đập của tác phẩm, mạch sống của tư tưởng.

1. Hiểu bối cảnh sáng tác – chiếc chìa khóa mở cửa nhân vật.

Không nhân vật nào sinh ra trong khoảng trống vô nghĩa. Họ bước ra từ yêu thương, day dứt, khắc khoải của người viết; từ những dòng chảy xã hội, những biến động của thời đại. Bởi thế, trước khi đi vào phân tích, cần đặt nhân vật trở lại trong môi trường mà họ thuộc về.
Khi phân tích một người lính ta sẽ không thể hiểu trọn nếu tách khỏi bối cảnh về nguồn gốc xuất thân; một người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu sẽ không thể giải mã nếu không thấy ánh sáng đổi mới trong tư duy nghệ thuật sau 1975.
Bối cảnh chính là không gian tâm lí, là nền để nhân vật hiện lên với đủ bóng tối và ánh sáng của họ.

2. Tìm hiểu ngoại hình, hành động, lời nói...

Nhà văn không bao giờ kể hết; họ chỉ chọn những mảnh ghép, những đường nét để người đọc tự soi vào. Ngoại hình, lời nói, hành động vì thế không phải chi tiết mô tả đơn thuần, mà là ẩn ngữ của tâm lí.
Một cái nhìn cúi xuống, một nụ cười gượng, một bước chân nặng nề… đều có thể mở ra cả một thế giới bên trong nhân vật.
Nghệ thuật truyện chính là thế: “hiện thực được cảm bằng tấm lòng” (M. Gorky).
Khi phân tích, hãy hỏi:
– Vì sao nhà văn chọn mô tả chi tiết này?
– Nó hé lộ điều gì về tâm trạng, hoàn cảnh, phẩm chất của nhân vật?
– Nó góp phần định hình xung đột hay chủ đề tác phẩm ra sao?

3. Phân tích diễn biến tâm lí – trung tâm của nghệ thuật xây dựng nhân vật.

Nếu ngoại hình và hành động là phần nổi, thì tâm lí chính là phần chìm. Phân tích tâm lí giúp người đọc chạm đến tầng sâu nhất của nhân vật: những đấu tranh, giằng xé, mơ ước, sợ hãi, những chuyển động rất khẽ nhưng quyết định số phận.
Nhà văn giỏi thường không “kể” tâm lí, họ để tâm lí tự lộ qua chi tiết, ngôn ngữ, dòng độc thoại. Khi phân tích, cần lần theo mạch biến đổi ấy: từ nguyên nhân - cao trào - kết cục.
Một nhân vật chỉ thật sự sống khi ta nhìn thấy họ thay đổi, dù là thay đổi trong tuyệt vọng, hay thay đổi để hướng về ánh sáng.

4. Khả năng biểu tượng – giá trị vượt khỏi câu chuyện.

Nhân vật không chỉ là chính họ; nhiều khi họ là biểu tượng, là ẩn dụ cho một lớp người, một số phận, một khát vọng. Người đàn bà hàng chài trong "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu không chỉ là một thân phận nhỏ bé, mà là minh chứng cho độ phức tạp của đời sống và cái nhìn nhân bản cần có.
Khi phân tích, cần nhận diện xem nhân vật đại diện cho điều gì, đóng góp thế nào vào tư tưởng tác phẩm, vào “thông điệp nhân sinh” mà nhà văn muốn gửi đến độc giả.

5. Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật – nơi bộc lộ phong cách nhà văn.

Mỗi tác giả có một cách “thổi hồn” riêng vào nhân vật.
– Có người dùng ngôn ngữ trần trụi, sắc lạnh (Nam Cao).
– Có người dùng bút pháp giàu chất thơ, nhẹ mà sâu (Nguyễn Thi).
– Có người dùng tình huống kịch tính để nhân vật tự bộc lộ chiều sâu (Nguyễn Minh Châu).
Khi phân tích nhân vật, không thể bỏ qua:
– Ngôi kể, điểm nhìn trần thuật
– Cách dùng chi tiết, biểu tượng
– Giọng điệu: thương xót, mỉa mai, chiêm nghiệm
Bởi nghệ thuật xây dựng nhân vật chính là dấu ấn đặc sắc nhất của phong cách nhà văn.
6. Đánh giá nhân vật, từ số phận đến thông điệp
Phân tích nhân vật không phải để ca ngợi hay kết tội họ, mà để hiểu họ trong sự vận động của đời sống và nghệ thuật.
Cuối cùng, người đọc cần đưa ra đánh giá:
– Nhân vật gợi cho ta suy nghĩ gì về con người?
– Họ gửi đến ta bài học nào về tình thương, bản lĩnh, lòng nhân đạo?
– Họ làm sâu sắc thêm tư tưởng và giá trị nhân văn của tác phẩm ra sao?

LỜI CUỐI
Phân tích một nhân vật trong truyện là hành trình chạm vào linh hồn của văn bản. Đó không phải thao tác cơ học mà là sự kết hợp giữa tư duy lý luận, cảm xúc thẩm mỹ và trực giác người đọc. Nhân vật cũng là hạt bùi vàng lấp lánh, mang trong mình hơi thở đời sống, nỗi đau người viết và khát vọng về cái đẹp. Khi ta hiểu họ, ta cũng đang hiểu hơn về chính mình.

(Nguồn: Thầy Phan Danh Hiếu)

Want your school to be the top-listed School/college in Thái Nguyên?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

Address


Thái Nguyên