Trường Tiểu học Liên Ngọc

Trường Tiểu học Liên Ngọc

Share

Trường Tiểu học Liên Ngọc
Địa chỉ: Ấp Hòa Thành - X.Định Quán - Đồng Nai
Email: [email protected]

17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






16/08/2026

Bảo hiểm Y tế bắt buộc đối với học sinh, sinh viên phải đóng năm học 2026-2027.

14/08/2026
09/08/2026

Chuyên gia Canada đánh giá cao bản lĩnh đối ngoại của Việt Nam

Việt Nam đã nâng cao đáng kể vị thế quốc tế nhờ duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng với các cường quốc, đồng thời kiên định với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.

Những thành tựu này đang tạo nền tảng thuận lợi để Việt Nam và Canada tăng cường hợp tác thực chất trong bối cảnh kinh tế và địa chính trị toàn cầu có nhiều biến động.

Trả lời phóng viên TTXVN tại Canada nhân Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, bà Vina Nadjibulla, nguyên Phó Chủ tịch phụ trách Nghiên cứu và Chiến lược Quỹ châu Á-Thái Bình Dương, cho biết vị thế quốc tế của Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Theo bà, khả năng duy trì quan hệ có tính xây dựng với tất cả các cường quốc lớn, trong khi vẫn kiên định đường lối đối ngoại độc lập và tự chủ là một thành tựu ngoại giao đáng chú ý của Việt Nam.

Chính sách “ngoại giao cây tre” đã giúp Việt Nam tăng cường quan hệ với nhiều đối tác mà không bị phụ thuộc quá mức vào bất kỳ đối tác nào. Cách tiếp cận này càng có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, kinh tế thế giới có xu hướng phân mảnh và sức ép buộc các quốc gia phải chọn bên ngày càng gia tăng.

Bà Nadjibulla, hiện là Đồng sáng lập và Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Quản trị chiến lược (CSS), nhận định biến động địa chính trị hiện nay đang khiến nhiều quốc gia chú trọng hơn đến những yếu tố tương đồng với cách tiếp cận của Việt Nam. Vì vậy, kinh nghiệm của Việt Nam có ý nghĩa không chỉ đối với Đông Nam Á mà còn có giá trị tham khảo rộng lớn hơn.

Việt Nam đã cho thấy một quốc gia có thể hợp tác thực dụng với các cường quốc đang cạnh tranh, đồng thời giữ vững những ưu tiên và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng lưu ý rằng việc duy trì thế cân bằng đó sẽ ngày càng khó khăn khi cạnh tranh địa chính trị tiếp tục gia tăng.

Đánh giá về vai trò của Việt Nam trong chính sách khu vực của Canada, bà Nadjibulla khẳng định Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng nhất của Canada tại Đông Nam Á và giữ vị trí trung tâm trong nỗ lực tăng cường hợp tác của Canada với ASEAN cũng như khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, năng lực sản xuất không ngừng mở rộng và mức độ hội nhập sâu vào các mạng lưới sản xuất khu vực cũng như toàn cầu đang biến Việt Nam trở thành một thị trường và đối tác chuỗi cung ứng ngày càng quan trọng đối với Canada. Tuy nhiên, sự mất cân bằng trong thương mại song phương hiện nay cho thấy Canada vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng xuất khẩu, đầu tư và hợp tác kinh doanh tại Việt Nam. Việc khắc phục tình trạng này có thể giúp quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển cân bằng và bền vững hơn.

Theo bà Nadjibulla, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là nền tảng quan trọng để hai nước làm sâu sắc hơn quan hệ kinh tế. Việc Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch CPTPP năm 2026 sẽ tạo cơ hội để hai nước phối hợp nâng cao hiệu quả thực thi hiệp định này. Bên cạnh đó, tiến trình đàm phán một hiệp định thương mại tự do giữa Canada và ASEAN có thể tạo thêm khuôn khổ cho hợp tác thương mại và thể chế sâu rộng hơn.

Việt Nam có ý nghĩa đối với Canada không chỉ nhờ tiềm năng kinh tế mà còn nhờ vị trí chiến lược, ảnh hưởng ngoại giao trong ASEAN và sự ủng hộ đối với một hệ thống thương mại quốc tế mở. Trong bối cảnh Canada tìm cách đa dạng hóa thị trường, giảm sự phụ thuộc kinh tế quá mức và xây dựng các chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu cao hơn, Việt Nam có thể vừa là đối tác quan trọng, vừa là điểm tựa cho sự hiện diện lâu dài của Canada tại Đông Nam Á.

Đề cập tới những giải pháp nhằm phát huy tiềm năng quan hệ song phương, bà Nadjibulla cho rằng ưu tiên trước hết là nâng cao nhận thức và sự hiểu biết lẫn nhau. Mặc dù thương mại hai chiều đã tăng trưởng tích cực, nhiều doanh nghiệp Canada vẫn chưa hiểu đầy đủ về thị trường, năng lực công nghiệp và cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể hưởng lợi từ việc tăng cường tiếp xúc với công nghệ, kinh nghiệm chuyên môn và các đối tác thương mại của Canada.

Hai nước cũng cần xây dựng một chương trình nghị sự kinh tế mang tính chiến lược hơn, tập trung vào khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng và bảo đảm an ninh kinh tế. Hợp tác có thể được mở rộng trong các lĩnh vực hai bên có thế mạnh bổ trợ như nông nghiệp và thực phẩm, năng lượng sạch, khoáng sản thiết yếu, sản xuất tiên tiến, công nghệ số và hạ tầng giao thông.

Việt Nam và Canada cần tận dụng tốt hơn những ưu đãi và cơ hội do CPTPP mang lại, cũng như phối hợp thúc đẩy tiến trình đàm phán thương mại tự do giữa Canada và ASEAN. Hai bên cũng nên triển khai các biện pháp thiết thực để giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận cơ hội từ các hiệp định thương mại, đồng thời vượt qua những rào cản về quy định, hậu cần và thông tin thị trường.

Bên cạnh hợp tác kinh tế, bà Nadjibulla cho rằng hai nước còn nhiều dư địa để tăng cường phối hợp ngoại giao. Việt Nam và Canada đều đang hoạt động trong một môi trường quốc tế ngày càng phức tạp và phân mảnh, đồng thời cùng tìm cách duy trì quan hệ xây dựng với nhiều đối tác khác nhau. Chính phủ của Thủ tướng Canada Mark Carney đã đặt việc đa dạng hóa thương mại, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trong nước và phát triển các quan hệ đối tác chiến lược mới vào vị trí trọng tâm trong hoạt động quốc tế. Đây là những định hướng tạo thêm điểm giao thoa với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ của Việt Nam.

Theo chuyên gia này, Việt Nam và Canada có thể hợp tác chặt chẽ hơn với tư cách là những quốc gia tầm trung có cách tiếp cận thực dụng, thông qua các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, hay CPTPP và những diễn đàn đa phương khác. Hai nước cùng có lợi ích trong việc duy trì ổn định khu vực, thúc đẩy kinh tế mở, tôn trọng luật pháp quốc tế và bảo vệ một hệ thống quốc tế trong đó các quốc gia vẫn có quyền chủ động lựa chọn chính sách, thay vì bị buộc phải liên kết hoàn toàn với một cường quốc.

Bà Nadjibulla khẳng định những nền tảng cần thiết cho một quan hệ đối tác sâu rộng hơn giữa Việt Nam và Canada đã hiện hữu. Bước tiếp theo là hai nước cần dành sự quan tâm chính trị cao hơn cho quan hệ song phương, củng cố các mối liên kết thể chế và xây dựng một chương trình nghị sự tập trung hơn vào những lĩnh vực hợp tác thiết thực, cùng có lợi.

Bài và ảnh: Hà Linh (PV TTXVN tại Ottawa

Bà Vina Nadjibullah trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Diễn dàn kinh doanh Việt Nam-Canada ở Toronto.


09/08/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand

Bộ Ngoại giao ra thông cáo sau:

Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 đến 14/8/2026.

Báo Nhân dân

Chiều 10/9/2025 tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Toàn quyền Australia Sam Mostyn đang có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 9-12/9/2025. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)


09/08/2026

Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Nhân chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia, phóng viên TTXVN tại Sydney đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và khu vực Đông Nam Á tại Đại học New South Wales, về ý nghĩa của chuyến thăm cũng như triển vọng quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam và Australia trong bối cảnh hai nước đang bước vào giai đoạn triển khai thực chất khuôn khổ hợp tác mới.

Theo Giáo sư Carl Thayer, chuyến thăm Australia lần này có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chuyến thăm diễn ra trong giai đoạn hai nước đang triển khai mạnh mẽ khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, đồng thời hiện thực hóa cam kết duy trì các cuộc gặp thường niên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Điều này thể hiện quyết tâm của Việt Nam và Australia trong việc duy trì động lực phát triển quan hệ ở cấp độ cao nhất.

Đánh giá về các nội dung hợp tác có thể đạt được trong chuyến thăm, Giáo sư Carl Thayer cho rằng thương mại và đầu tư sẽ tiếp tục là những ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là việc thúc đẩy mục tiêu tăng gấp đôi đầu tư song phương trong những năm tới. Bên cạnh đó, các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng, công nghệ xanh và các công nghệ mới nổi cũng sẽ trở thành những hướng hợp tác trọng tâm, trong đó Australia có nhiều thế mạnh có thể bổ trợ cho quá trình phát triển của Việt Nam.

Theo ông, nông nghiệp công nghệ cao cũng là lĩnh vực có nhiều triển vọng hợp tác lâu dài giữa hai nước. Mặc dù chuyến thăm có thể chưa tạo ra những thỏa thuận cụ thể trong lĩnh vực này, song đây sẽ là một trong những định hướng hợp tác quan trọng trong thời gian tới.

Ngoài ra, Giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực tiếp tục là trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương. Ông phân tích rằng hợp tác giáo dục giữa hai nước sẽ ngày càng tập trung vào đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế số. Australia cũng đặc biệt quan tâm đến việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học).

Theo đánh giá của Giáo sư Carl Thayer, khoảng 96% nội dung của Chương trình hành động hiện nay giữa hai nước đã được triển khai hoặc hoàn thành đúng tiến độ. Vì vậy, nhiều khả năng lãnh đạo hai nước sẽ nhất trí xây dựng một Chương trình hành động mới nhằm định hướng hợp tác trong giai đoạn tiếp theo.

Đề cập đến những cải cách thể chế và định hướng phát triển mới của Việt Nam sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Giáo sư Carl Thayer cho rằng Việt Nam đang tập trung vào bốn trọng tâm lớn gồm tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quy hoạch và điều phối phát triển; xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tăng cường năng lực dự báo, quản trị rủi ro và khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường quốc tế. Ông cho rằng những định hướng này phản ánh hình ảnh một Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là một quốc gia tầm trung có trách nhiệm, chủ động và hội nhập sâu rộng hơn vào các vấn đề khu vực cũng như quốc tế.

Giáo sư Carl Thayer nhận định việc Việt Nam không chỉ ban hành các chủ trương phát triển mà còn chú trọng khâu tổ chức thực hiện, tiếp thu các thông lệ tốt và tiêu chuẩn quốc tế sẽ giúp thu hẹp khoảng cách về năng lực quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như phương thức hoạch định chính sách giữa hai nước. Điều này sẽ tạo điều kiện để Australia hợp tác với Việt Nam hiệu quả hơn trong nhiều lĩnh vực: từ công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo đến phát triển nguồn nhân lực. Theo ông, Việt Nam và Australia đang đối mặt với nhiều thách thức tương đồng trong quá trình phát triển, do đó hợp tác giữa hai bên sẽ ngày càng mang tính bổ trợ. Những cải cách mà Việt Nam đang triển khai sẽ giúp hai nước có thêm nhiều sự đồng thuận trong các lĩnh vực hợp tác trọng điểm.

Đánh giá triển vọng dài hạn của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Australia, Giáo sư Carl Thayer phân tích hai nước có nhiều lợi ích chiến lược và quan điểm tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đề cao vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bảo đảm an ninh khu vực Mekong cũng như duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trên Biển Đông. Hai nước đều coi trọng hợp tác nhằm tăng cường an ninh hàng hải và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, xuyên quốc gia.

Về khả năng chống chịu của nền kinh tế, theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam và Australia đã có nền tảng hợp tác vững chắc thông qua các hiệp định thương mại tự do quan trọng như Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục bị gián đoạn, cả hai nước đều tiếp tục ủng hộ chủ nghĩa đa phương, hệ thống thương mại dựa trên luật lệ và vai trò của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), qua đó tạo nền tảng để phối hợp nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong dài hạn.

Đối với phát triển bền vững, ông cho rằng cả Việt Nam và Australia đều đã cam kết thực hiện mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 và đang triển khai nhiều chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Hai nước cũng cùng đối mặt với những bài toán về giảm phát thải, chuyển dịch năng lượng xanh, phát triển điện gió và năng lượng tái tạo.

Mặc dù Australia không phải là nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam, Giáo sư Carl Thayer nhận định hai bên vẫn còn nhiều dư địa hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực chuyên sâu như chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản trị rủi ro. Theo ông, biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu và nếu các cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này suy yếu, tất cả các quốc gia đều sẽ chịu tác động. Vì vậy, Việt Nam và Australia cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để duy trì các cam kết quốc tế.

Giáo sư Carl Thayer đánh giá cao cách tiếp cận của Việt Nam trong việc gắn triển khai chính sách với các mục tiêu, thời hạn và kết quả cụ thể. Theo ông, phương thức này tương đồng với văn hóa quản trị của Australia và sẽ tạo nền tảng để hai nước tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác trong giai đoạn tới.

Ông tin tưởng rằng, bất kể những thay đổi có thể diễn ra trong đời sống chính trị Australia sau các kỳ bầu cử, nền tảng của quan hệ Việt Nam – Australia vẫn sẽ tiếp tục được duy trì vững chắc. Hai nước sẽ tiếp tục đồng hành trong dài hạn nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định tại Đông Nam Á, đề cao vai trò trung tâm của ASEAN và bảo đảm mọi hoạt động trên Biển Đông được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Diệu Linh - Lê Đạt - Trung Trang (TTXVN)

Chú thích ảnh: Giáo sư Carl Thayer. Ảnh: Lê Đạt/PV TTXVN tại Australia







Want your school to be the top-listed School/college in Tỉnh Đồng Nai?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Website

Address


Trường Tiểu Học Liên Ngọc, ấp Hòa Thành, Xã Định Quán
Tỉnh Đồng Nai
814303