Tử Vi Tiên Long

Tử Vi Tiên Long

Share

Tư vấn: Tử Vi Mệnh Lý

Photos from Tử Vi Tiên Long's post 22/06/2019

Phú Tử Vi Của Cụ Lê Quý Đôn.

1) Mệnh Viên:

Một là bàn đến Mệnh Viên.

Cứ sao thủ mệnh đoán biên tính tình.

Tử Vi trong hậu dung hình.

Thiên Phủ tiết hạnh thông minh ôn hòa.

Hai sao đều gặp một nhà

Thiên tư ôn nhuận thiệt là tốt ghê.

Lòng thanh tịnh gặp thiên cơ.

Vũ Tinh nhập miếu, anh kỳ tài năng.

Thái Âm viên mãn ai bằng.

Thiên Đồng phì mãn, tình bằng ôn lương.

Phá Liêm to nhỏ khác thường.

Tình tình cương trực kết đường tà gian.

Thiên Lương từ hậu dung nhan.

Sát Hình miếu địa, khôn ngoan anh hùng.

Tham Lang tính bẩm thung dung.

Say miền gái đẹp, rượu nồng mùi ngon.

Thái Dương tính khí thực khôn.

Thanh kỳ bậc nhất, tư lương khác thường.

Kìa như Văn Khúc, Văn Xương.

Tư nhan khả ái, thông đường văn chương.

Cư môn tính khí bất thường.

Hể khi xử sự, tìm đường đảo điên.

Thiên Tướng, lòng thẳng mặt hiền.

Thiên tư mỹ lệ : Khoa Quyền hẳn hoi.

Thanh bần ấy thật Việt Khôi.

Lại gia Thai Phụ là nòi khoan dung.

Phụ Bật tuấn tú vốn dòng.

Đáng tài hơn chúng, tốt dùng chẳng không.

Phụ Bật đơn thủ mệnh cung

Đoán rằng số ấy ly tông cửa nhà

Phượng Long đều hợp mệnh ta.

Làm người cốt cách, ôn hòa tốt thay.

Tuế Riêu họa xướng ư nhời.

Nhận Hư, lòng gió là người sai ngoa.

Mây mưa ấy thật Đào Hoa.

Lòng kia đố kệch, Kình Đà xấu trông.

Trán đen, tính nóng, Kiếp không.

Hỏa Linh mặt mũi hình dung bí sầu.

Tuế Phá lạc hãm một âu.

Tiếng tăm như sấm ra màu vẻ vang.

Kìa như nói chẳng hé răng.

Thiên Hình đốn thủ chốn đằng mệnh cung.

Lộc, Mã khéo kiêm nàn nồng.

Phúc, Tấu bá đạo, mong trông một lòng.

Hoa Cái má phấn lưng ong.

Hỷ Thần dài giọng, tam hung, tràng đầu.

Triệt, Không, tính những chẳng âu.

Hung trung vô định ra màu gian nan.

Tuế, Tham trong dạ đa đoan.

Ky, Riêu tửu sắc, một đàn ngao du.

Hổ, Tang chẳng việc mà lo.

Quan Phù, Điếu Khách hay phô rộng nhời.

Lưỡng Hao nhỏ nhặt hình người.

Phi Liêm tóc tốt, có tươi má đào.

Qúy, Ân Phong độ trượng phu

Chẳng hay quân tử hình thù cũng xinh.

Tướng quân chỉ thích dụng binh.

Bệnh Phù đối tật trong mình chẳng không.

Cô, Quả thiết Kỵ riêng lòng.

Tràng Sinh, Đế Vượng vốn dòng Thiên Lương.

Đào hoa, Mộc Dục diễm trang.

Lâm Quan tinh khí dịu dàng, tinh anh.

Mộ thì chẳng được thông minh.

Thai hay mê hoặc lại hay tha tùng.

Triệt mà gặp được kim cung.

Tinh thần thanh sảng, thung dung đế thần.

Tuyệt phùng hỏa địa một khi.

Hiên ngang chí khí, gặp thì thung dung.

Kìa Suy, Bệnh, Tử ba dòng.

Gặp vào nước ấy, ai dung ai màng ?

Hóa Lộc tính khí dịu dàng.

Bác Sĩ tính nết tìm đường tư hoa.

Thiên Đức, Nguyệt Đức khoan hòa.

Lộc Tồn đôn hậu, thiệt là qui mô.

Phá Quân tâm tính hồ đồ.

Kiếp Sát xử sự ba đào mênh mông.

Xem phần nhân tính đã xong.

Lại tinh cho thấu các cung Ngũ Hành.

Tường chân tính, nhận chân hình.

Chẳng non chấp nhất, lực mình mà suy.

Ví như thuốc Thổ Tử Vi.

Tinh trì mà gặp hỏa thì lại nhanh.

Thiên Phủ vốn tính hóa lành.

Song gặp Không, Kiếp thời rằng khắc thân.

2) Phụ Mẫu Cung:

Số hai phụ mẫu kế tường

Âm, Dương, ngộ hãm là đường khắc xung.

Hãm Dương, Khắc Phụ đã xong.

Hãm Âm khắc mẫu vào vòng chẳng sai.

Hổ, Tang, Thái Tuế cùng bày.

Lưu Dương lại gặp đoán rày khắc cha.

Gặp sao Hóa Kỵ khiếm hòa.

Thiên Hình, Tuần, Triệt mẹ cha mất rồi.

Cáo, Phong có chức, có ngôi.

Khúc, Xương, Thái Tuế thì người cũng sang.

Khôi, Khoa phát đạt khoa trường.

Khôi, Quyền, chính trướng đường đường tốt thong.

Thanh bần ấy phải Hóa, Không.

Nhược bằng Lộc Mã phú ông ai tày.

3) Phúc Đức Cung:

Số ba phúc đức kế tiền.

Lộc, Quyền đóng đó trong miền bản cung.

Ở đời vinh hiển đã xong.

Kiếp, Không ở đấy bần cùng khốn thay.

Nay đây mai đó càng hay.

Lại xem cung ấy sống rày được bao ?

Đồng, Lương, Tử Phủ bốn sao

Trên tuần bát cửu thọ nào ai hơn.

Âm, Dương, Xương, Khúc, Lộc Tồn.

Với sao Thiên Tướng, Cự Môn tinh trần.

Thọ thì thong thả, hãm thì tân hoan.

Liêm Cự ta lại phải bàn.

Ngoại tuần lục thập mới hoàn Diêm La.

Việt, Khôi, Tả Hữu, Quyền, Khoa.

Lộc, Tham, Đế Vựợng thật là tràng sinh.

Đà La, Dương Nhận, Hỏa Linh.

Vào thì ba bốn rành rành chẳng sai.

Kiếp, Không , Hỷ, Khốc cùng bày.

Thiên Hình, Hóa Kỵ mới loài bạch tang.

Nhị Phù tổn thọ một phương.

Thật là lạc mộ, nên đường chẳng sai.

Sát, Liêm, Tử Sát cùng bày.

Đoán Lâm bần yểu xưa nay rõ ràng.

Cao thanh, Thọ, Quý , Ân Quang.

Những là sao ấy thọ tràng kỳ di.

Lại lấy thân Mệnh mà suy.

Nam tinh chính chiếu thọ kỳ vô cương.

Đã xem hướng thọ đoán tường.

Lại xem phúc đức đoán phương âm thầm.

Tràng sinh chính phát thập phần.

Gặp sao Quan Phúc quý thần chầu trong.

Phúc, Liêm, Nội ngoại thung dung.

Khoa, Quyền, Xương, Khúc vốn dòng văn gia.

Vũ, Tham mà gặp Hóa Khoa.

Ấy là đất phát để đa anh hùng.

Cự Môn, Lộc, lộc tương phùng.

Đoán rằng phú quý gia phong đời đời.

Nay là đoán trước mấy lời.

Được đất nấm nghiệm chẳng sai đâu là.

Lại xem hướng mạch kể ra.

Trước lấy khởi tố ấy là Tràng Sinh.

Thanh Long lấy làm long hành.

Đến đâu nhập thủ xem hình chiếu lâm,

Phải lấy chi tợ (địa chi) phân kim,

Xem cho chuẩn đích đoán tìm mới ngoan.

Trước so Dương Nhận, Hồng Loan.

Nga mi tác án yên bàn chẳng sai.

Thanh(Long) Hồng (Loan) là thủy nhập hoài.

Lại như Vũ Khúc, Triệt Không.

Lấy làm hành lộ, khuỳnh khuỳnh trước sau.

Kìa Long với Hổ lại chầu.

Xem bên tả, Hữu mới hầu luận xong.

Bên tả có sao Thanh Long.

Lấy làm Long Thủy Chầu vòng tả biên.

Bên hữu Bạch Hổ đã yêu.

Lấy làm Hổ Thủy chầu bên hữu này.

Lại xem tinh tú yên bày.

Thái Dương, Vũ Tướng cùng rày Phá Quân.

Khoa Quyền, Khôi, Việt tinh trần.

Lấy làm dương mộ mười phân chẳng sai.

Còn như đoán mả đàn bà.

Xem sao miếu vượng gần xa, đoán đời.

Tử, Phủ, Tổ mộ chẳng sai.

Lạc phận thì đóan xa đời mà thôi.

Vũ năm, Đồng Tử, Chẳng sai chút nào.

Liêm Trinh bảy tám đời cao.

Thái Dương là bố lẻ nào chẳng tin.

Cha còn thì đoán ông Liền.

Ấy là Dương Mộ đoán miền Dương tinh.

Thiên Phủ viên tố đã đành.

Tham sáu, Cự bảy, Lương rành tám thôi.

Phá Quân, Thất Sát xa, đời.

Thái Âm là mẹ gần nơi đó mà.

Nếu con thì kể đàn bà.

Ấy là âm mộ thuộc Tòa âm cung.

Thiên Đức, Nguyệt Đức tương phùng.

Mộ phần thiên táng ất cùng chẳng sai.

Suy xem tinh tính hẳn hòi.

Ấy là chứng nghiệm mà soi cho tường.

Đà La ngộ Dưỡng chẳng thường.

Đoán rằng đạo táng gần phương mã này.

Lại tùy chính diệu suy bày.

Lại nhân Không, Kiếp đoán rày lạc phân.

Hoa Cái, Phượng Các tân phần.

Tấu Thư, Xương, Khúc là thần đồng ra.

Hoặc Khôi, Việt gia Hóa Khoa.

Đại Khoa sự nghiệp vinh hoa vô cùng.

Lộc Tồn, Hóa Lộc tương phùng.

Ấy là phú quý vốn dòng chẳng không.

Tử Vi nhập miếu vượng cung.

Phát nên có kẻ chầu trong vương kỳ.

Lương, Tham thọ khảo Kỳ di,.

Lại xem đất phát cung phi hễ nào.

Bởi chưng Hoa Cái, Hồng Đào.

Gặp sao Tử, Nhật gái chầu quân vương.

Đế vượng đóng chính cung tường.

Ắt là trong họ Vương đường nhân đinh.

Tuế, Phù tụng sự tương tranh.

Lộc tồn cô quả, độc đinh thường thường.

Tang Môn, Quả Tú bất thường.

Ắt là trong họ gái thường quả phu.

Phục Binh ngộ Tử phải lo.

Có người bị trận, chết co ngoài đường.

Lại gia Thai, Tọa ấy trường sinh ta.

Hỷ Thần, Thiên Hỷ hoặc gia.

Ấy là đắc địa chẳng hòa được đâu.

Lại bàn hình thể mỗi màu (ngũ hành các sao)

Tổ sơn là Tử, Phủ chầu kể ra.

Mộc Tinh là Thiên Cơ gia.

Kim Tinh Vũ Khúc, Mộc là Tham Lang.

Văn Khúc là Thủy đạo đừờng.

Liêm Trinh là Hỏa, Thiên Lương Thổ này.

Âm long, Âm hướng sao này Thái Âm.

Thất Sát cùng Hỏa Tinh Lâm.

Phá Quân là Thủy, Cự tầm thổ tinh.

Thiên Đồng , Thiên Tướng đất binh.

Sao dưỡng là núi, sao linh bút bày.

Mộc, Trì là giếng gần đây.

Thiên Quan, Thiên Phúc gần ngay Phật, Thần, Kiếp, Không lo táng dương phần.

Kỵ, Riêu là Thủy, Sát nhan hoàng tuyền.

Thanh Long có suối lưu triền.

Bạch Hổ đã trắng ở bên mộ đường.

Khoa, Quyền là bảng văn chương.

Lộc; Kỵ, Việt : kiếm rõ ràng đóng đây.

Ấy là phần mộ đoán bày.

Cốt xemPhúc đức mới hay mọi đường.

4) Điền Trạch Cung :

Bốn là bàn đến cung điền.

Phủ, Vi đóng đấy, Tài Điền vượng thay.

Vũ, Cơ tài sản cũng hay.

Song hiềm hoán dịch ngày này nhiều phen.

Âm. Dương miếu ấy đa điền.

Nhược bằng ngộ hãm vào miền bằng chân.

Thiên Đồng hậu dị, tiên nan.

Tham Lang tổ nghiệp tan tành.

Sinh ra đời chắc sau rành được yên.

Sát tinh bỗng chốc mà lên.

Nhược phùng hãm địa, bình yên thường thường.

Phá Quân của khéo dở dang.

Nhựợc bằng ngộ hãm là tường khó khăn.

Tướng, Lương, Tả, Hữu Khoa Văn.

Việt, Khôi, Quyền, Lộc, Mã gần Trường Sinh.

Điền Viên đều vượng tậu tành.

Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Đà, Kình lục tinh.

Nhị Hao, Kiếp Sát, Phục Binh.

Không Vong, Tang, Tú, Phù Tinh vô điền.

5) Quan Lộc Cung:

Năm là Quan Lộc đoán ngay.

Thái Dương, Xương, Khúc ở đây cung này.

Đền rồng chầu chực đêm ngày.

Đoán rằng số ấy tốt thay lạ thường.

Việt, Khôi, Tả, Hữu, Cơ, Lương.

Khoa, Quyền, Tử,Phủ hợp cùng Trường Sinh.

Tướng, Đồng, Lộc, Mã , Vũ tinh.

Đều là cát tú được minh.

Âm, Dương, Quyền, Lộc được rành.

Như bằng hãm địa ắt thành lại hao.

Liêm Trinh vũ chức, Quyền cao.

Như bằng ngộ hãm, khỏi nào hình danh.

Tham Lang mà gặp Hỏa, Linh.

Miếu thì phú quý hãm bình mà thôi.

Sát, Cự Tí Ngọ, ở ngôi.

Vượng thì vũ chức, hãm thời hình thương.

Phá Quân lao khổ trăm đường.

Nhược ngôi tị, Ngọ tài thường vượng thay.

Tham, Lang, Xương, Khúc ngày rày.

Ngọ cung Tỵ, Hợi quan này làm ru.

Liêm, Tham, Đà, Nhận phải lo.

Phải mang dan díu, quanh co bận mình.

Phù, Tang, Không, Kiếp, Hỏa, Linh.

Khốc, Hư, Đà, Nhận, Kiếp, Kình Nhị Hoa.

Phục Binh, Phá Tú xum vào.

Đoán rằng quyền lộc làm sao cũng hèn.

6) Nô Bộc Cung:

Sáu là Nô Bộc đoán tường.

Tử, Phủ, Tả,Hữu, Âm, Dương, Lương Đồng.

Việt, Khôi, Tam, Hỏa, tương phùng

Cáo, Quan, Cơ Mã lại cùng Tướng tinh.

Quý, Quang, Xương, Khúc cùng lành.

Vũ tinh mà đóng rành rành bản cung.

No thì nó ở hầu ông.

Đói thì nó bước chẳng mong nói gì.

Liêm Trinh kìa nó càng ghê.

Làm ân nên oán bậc chì mỉa mai.

Tham Lang vì nó hao tài.

Cự Môn báo oán những lời thị phi.

Sát thì sinh sự thị phi.

Phá Quân hàn khổ như thì cận quanh.

Còn như Không, Kiếp, Phục Binh.

Dương, Linh, Đà Hoa, Kỵ Hình, Khốc Hư.

Nhị Hao, Quan Phủ, Quan Phù.

Những phường trộm cắp phải lo tốn tài.

7) Thiên di cung:

Bảy là bàn đến Thiên Di

Lộc Tồn, Hóa Lộc tốt thì hòa hai.

Vũ Lượng, Cự Phú chẳng sai.

Khúc, Xương, Tử, Phủ, Việt, Khôi, Khoa, Quyền.

Âm Dương, Tả, Hữu rất hiền.

Cùng là Đồng, Tướng gần miền qúy nhân.

Thiên Cơ lẩn thẩn khốn thân.

Nhược bằng ngộ cát, mười phần tốt thay.

Liêm Trinh nội trợ, ngoại hay.

Đi thì cũng lợi, mới tày Tham Lang.

Lại thêm dâm dục hoang tàn.

Vũ Tinh xuất ngoại thường thường đựơc yêu.

Cự Môn khẩu triệt đảo điên.

Nhi Phù, Phá Tú cũng miền thiên di.

Đoán rằng lộ thương, mai thi.

Phá Quân, Thất Sát ắt thì chẳng yên.

Tham Lang, Hóa Kỵ hợp miền.

Quán rằng lộ tử, chẳng tuyền được đâu.

Cự môn, linh, Hỏa Xung nhau.

Tử ư đạo lộ ra màu xo ro.

Liêm Phùng Quan Phủ, Quan Phù.

Ấy là tử nghiệp chẳng hòa được đâu.

Kìa như đạo lộ phải âu.

Bởi Liêm sát phá vào hầu thiên di.

Tu Sát đóng chính cung tường.

Ách nguy thêm lại hại đường tổ tông.

Vũ, Liêm chẳng khá đồng cung.

Luận rằng số ấy bần cùng ai qua.

Hỏa,Linh, Không, Kiếp Dương, Đà

Tham, Hình, Hóa Kỵ cùng là Khốc Hư.

Phá Quân phường ấy phải lo.

Thiên di cung ấy đoán cho kỹ càng.

8) Tật Ach Cung:

Tám là Tật Ách chẳng âu.

Âm Dương phản bối làm màu bất tinh.

Mệnh cung lại có không tinh.

Nhan manh mục tật, rành rành phải mang.

Phá, Liêm, Hình, Kỵ, đà, Lương.

Đã đau bên mắt, lại càng bệnh điên.

Khúc, Xương, Tả, Hữu vào miền.

Việt, Khôi, Tử, Phủ, Khoa, Quyền, Đồng Lương.

Lộc Tồn, Hóa Lộc một phương.

Ốm thì lại gặp thuốc thang, sợ gì.

Thiên cơ phải chứng thấp tê.

Nhược bằng gia Sát mạt thì vết ngang.

Phong đàm bệnh ấy liền liền.

Bởi sao Cơ,Vũ đóng miền Ách Phương.

Nhược bằng gia sát trỉ sang.

Thái Âm đau bụng, Thái Dương buốt đầu.

Gia Đà, Kỵ, Sát cũng rầu.

Đoán rằng mục tật, ấy hầu phải đau.

Phá Quân khí huyết bất điều.

Đồng, Lương Hàn, nhiệt là điều phải lo.

Tướng Tinh đau ở bì phụ.

Cự, Liêm, Nhật, Nguyệt, Hình thù cơ nghinh.

Đà La, Dương nhận ít yên.

Đau chân, nhức mắt chẳng hiền được đâu.

Dương, Đà, Phá, Ky mắt đau.

Bởi đường sao ấy gặp hầu Tham Lang.

Sát Tinh thấp khí yếu đau.

Tử Sát có bệnh bởi hầu Sát gia.

Tham Lang tật ách xông pha.

Lưng, Chân có bệnh, chẳng hòa được chăng.

Cự Môn mặt vết rõ ràng.

Chứ chi đối tật xấu chẳng hổ ai.

Kỵ, Hình đau mắt chẳng sai.

Dương, Đà, Linh ,Hỏa, cùng ngồi một phương.

Mặt kia có vết rõ ràng.

Lại thêm bệnh trĩ thường thường phải e.

9)Tài Bạch Cung:

Thứ chín kể đến cung tài.

Để mà thí nghiệm mấy lời kể ra.

Vũ, Lộc, Thiên Mã cùng gia.

Tử, Phủ, mà gặp phương xa nhiều tiền.

Tử Vi, Phu, Bậc rất hiền.

Lâm quan tài bạch ngoài miền lợi danh.

Thái Âm mà với Vũ tinh.

Luận bàn cũng phải rành rành chẳng sai.

Âm Dương, Tả, Hữu giáp lai.

Có sao Đế Vượng cùng ngồi chính trung.

Luận làm địch quốc phú phong.

Thiên Đồng, Cơ,Vũ, tay không làm giàu.

Âm Dương tài vượng chẳng âu.

Nhược bằng hãm địa, có hầu lại không.

Sát tinh đóng Tí, Ngọ cung.

Họa tai hoạnh phát đùng đùng chứa chan.

Chủ cung phút hợp phút tan.

Lộc Tồn, Hóa Lộc giàu tràn vẻ vang.

Phá Quân tài tán chẳng thường.

Việt Khôi, Tả, Hữu, Khúc, Xương, Khoa Quyền.

Với sao Hóa Lộc ở miền.

Ấy là phát phúc, tài, điền vượng theo.

Liêm Trinh trước giở sau hay.

Lộc Tồn, Vũ Khúc đóng rày Tài cung.

Ấy là Đại phát Phú Ông.

Kiếp, Không ở đấy bần cùng chẳng sai.

Dương Đà Linh, Hỏa tán tài.

Hỏa, Hình, Hư, Khốc là loài như nhau.

10) Tử Tức cung.

Thứ mười Tử Tức kể bày.

Trước sinh nam tử, nhiều bày nam tinh.

Bắc tinh ấy gái trước sinh.

Nhật sinh kỵ nguyệt chiếm rành bản cung.

Dạ sinh kỵ Nhật chiếm chung.

Âm Dương lâm tí là vòng Khắc Xung.

Vắng sao chính diệu Tử Cung.

Phải tìm đối chiếu luận cùng mới xong.

Phủ vi, Đế Vượng, Thiên Đồng.

Khúc, Xương, TảHữu luận cùng năm tên.

Nhược bằng gia Sát cũng hèn

Tràng Sinh, Nhật Nguyệt, Lâm Quan một đoàn.

Tướng Lương, Quan Đới rõ ràng.

Ấy là cung được ba hàng thành thân.

Khoa, Quyền, Hóa Lộc tinh trần.

Việt, Khôi, Thiên Mã mười phần quy nhân.

Cự, Cơ , Liêm, Tử Phá Quân.

Bệnh, Thai, Mộc, Dưỡng, ấy phần có hai.

Suy thì có một mà thôi.

Dương, Linh, Đà, Hỏa cùng loài như sau.

Kiếp,Không, Gặp lại phải rầu.

Cũng như thất sát càng sầu cô đơn.

Ky Hình, Tử mộ một đoàn.

Và sao hư, Khốc phải phòng khắc xung.

Lộc tồn có một chẳng không.

Hoặc là lại gặp qua phòng con nuôi.

11) THÊ THIẾP CUNG

Mười một bàn đến Thê cung.

Nhân thê trí phú bởi phùng Thái Dương.

Âm phùng Hao tứ một phương.

Thành hôn chẳng lọ phải đường cưới xin.

Nhật, Đồng nhiều vợ mà hiền.

Kìa như Lộc Mã tại điền vượng thay.

Nguyệt phùng Xương, Khúc ngày rày.

Cung trăng bẻ quế xem tày lên tiên.

Tử Phù hòa hợp bách niên.

Đồng Cơ, trai gái kết nguyền cũng xinh.

Trai tơ gái trẻ đã rành.

Âm, Dương miếu địa sớm thành nhân duyên.

Nhược bằng hãm địa sau nên.

Vũ Tinh gia Sát mắc bên khiếm hòa.

Tướng, Lương sớm nổi thành gia.

Sát gia sắc đẹp lấy nhà trưởng nhân.

Khúc, Xương, Tả, Hữu, tinh trần.

Thông minh giai lão trăm phần tốt thay.

Lộc Tồn muộn vợ nhưng hay.

Tham lang sớm lấy người rày khắc xung.

Tham mà gia sát tối hung.

Phá Quân sớm khắc, ít lòng chính chuyên.

Liêm Trinh phải khắc ba tên.

Cự Môn, Thất Sát luận bàn cũng in .

Sát Tinh Xung Khắc đã quen.

Người ấy dâm dục về miền trăng hoa.

Khôi, Việt, Hóa Lộc, Quyền, Khoa

Quý nhân sánh mấy duyên ta tốt lành.

Linh tinh, Kỵ , Hỏa, Đà, Kình.

Khốc, Hư, Không, Kiếp đã rành khắc xung.

Nhựơc bằng cát tú Tương Phùng.

Cùng là giúp được vào vòng Thiền Ninh.

Tam phương mà gặp Sát, Hình

Ly hương kết phối rành rành chẳng sai.

12) Huynh Đệ Cung :

Mười hai Huynh Đệ bàn liền.

Triệt, Không cũng thấy trong miền bản cung.

Bắt đầu thì đoán khắc xung.

Hoặc gia địa kiếp Thiên Không chẳng nhiều.

Tướng Quân , Lộc, Mã cũng nhiều.

Anh em giàu có phú nhiêu được dùng.

Tướng Quân, Lộc, Lộc tương phùng.

Anh em có kẻ ở trong cửa quyền.

Tràng Sinh Đế Vượng lâm liền.

Anh em có kẻ tất nhiên an bài.

Đôi bên Nhật,Nguyệt giáp Thai.

Sinh đôi một đốt chẳng sai tí nào.

Vương Thai, Tuyết, Tướng thấu vào.

Anh em ắt có dị bào chẳng không.

Đào Hoa, Riêu, Hỷ trong cung.

Phá Quân tính xử đối xung ở ngoài.

Có chị em gái theo trai

Say mê đến nỗi hoang thai hổ mình.

Trong thì tướng, Phá, Phục Binh.

Ngoài thì Hoa cái cung tinh Đào, Hồng.

Anh em có kẻ dâm thông hẳn là.

Gặp sao Hóa Kỵ khiếm hòa.

Thiên Hình thường có trong nhà dành nhau.

Lộc, Mã buôn bán làm giàu.

Nhược bằng Cự, Tướng ra màu thổ công.

Tử Vi, Tả, Hữu, tương phùng.

Có chị em gái lộn chồng đi ra.

Thiên Khôi ba kẻ anh ta.

Thiên Việt ba kẻ em ta bày doan.

Xương, Khúc, Thái Tuế đều yên.

Có người xã trưởng khôn ngoan ai cùng.

Tuyệt, Không, Không Kiếp chính cung.

Hoặc gia cát hội lai phùng Dương tinh.

Luận làm nghĩa dưỡng anh em.

Hoặc thêm Đà, Nhận, Hỏa , Linh đoán cùng.

PHỤ ĐOÁN.

Luận Nữ Mệnh

Lại xem trong số đàn bà.

Cần là Tử Tức cùng là Phu Quân.

Gái hiền có phúc có phần

Nữ nhân phú quý tấm thân nhờ chồng.

Mệnh mà phú quý vô dung

Điền, Tài lại cốt hai cung vẹn tuyền.

Phu Quân Thìn, Tuất cung nhàn.

Mệnh, Thân Dậu, Tuất muôn vàn kể chi.

Chép Nhật, ham chẳng không.

Tử cung Nhật hãm chẳng không.

Mệnh cung Hóa Kỵ ngại ngùng mây xâm.

Hồng Loan, Tử, Vượng đồng lân.

Phu Quân cung ấy, Mừng thầm vương thay.

Xem trong Tử tức cung này.

Nhị Minh (Nhật, Nguỵêt) Thiên Hỷ …..???hay rành

Phượng Long, đẹp đẽ, hiền lành.

Khốc, Hư táo tợn bụng rành hiếu trung.

Hỷ, Riêu đêm ngủ mơ màng.

Tính hay dối trá, Kiếp, Không đóng đồn

Thai, Hoa , Ngộ Kiếp hiếm con.

Thai Phùng Nhật, Nguyệt lâm bồn song sinh.

Mã phùng Đào tú linh dinh.

Dương Phùng Thái Tuế e mình khẩu sai.

Ach cung e ngộ, Dưỡng, Thai.

Mệnh hiềm Nhật, Nguyệt, gập hai Dương, Đà.

Tấu Thủ, Hoa Cái lượt là.

Phượng Long,lấy được chồng là Quý Nhân.

Tướng Loan cung ngự phi tần.

Mộc, Cái thủ mệnh nhiều phần dâm phi.

Phu Quân có Tham Lang vì.

Chính tinh làm cờ, bàng thì làm hai.

Mệnh cung Xương, Khúc chiếu hai.

Dấu nhân duyên sớm những người dâm phong.

Lộc, Mã, Ích Tử vượng chồng.

Vì dòng Tử phủ ngự cung ra vào.

Thái âm hãm tử chẳng sao.

Thái Dương mà hãm lẽ nào có con.

Liêm Trinh gặp Tham gian ngoan,

Thiên Đồng ngộ nguyệt đồng đàn chắc thay.

Hóa Lộc tài bạch buôn may.

Thiên Riêu, Xương, Khúc ca ngày vuốt ve.

Trưởng huynh, huynh đệ, Tử Vi

Thiên Phủ tài bạch vậy thì phong danh.

Hao tài bởi có Thiên Hình.

Không Vong ngộ Mã quyết tình ly hương.

Phá Phùng Triệt Lộ chết đường.

Văn tinh sinh trể, văn chương dịu dàng.

Cát tinh hỏa chiếu rõ ràng.

Sinh con tai tướng vẻ vang anh hùng.

Nguyệt phùng phá, kỵ phúc cung.

Nữ nhân cả họ dân phong đó mà

Thiên Lương người béo đẫy đà.

Thiên Đồng dư dật rồi mà hiển vinh.

Hình, Hỏa mộc áp lôi kinh.

Phá Quân, Thái Tuế tụng đình giáp toa.

Loạn luân tương ngô, xiêu nhà kéo đi.

Sát, Phá, nghèo khổ có gì.

Tang Môn ngộ Hỏa có kỳ trung lai.

Phòng khi sông nước có kỳ chẳng yên.

Đào hoa ngộ Kiếp đắm thuyền.

Kình Dương, Linh, Hỏa cuồng điên hẳn là.

Cơ, Đồng, Phá, Triệt cùng gia

Có người phá cốt, chiết nha rành rành.

Ngọ an Mệnh, Tử Tướng tinh.

Đã hay chồng quý lại sanh con hiền.

Liêm Trinh thanh bạch giữ gìn.

Mệnh bên : Tỵ, Hợi, giao chiều Lương, Âm.

Thiên Cơ phá đảng, chẳng nhầm.

Góa chồng Vũ Khúc, chính dâm Kỵ mà.

Kiếp, Không, Tử Sát cùng gia.

Có Tham, Liêm, Sát chiếu ba phương vào.

Nhược bằng chiếu ở Phụ hao.

Ấy là tai họa, lao đao cả đời.

ĐOÁN VẬN NIÊN SINH, TỬ

Lại xem sinh, tử đoán niên.

Vận niên Thái Tuế, lưu niên cung nào.

Sát, Dương, Thương Phục, Không, Hao.

Hỏa Linh, Kỵ, Kiếp chiếu vào hạn trung.

Ghê thay Đại, Tiểu (hạn) trùng trùng.

Đế Tinh thụ hãm Không Vong đó mà.

Ấy là vận hạn khó qua.

Lại Tham, Sát, Phá, Trúc La thoát nào.

Đế, Tướng , tam hợp chiếu vào.

Họa may không chết, bởi sao cát phù.

Báo cho biết trước mà lo ….

PHỤ ĐOÁN TỔNG QUÁT

Mệnh, Thân và hạn tốt đều.

Càng gia càng được mỹ miều vinh xương.

Mệnh Thần và Hạn tương đương.

Xét ra xấu cả là phường hàn vi.

Giáp, Quý giáp Lộc rất kỳ.

Khoa, Quyền lưỡng giáp thật thì số hay.

Giáp Nhật, Giáp Nguyệt họa may.

Giáp ương, Giáp khúc số này rất sang.

Giáp Không, Giáp Kiếp lang thang.

Dương Đà, Lưỡng Giáp, nhỡ nhàng ăn xin.

Liêm Trinh sa sút rất hèn.

Vì chưng Tỵ, Hợi đóng miền Mệnh, Thân.

Thái Âm chiếu đến dạ phân.

Nhất sinh khoái lạc mười phần không sai.

Tiền bần, hậu phú mấy người.

Mệnh, Thân cung ấy giáp bày Vũ, Tham.

Hậu bần : Giáp Kiếp đã cam.

Lộc, Quyền (cư) Tài Phúc : xuất phàm vinh hoa, Cả đời bần tiện đó mà.

Kiếp, Không, Tài Phúc thật là không thay.

Khúc, Xương, nhiều học mà hay.

Tả Phụ, Hữu Bật khoan thai dễ dàng.

Phủ Tướng Y lộc khác thường.

Làm quan chắc hẳn nhiều đường hạnh thông.

Thất Sát triều đẩu hẳn phòng.

Vinh xương tước lộc tôn sùng biết bao.

Đồng cung Tử Phủ đóng vào.

Chung thân Phúc hậu lẻ nào chẳng hay.

Tử Vi cư Ngọ cùng dậy.

Bằng không Sát Phạm, ngôi này công khanh.

Thiên Phủ lâm Tuất sao Lành.

Đai vàng áo tía rành rành không sai.

Khoa, Quyền, Lộc, cũng mấy người.

Miểu Liên Vũ Khúc rõ mười hách danh.

Kìa như lộc ám, Khoa minh,

Quan sang đến tận quân hành Tam Thai.

Đồng lâm Nhật, Nguyệt số ai.

Quan cư hầu, đáng tài tước phong.

Lại nhờ Cơ, Cự đồng cung.

Ngòi rành, chắc hẳn đến vì công khanh.

Tham, Linh tịnh thủ ai bì.

Nổi danh tướng tướng thật thì vẻ vang.

Việt, Khôi cái thế văn chương.

Thiên Lộc, Thiên Mã nhẹ đường khoa danh.

Văn Xương, Tả Phụ cát tinh.

Ngôi sao bát vị hiển vinh trùng trùng.

Hỏa, Tham miếu vượng uy hùng.

Đồng cung Cự, Nhật quan Phong ba đời.

Triều viên Tử, Phủ mấy người.

Muôn chung hưởng được lộc trời tốt sao.

Khoa, Quyền đối cũng chiếu vào.

Vũ môn ba bực nhảy cao rành rành.

Khen cho Nhật, Nguyệt tịnh minh.

Cửu trùng cung điện, Hiển vinh giúp cùng.

Phủ Tướng đồng hội Mệnh cung.

Cả nhà ăn lộc, muôn chung sang giàu.

Số kia tam hợp minh châu.

Thiềm cung nhẹ bước điểm đầu chu y.

Phá Quân, Thất Sát hay đi.

Đồng, Lương, Cơ, Nguyệt thật thì lại nhan.

Tử, Tướng, Nhật, Nguyệt tinh trần.

Công hầu sỉ khí tiến thân cửu trùng.

Nhật, Nguyệt, Khoa, Lộc, Sửu cung.

Đoán là phương bá, cự công tiếng đồn.

Kìa như nhật chiếu lôi môn.

Vinh hoa phú quý cực tôn vô cùng.

Lại như Nguyệt lạc Hợi cung.

Gia quan, tiến chức , hầu phong đó mà.

Dần cung Thiên Phủ đồng gia

Ngôi thang nhất phẩm thật là vẻ vang.

Ngộ cùng Tả, hữu cùng phương.

Ngôi cao bát tọa rõ ràng hiển vinh.

Lương cư Ngọ vị quan thanh (liêm).

Khúc phùng Lương tú, ngôi dành Thai cương.

Dần, Thân mừng họp Đồng, Lương.

Cự môn Thìn, Tuất ngại đường hãm xung.

Lộc đảo, Mã đảo không vong.

Tử Vi vào hạn giải hung ác trừ.

Cự cư Mão vị làm sư.

Trinh cư Mão, Dậu, công tư tại tào.

Nhận cùng Vũ Khúc khéo sao.

Tham lang hãm địa, thớt dao bán hàng.

Cự Môn Tí, Ngọ tương đương

Thạch trưng ẩn ngọc rõ ràng quý nhân.

Tử Vi Thìn Tuất Phá Quân.

Phú nhi bất Quý chịu đường hư danh.

Phần nhiều lao lực, lênh đênh lạ lùng.

Tuất cung phản bội Thiên Đồng.

Tuổi Đinh hóa tốt, phú phong tiếng đồn.

Thìn, Tuất, hãm địa Cự Môn.

Tuổi Tân hóa tốt, lộc còn vẻ vang.

Dậu cung rất kỵ cơ lương.

Nhật, Nguyệt phản bội thanh quang mong gì.

Chu Bột làm tướng chính vì.

Tuần phùng Khoa, Lộc một khi đó mà.

Kìa người Giả Nghị đăng khoa.

Văn Tinh ám củng, thật là tốt thay.

Bất phong Lý Quảng xưa rày.

Kình Dương Lực Sĩ mệnh này gặp nhau.

Ong Nhan chẳng được sống lâu.

Văn Xương Lạc hãm, giữa đầu Thiên Thương.

Trong Do uy mãnh hùng cường.

Liêm Trinh nhập miếu gặp chàng Tướng Quân.

Tài năng Tử, Vũ tuyệt luân.

Đồng, Lương, Cự tú, Mệnh, Thân chiếu vào.

13/06/2019

KHÂM THIÊN GIÁM
Tử vi miếu ở ba cung Sửu, Ngọ, Mùi, không ưa hai cung Thìn Tuất.

Tử vi thuộc âm thổ, là Bắc Đẩu chủ tinh. Trong 14 chính diệu của Đẩu Số, nó là lãnh đạo của các sao, cho nên Cổ nhân gọi là “đế diệu”, ví với hoàng đế. Do ví với hoàng đế, nên Tử vi có đặc tính như sau:

1. Có khí quý phái, có tài lãnh đạo, có phong thái của người ra lệnh. Tài năng lãnh đạo có hoàn mĩ hay không? Mệnh lệnh có chính xác hay không? thì cần phải xem Tử vi ở cung vị nào, và hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính cát hung ra sao mới định được.

2. Có lực điều giải, tức là giỏi khống chế và làm thay đổi. Cho nên, Tử vi có thể kềm chế các sao hung hãn như Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, Hóa Kị. Nhưng lại không tránh được ảnh hưởng của ám tinh Cự môn. Bởi vì, hoàng đế tuy có thể nhiếp phục được quần thần, nhưng lại dễ thích nghe lời sàm tấu, Cự môn giống như nịnh thần hay sàm tấu, có thể gây ảnh hưởng đến sự biểu hiện thanh thế của Tử vi.

3. Có lực khắc chế, là nói đối với hai sao Thất sát và Phá quân. Phá quân giống như tướng soái ở ngoài trận địa, không nhận mệnh lệnh của quân vương, nhưng không có Thất sát thì làm sao tâu báo với Tử vi. Nhưng, "Tử vi Phá quân" đồng cung, cũng có thể biến lực phá hoại của Phá quân thành lực khai sáng.

4. Có lực cạnh tranh, đặc biệt đối thủ càng mạnh thì đấu trí của Tử vi càng mạnh. Nếu như hội hợp với các sao có sự trợ giúp cho lực cạnh tranh như Thiên phủ, Thiên tướng, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì Tử vi càng không dễ nhượng bộ, giống như bậc quân vương lấy xã tắc làm trọng.

5. Có lòng tự tôn, mà còn có tính cách mạnh mẽ, giống như hoàng đế nhất định phải giữ sự tôn nghiêm của bản thân. Cho nên, về tính cách thường có biểu hiện tự cao tự đại, thiện ác tùy tâm. Nếu Tử vi hội chiếu với sát tinh mà không có sao cát, thì dễ kích động theo kiểu: thương thì cho sống, ghét thì cho chết. Nhưng khi ở trong nghịch cảnh, Tử vi lại có thể giấu nỗi khổ trong lòng, không chịu biểu lộ.

Vì Tử vi là “đế diệu”, cho nên rất ưa trăm quan đứng chầu (bách quan triều củng), rất kị quân thần xa lánh (tại dã cô quân). Bách quan và quần thần, là chỉ các sao Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Tam thai, Bát tọa, Ân quan, Thiên quý, Lộc tồn, Thiên mã, Thiên khôi, Thiên việt. Tuy Tử vi cũng ưa Thiên phủ, Thiên tướng triều củng, nhưng vẫn không bằng cách "Bách quan triều củng". Cho nên Tử vi đóng ở cung Mệnh, được "Bách quan triều củng" thì có thể đại phú đại quý. Còn được cách "Phủ Tướng triều viên" thì chỉ là cách cục không thấp, nếu chỉ mang đặc tính của Tử vi để phát huy mà thôi, thì chưa chắc có thể phú quý.

Nếu không có "trăm quan đứng chầu", mà là "quần thần xa lánh", giả dụ như ngay cả "Phủ Tướng triều viên" cũng không có được cách này, thế thì, giống như vị vua cô độc nơi hoang dã (tại dã cô quân). Lúc này Tử vi sẽ có biểu hiện xử sự thiếu hòa hợp, đây là do sự tôn quý của hoàng đế, vì vậy khác với tư tưởng của người thường.

Sao Tử vi ở trong tình cảnh "Tại dã cô quân", lại gặp Địa không, Địa Kiếp và tứ sát, thì chỉ thích hợp phát huy tư tưởng siêu thoát. Cho nên cổ nhân cho rằng trường hợp này thích hợp làm tăng nhân, đạo sĩ. Nhưng ở thời hiện đại, có thể phát triển thành nhân vật có tư tưởng đặc biệt. Nếu gặp được Tham lang, Thiên tài, hoặc Liêm trinh, thì có khả năng là nghệ thuật gia hoặc nhà thiết kế.

Nhưng nếu Tử vi trong hoàn cảnh "tại dã cô quân" lại gặp các sao Sát, sao Không, còn tương hội với Thái âm, thì trái lại, tư tưởng siêu thoát sẽ không phát huy. Do ảnh hưởng của Thái âm, sẽ biến thành người hý lộng thủ đoạn, thích giở mánh khóe.

Ngoại trừ tam phương tứ chính, Tử vi còn chịu ảnh hưởng của hai cung ở bên trái và bên phải, Tử vi rất ưa Tả phụ Hữu bật giáp cung, kế đến là Văn xương và Văn khúc giáp cung.

Nếu gặp phải Hỏa tinh và Linh tinh giáp cung, hoặc Kình dương và Đà la giáp cung, thì Tử vi có khả năng trở thành bạo chúa, tức là phát huy toàn bộ tính chất xấu của Tử vi.

TỬ VI TINH BÍ CẤP
Tử vi độc tọa

Tử vi độc tọa, ở Tý không bằng ở Ngọ, bởi vì khi Tử vi ở Ngọ là nhập miếu, tài lãnh đạo và lực điều hòa chế hóa đều lớn hơn khi độc tọa ở Tý, vì vậy tài địa và tài phú cũng đều hơn hẳn.

Tử vi độc tọa, ngoài việc ưa “bách quan triều củng” ra, còn ưa Tả phụ, Hữu bật giáp cung mệnh, Văn xương, Văn khúc giáp cung mệnh, Lòng trì, Phượng các giáp cung mệnh, thảy đều làm tăng khí thế và giảm bớt vất vả cho Tử vi.

Nếu là “tại dã cô quân”, còn gặp các sao “Không”, như Thiên không, Địa không, thì thích hợp làm người truy tìm chân lý, thành nhân vật tôn giáo, cũng có thể trở thành nhân vật lãnh đạo. Gặp Hóa cái, tín ngưỡng tôn giáo càng sâu, hơn nữa còn thích tìm hiểu sự việc thần bí.

Tử vi độc tọa mà gặp đủ các sao Phụ, Tá, Sát, Hóa, thì cần phải xét xem các sao cát hung nhiều hay ít thế nào, sức mạnh của chúng ra sao, để định tốt xấu. Thông thường, phần lớn trường hợp đều chủ về có lý tưởng cao nhưng sức mạnh hành động không đủ, cần phải dùng Hậu thiên để bổ cứu cho những nỗ lực thực hiện lý tưởng của sao Tử vi.

Nếu như không có Cát tinh hội hợp mà chỉ gặp Sát tinh, thì dễ cảm thấy “có tài mà không gặp thời”, nên làm việc ở lĩnh vực kinh doanh thương mại. Chỉ cần Sát tinh nhập miếu, mà Sát tinh không nhiều, thì vẫn có thể hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại mà trở nên giầu có. Tốt nhất là được Hóa Lộc hoặc Lộc tồn hội hợp, dễ giầu có mà còn có địa vị trong xã hội, nhất là, càng dễ phát triển trong giới thương nghiệp. Nếu theo lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, thì trái lại, sẽ gặp nhiều trắc trở bất đắc chí.

Sát tinh nặng, thông thường đều chủ về bất hòa, tranh chấp thị phi. Nhất là gặp phải Kình dương lạc hãm, càng chủ về kiện tụng, hoặc phải phẫu thuật ngoại khoa.

Tử vi độc tọa, cũng ưa Hóa Quyền và Hóa Khoa. Khi Hóa Quyền có thể làm tăng năng lực lãnh đạo và sức cạnh tranh, khi Hóa Khoa thì có danh tiếng, hơn nữa, theo ngành nghiên cứu học thuật để dung hợp các thuyết mà sáng tạo ra cái mới; nhưng đều khiến cho mệnh tạo tăng mạnh tính chủ quan, khó tiếp thu ý kiến của người khác.

Trường hợp Tử vi chỉ gặp một hai sao Sát Kị, thì lại chủ về dễ nghe lời nói xấu, dèm pha, thị phi.

Phàm Tử vi độc tọa, cung đối diện ắt sẽ gặp Tham lang chủ về hiếu sắc, có thêm các sao đào hoa hội hợp thì càng nặng, nếu chỉ hội hợp với Thiên hình thì chủ về tự biết kềm chế, gặp Đà la cũng có thể tự kềm chế.

Trong đại hạn hoặc lưu niên, gặp Tử vi độc tọa tại cung Hạn, cần phải xét kỹ các sao hội hợp để định cát hung. Gặp Cát tinh thì chức vị thăng tiến, thương vụ phát triển, phúc lộc đều hậu hỷ; nếu gặp Hung tinh Địa không, Địa kiếp, sao Hao (Đại hao), thì chủ về kinh tế khó khăn hoặc phá tài; có Sát tinh tương hội chủ về bất hòa, tranh chấp, trong làm ăn dẫn tới đình trệ, trong chức vụ bị giáng chức hoặc bị truất phế.

Tử vi và Phá quân đồng cung

Tử vi ở Sửu hoặc Mùi luôn luôn có Phá quân đồng độ. Đây là kết cấu tinh hệ rất có lực khai sáng. Phá quân vốn là chiến tướng tiên phong, được Tử vi cầm cương điều khiển, lực phá hoại của Phá quân nhờ vậy mà được giảm thiểu, sức sáng tạo trái lại sẽ tăng. Tuy đời người không tránh được vất vả gian khổ, nhưng nhờ có tài lãnh đạo, có tính quyết đoán, nên cũng chủ về trải qua vất vả mà có thành tựu.

Nhưng, lúc Phá quân Hóa Quyền sẽ làm tăng tính chất biến động của Phá quân, vì vậy mà đời người càng thêm biến động thay đổi. Nếu có Tả phụ Hữu bật hội hợp, có thể giảm thiểu vất vả; nếu gặp tứ Sát, thì chỉ thích hợp làm việc trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, và cần phải chú ý tính chất sáng tạo cái mới trong kinh doanh.

Nếu Phá quân Hóa Lộc, đồng thời với sự khai sáng là cơ hội kiếm tiền, khiến cho sinh hoạt vật chất được sung túc, để bù đắp những vất vả đã trải qua. Nhưng như vậy, đồng thời tình cảm cũng gặp nhiều tình huống rắc rối khó xử, hơn nữa, sẽ khiến cho mệnh tạo thiên về hưởng thụ nhục dục. Bởi vì lúc này sẽ gặp Liêm trinh và Tham lang đồng độ ở Tị (hoặc ở Hợi), do hội với Phá quân Hóa Lộc mà phát huy tác dụng.

Bất kể Phá quân Hóa Quyền hay Hóa Lộc, cũng chủ về khiến cho mệnh tạo trở thành phú quý, nhưng nếu đồng thời hội hợp với các sao Sát Hình Kị, thì tuy giầu có sung túc, nhưng lại dễ chuốc điều tiếng thị phi. Gặp Kình dương, Thiên Hình, Hóa Kị, còn dễ vướng vào tranh chấp kiện tụng, thích hợp theo binh nghiệp hoặc ngành pháp luật.

Tinh hệ “Tử vi Phá quân” chủ về biến động, bởi vậy trong kinh doanh làm ăn, cần phải chú ý khi cơ hội đến bất ngờ, hơn nữa, có khả năng sẽ đồng thời kinh doanh hai ba lãnh vực có liên quan với nhau, hoặc cùng một thời điểm phải giải quyết hai ba việc. Nếu là nhân viên làm thuê, thì chủ về kiêm ngành, kiêm chức, hoặc làm tăng ca, nhưng nhất định sẽ một mình đảm trách công việc.

“Tử vi Phá quân” đóng ở cung mệnh, là người thẳng thắn, nhưng nếu gặp Hoa cái, thì thích hợp nghiên cứu tôn giáo hoặc triết học.

Có điều, do mệnh tạo hay lo toan nghĩ ngợi vì nhiều biến động thay đổi, lại xét thấy Thiên phủ ở cung Phúc đức chủ về lo toan chu đáo, nên khi gặp các sao Sát, sao Không, sẽ biểu hiện tính tự tư ích kỷ. Cổ nhân nói: "Tử vi Phá quân, làm tôi thần bất trung, làm con bất hiếu" (Tử vi Phá quân, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu), còn nói: "Tử vi Phá quân mà không có Tả Hữu đồng cung, là phường quan lại hung ác" (Tử Phá đồng cung vô Tả Hữu, vô cát diệu, hung ác tư lại chi đồ), tức là đã chỉ ra bản tính tự tư ích kỷ và khuynh hướng hay lo toan nghĩ ngợi của mệnh tạo. Nhưng chỉ cần có Cát tinh hội hợp, thì những tính cách không lành này sẽ giảm nhẹ, thậm chí tiêu trừ.

Đại hạn hoặc Lưu niên mà gặp “Tử vi Phá quân” đồng độ, chủ về "khứ cựu canh tân" (bỏ cũ để đổi mới). Được Cát tinh hội hợp, đương nhiên biến động sẽ cát lợi. Nếu gặp Sát tinh, thì nên suy nghĩ kỹ, không được vội vã thay đổi. Nếu Sát tinh và Cát tinh đều có, thì phải xem đến vận hạn sau có cát hay không để quyết định làm hay dừng.

Tử vi và Thiên phủ đồng cung

Hai sao Tử vi và Thiên phủ đồng độ ở Dần hoặc ở Thân. Sao Tử vi là chủ tinh của Bắc Đẩu, tính thích hợp khai sáng. Thiên phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, tính lợi về bảo thủ. Cho nên khi hai chủ tinh gặp nhau, không những xung đột “một núi không thể có hai cọp”, mà tính chất còn kềm chế lẫn nhau, như vậy sẽ khó mà phát huy tác dụng. Thông thường, chỉ chủ về thanh cao, thậm chí có khả năng phát triển thành tự sùng bái mình. Kết cấu tinh hệ kiểu này, rất nên theo sự nghiệp giáo dục, làm công chức cũng được, không nên theo nghiệp kinh doanh, nếu không, sẽ có phản ứng sai lầm, hành động không mạng lại hiệu quả tốt cho bản thân, thường đánh mất cơ hội, hoặc khéo quá mà thành vụng.

Khi “Tử vi Thiên phủ” đồng cung, nếu Tử vi Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa, thì vầng hào quang của Tử vi càng lớn, khí quý phái càng lớn. Nếu Thiên phủ Hóa Khoa thì chỉ có khuynh hướng giữ uy tín, xem trọng lời hứa, nhưng sẽ quá khiêm cung hiền lành, thiếu năng lực lãnh đạo và khai sáng mọi thứ từ thực tế.

Kết cấu tinh hệ kiểu này, rất nên gặp cách “Lộc Mã giao trì” đến hội hợp, chủ về phú quý song toàn; kế đến là cách “Lộc văn củng mệnh”, tức có Lộc tồn hoặc Hóa lộc và Văn xương, Văn khúc hội hợp, cũng chủ về phú quý; kế đó nữa là các phụ diệu – tá diệu hội hợp và hội chiếu, chủ về quý mà không chủ về giầu có.

Nếu các sao Phụ diệu, Tá diệu không hội hợp, mà có tứ Sát Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, trái lại, sẽ chủ về bên ngoài thì tỏ ra trung thành mà bên trong thì gian trá, phần nhiều hay tráo trở thị phi. Nếu gặp sao Không, hoặc Không vong, là người tầm thường, cô độc, kiếm sống qua ngày.

Nữ mệnh có “Tử vi Thiên phủ”, nếu Tham lang của cung Phúc đức hội hợp với các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Thiên diêu, Hàm trì, thì rất nên xem trọng sinh hoạt tình cảm. Nếu cung Mệnh có các sao Sát Hình tụ tập, thì có thể làm kế thất, hoặc do quá tự sùng bái mình mà suốt đời không kết hôn.

Cung mệnh của đại hạn, hoặc cung mệnh của lưu niên gặp “Tử vi Thiên phủ” thì cát lợi hơn so với gặp ở cung mệnh nguyên cục, chủ về được quý nhân trợ lực, dễ phát đột ngột. Nếu gặp Thiên khôi, Thiên việt, hoặc lưu Khôi, lưu Việt thì nhờ có thay đổi mệnh lệnh, hoặc nơi làm việc thay đổi chính sách cũng phất lên đột ngột. Trong làm ăn phần nhiều không cầu mà bỗng nhiên gặp may.

Tử vi và Tham lang đồng cung

“Tử vi Tham lang” đồng độ ở Mão hoặc ở Dậu, cổ nhân gọi cách này là “”Đào hoa phạm chủ”, cho rằng chủ về dâm loạn. Cho nên gặp tinh hệ “Tử vi Tham lang” đồng cung, rất kỵ gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Đại hao, Thiên diêu, Mộc dục, nếu không, chủ về bản thân dễ mất kềm chế không tự chủ được trước sức hấp dẫn của người khác giới. Nếu gặp thêm Sát tinh sẽ gặp họa vì sắc đẹp. Cho dù không gặp Sát tinh cũng vẫn bị ảnh hưởng đến con đường sự nghiệp.

Nếu Tử vi Hóa Quyền, được “bách quan triều củng”, giống như thiên tử phong lưu ở thời thái bình, chủ về phú quý đa tình. Tử vi Hóa Khoa gặp Cát tinh tuy có danh tiếng, nhưng vẫn thiên nặng về nhục dục và ham muốn vật chất.

Nếu Tham lang Hóa Lộc, chủ về giao tế thù tạc nhiều, thiên nặng về ham muốn vật chất, nhưng lại có tài vận hanh thông. Tham lang Hóa Quyền, ham muốn vật chất cũng nặng, nhưng phải trải qua cạnh tranh mới có được thành tựu. Tham lang Hóa Kị, tuy giảm sắc thái đào hoa, nhưng tài năng và tài nghệ lại rất khó phát huy và phát triển, những ham muốn vật chất khó toại nguyện.

Tử vi đồng độ với Tham lang, ưa gặp Tả phụ, Hữu bật đồng cung, mà không ưa Văn xương, Văn khúc. Nếu gặp Văn xương Văn khúc đồng cung, thì khuynh hướng hấp dẫn người khác giới càng lớn, đồng thời còn chú trọng trang điểm trải chuốt về biểu hiện hình thức bề ngoài hoàn mỹ, cho nên hành sự “giả nhiều mà thực ít”. Nếu gặp Tả phụ và Văn xương, hoặc Hữu bật và Văn khúc giáp cung Mệnh, thì trái lại, sẽ dễ phát huy tài chí, sự nghiệp có thành tựu. Cổ nhân nói: “Tả Hữu Xương Khúc giáp chế”, theo bí truyền của Trung Châu phái, đây là cách nói “giao thoa nhau mà giáp cung mệnh”, bởi vì tinh hệ “Tử vi Tham lang” vĩnh viễn không có khả năng “Tả Hữu giáp mệnh”.

“Tử vi Tham lang” mà gặp Sát tinh, chỉ nên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhưng Sát tinh nặng cũng có thị phi, tranh chấp. Nếu lại gặp sao Không và Hoa cái, trái lại, sẽ sinh nhai bằng nghiệp hoạt động tôn giáo.

Nữ mệnh có “Tử vi Tham lang”, gặp đào hoa và Sát tinh, dễ rơi vào chốn phong trần. Kị nhất là gặp sao Kình dương, khi các sao đào hoa tụ tập, thì nguy cơ rơi vào chốn phong trần càng lớn, đồng thời cũng vì vậy mà ham muốn vật chất có khuynh hướng trụy lạc. Khi cung mệnh an tại Dậu, phải mượn tinh hệ “Tử vi Tham lang” ở Mão để an cung, thì càng cần phải chú ý.

Cung mệnh của lưu niên, hoặc cung mệnh của đại hạn mà gặp tinh hệ Tử vi Tham lang, tính chất đào hoa sẽ nhẹ hơn khi gặp ở cung mệnh nguyên cục. Thông thường, nếu hội hợp với các Cát tinh chủ về ít có sự biến động thay đổi nhưng lại khó tiến bộ, nếu hội hợp với các Sát tinh mà không gặp các sao Hình Kị thì lại có thể tiến bộ. Còn khi các Sát tinh hội tụ lại gặp thêm các sao Hình Kị, chủ về vì sắc mà phá tài, chuốc họa, hoặc vì thù tạc mà chuốc điều tiếng thị phi.

Tử vi và Thiên tướng đồng cung

“Tử vi Thiên tướng” đồng độ ở Thìn hoặc ở Tuất, biết rằng Tử vi là đế diệu, Thiên tướng là sao “ấn”, thoạt nhìn có vẻ là một kết cấu rất lý tưởng, nhưng khi hai sao này đồng cung, thì lại vì Phá quân ở cung đối diện xung chiếu mà thay đổi tính chất. Đây là một ví dụ, mà Trung Châu phái xem trọng đặc tính của toàn bộ kết cấu các tinh hệ trong mệnh bàn.

Tinh hệ “Tử vi Thiên tướng” rất ưa được Lộc tồn hội chiếu, có thể giầu có, nhưng thành kiến chủ quan cực nặng, mà còn thích tranh quyền, nên dễ bị nhiều người không chấp nhận mà gây áp lực chèn ép, nặng hơn còn bị loại bỏ. Nếu không có Lộc tồn và Tử vi Hóa Quyền, thì tính thích tranh quyền càng diễn biến kịch liệt; nếu không có Lộc tồn mà Tử vi Hóa Khoa, tính thích tranh quyền tuy có giảm, nhưng lòng tự tôn và trọng danh dự càng nặng nề, dễ bị người ta úy kị.

Nếu tinh hệ “Tử vi Tham lang” không gặp cát hóa Lộc Quyền Khoa, thì tinh hệ này ưa được “bách quan triều củng”, không ưa các sao Sát Kị hội hợp. Nếu được Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc hội chiếu, thì sự nghiệp có thể thành tựu, tính tình ôn hòa nhân hậu chủ về kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo. Nhưng vì ảnh hưởng của Phá quân ở cung đối diện xung chiếu, nên trong đời người ắt phải trải qua một lần sóng gió, trắc trở.

Nếu không gặp Cát tinh, mà có tứ Sát hội hợp, thì lấy trường hợp Kình dương, Đà la là khá tốt, thích hợp hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Nếu gặp Hỏa tinh Linh tinh, do Tử vi phải hao phí sức lực hóa giải nên tăng thêm vất vả, gian khổ. Giả dụ như gặp Hỏa tinh, Linh tinh, mà còn gặp thêm Địa không, Địa kiếp, Thiên Hình, chủ về gặp bất hạnh, tinh thần bị kích thích mạnh, hoặc mắc bệnh tim. Phàm tinh hệ Tử vi Thiên tướng thủ mệnh, dù không gặp Sát tinh, cũng nên chú ý sức khỏe tim mạch, nên chăm sóc sức khỏe tinh thần.

Nếu có nhiều Sát tinh hội hợp, chủ về phát triển một cách nhanh chóng rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, có những ứng xử biểu hiện vô tình vô nghĩa. Nếu có thêm Cát tinh tương hội, chủ về đời người trải qua nhiều sóng gió trắc trở, cuộc đời có bước ngoặt đặc biệt, hoặc gặp bất hạnh bất ngờ. Nhưng trong ngẫu nhiên vô tình vẫn có biểu hiện vô tình lạnh nhạt.

Nữ mệnh gặp tinh hệ “Tử vi Thiên tướng”, cần chú ý quan tâm đến sinh hoạt tình cảm, đồng thời phải lưu ý đến đặc tính “vô tình vô nghĩa” của tinh hệ này mà biết tự mình kềm chế bản thân, thì mới được hưởng cuộc sống an lành, tuy nhiên trong tình yêu ắt khó tránh được cảnh sóng to gió lớn.

Cung mệnh của lưu niên, hoặc cung mệnh của đại hạn có tinh hệ Tử vi Thiên thướng, nếu gặp các sao Sát Kị, ắt sẽ bị nhiều trở ngại rồi sinh lòng thay đổi, như mong muốn thay đổi việc làm nhưng lại không được. Gặp Cát tinh thì vận hạn thuận lợi toại ý, sự nghiệp có thành tựu.

Tử vi và Thất sát đồng cung

Tử vi và Thất sát đồng độ ở Tị hoặc Hợi. Tử vi là đế diệu, Thất sát là tướng tinh, hai sao này mà đồng cung, có uy thế không ai so bì được. Cho nên chủ về giầu tính khai sáng, hơn nữa, còn có tư tưởng độc đáo.

Thông thường, tinh hệ “Tử vi Thất sát” có thể xem là tượng trưng cho quyền lực, cho nên Tử vi không nên Hóa Quyền, vì khi Tử vi Hóa Quyền chủ về có lòng ham muốn quyền lực quá cao, có biểu hiện “khí bá đạo”, khiến cho cộng đồng làm việc xa gần rất khó chấp nhận.

Tinh hệ “Tử vi Thất sát” rất cần các Cát tinh hội chiếu. Như có Tử phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Lộc tồn, Thiên mã hội hợp, khi được những Cát tinh này hội hợp, thì tính cương dũng của Thất sát có đất dụng võ, đây là cái gọi là “hóa sát làm quyền” của cách cục này. Nhưng, giả dụ không có những Cát tinh hội chiếu, thì cách cục này giống như “anh hùng thảo dã biến thành giặc cướp”, khó tránh khỏi có những biểu hiện “tàn nhẫn bá đạo”, chủ về phát triển lên một cách nhanh chóng, rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng.

Nếu như không có những Cát tinh, mà còn có Sát tinh hội hợp, thì khó tránh được “hình thương, khắc hại”.

Nữ mệnh gặp tinh hệ “Tử vi Thất sát”, nếu gặp Sát tinh, tuy có cơ hội thay đổi nhưng lại khó được như ý nguyện. Nếu có Cát tinh tụ hội thì phải chấp nhận trải qua sự biến động thay đổi, thì mới có được ích lợi.

Sao Tử vi - Toàn thư
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Tử vi là âm thổ, là Bắc Đẩu Đế tọa, trung tâm của các vì sao, hóa khí là tôn quý chủ cung Quan lộc. Tại số chuyên quản về chức tước và bổng lộc, có khả năng giải ách (tiêu trừ tai ách, biến hung thành cát), kéo dài tuổi thọ (nếu vận hạn gặp được Tử vi thì có thể duy trì được bình an, tăng thêm độ tốt lành), có khả năng chế hóa (có khả năng chế phục và hóa giải hung tính của các sát tinh), có sức mạnh bao dung che chở, xuất hiện tại cung nào cũng có khả năng tạo phúc trừ tai, tiêu trừ mọi hung hại.

Tử vi tuy là sao Đế Tọa địa vị tôn quý, nhưng lại không nên đứng một mình chẳng khác gì vị vua cô độc trên ngai vàng, thiếu tôi hiền trợ giúp dễ trở nên độc đoán chuyên quyền, khiến gian thần tiểu nhân thừa cơ, kẻ dưới phạm thượng, nên khó phát huy được uy lực mà dễ suy yếu, có tài năng nhưng không có đất dụng võ, hay dùng kiến giải nghiệp dư để chỉ đạo người chuyên nghiệp.

Tử vi ưa Tả phụ Hữu bật phò tá, gặp Thiên tướng, Văn xương, Vũ khúc tùy tùng, gặp Thiên khôi Thiên việt truyền lệnh, gặp Thái dương Thái âm phân chức, gặp Lộc tồn Thiên mã để quản tước vị, gặp Thiên phủ cai quản kho tàng. Nếu được những Cát tinh trên đồng cung, hoặc nằm tại cung tam phương tứ chính ứng chiếu lẫn nhau, sẽ tạo thành cách Quần thần khánh hội là cách rất tốt. Uy lực của Tử vi có thể khắc chế Hỏa tinh Linh tinh thành thiện, có thể giáng Thất sát làm quyền. Khi Tử vi gặp hung tinh, tuy hóa cát nhưng vô đạo.

Sao Tử vi (cực) nằm tại cung Ly (ngọ), không bị sát tinh xung phá là cách Cực hướng Ly minh địa vị phú quý đến hàng công khanh. Hai sao đế là Tử vi và Thiên phủ nếu đồng cung, hoặc tại cung đối nhau chầu về cung Mệnh là cách Tử Phủ đồng cung chủ về một đời giầu có. Nếu Tử vi hoặc Thiên phủ miếu vượng nằm tại cung Mệnh, tam phương tứ chính lại gặp cát tinh là cách Tử Phủ triều viên tước lộc dồi dào.

Ca quyết:

Tử vi nguyên thuộc thổ, Quan lộc cung chủ tinh

Hữu tướng vi hữu dụng, vô tướng vi cô quân

Chư cung giai giáng phúc, ngộ hung phúc tự thân

Văn xương phát khoa giáp, Văn khúc thụ hoàng ân

Tăng đạo hữu sư hiệu, khoái lạc độ xuân thu

Chúng tinh giai củng chiếu, vi lai hiệp công bình

Nữ nhân hội Đế tọa, ngộ cát sự quý nhân

Nhược dữ đào hoa hội, phiêu lãng lạc phong trần

Kình dương Hỏa Linh tụ, thử thiết cẩu thâu quân

Tam phương hữu cát củng, phương tác quý nhân bình

Nhược hoàn vô Phụ Bật, chư ác cộng khí lăng

Đế vi vô đạo chủ, khảo cứu yếu chi nhân.

SAO TỬ VI TỌA THỦ CUNG MỆNH

Dung mạo và tính cách

Người có sao Tử vi tọa thủ tại cung Mệnh, thường có sắc mặt mầu vàng tía, người to béo, tướng mại hiền hậu điềm đạm, ánh mắt trong và sáng. Mệnh nam thì vai rộng lưng dày, rắn rỏi uy nghiêm; mệnh nữ thì đôn hậu thanh tú, phúng phính đãy đà, khoan thai quý phái.

Tính cách liêm chính ngay thẳng, trung hậu thật thà, bên ngoài cứng rắn bên trong yếu mềm, có lòng tự trọng tự ái, tâm địa lương thiện, có lòng nhân hậu hay nghĩ cho người khác, có khí chất tôn quý, có tính kiêu ngạo, thích phân minh rõ ràng. Có tinh thần trách nhiệm, thích hư vinh, đa nghi, thiếu chủ kiến, tự tin giỏi biện luận lại thường hiếu thắng, tâm địa khá hẹp hòi, thích chiếm hữu, dễ làm việc theo cảm tính tùy thuộc vào mong muốn bản thân. thường tự cảm thấy tủi thân mà dễ tự tìm đến phiền muộn. Thông minh học rộng, năng lực quản lý tài chính giỏi, có khả năng lãnh đạo. Làm việc chăm chỉ, nhiệt tình thích cầu toàn.

Nữ giới có sao Tử vi nhập vào cung Mệnh, ngoài có tiền đồ còn có dung mạo xinh đẹp, da dẻ mịn màng, khí thái đoan trang, được giáo dục tốt, là mẫu người phụ nữ vợ đảm mẹ hiền điển hình. Đa phần có được người bạn đời có địa vị cao trong xã hội, hưởng cuộc sống hành phúc về cả vật chất lẫn tinh thần. Nếu gặp thêm cát tinh là người vợ giúp chồng, nuôi con giỏi.

Độ sáng của sao Tử vi tọa thủ 12 cung

Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Thiên phủ.

Mối quan hệ của chúng như sau:

- Miếu = + 4

- Vượng = + 3

- Địa = + 2

- Lợi = + 1

- Bình hòa = 0

- Không đắc địa = - 1

- Hãm địa = - 2

Sao Tử vi tuy là Đế tọa phú quý, có khí thể độc tôn, quyền uy cao ngất, là chúa tể của các sao, nhưng khi tọa thủ tại cung Mệnh thì không nhất định là thể hiện phú quý vinh hoa, còn phải xem xét cát - hung của các sao trong cung và các cung bên cạnh, cung đối diện, và cung tam phương hội hợp với cung này.

Sao Tử vi không thích hợp tọa thủ một mình. Khi Tử vi đơn thủ độc tọa một mình, thì cũng giống như vị vua đơn độc không có hiền thần phò tá, lại làm việc không có chủ kiến, thường bó buộc trong vỏ bọc tôn quý, dễ bị gian thần tiểu nhân làm hại, dễ độc đoán chuyên quyền, về tinh thần không tránh khỏi cô độc, nếu không biết biến thông thì khó tránh khỏi gặp trở ngại tai ương.

Người có sao Tử vi tọa thủ ở cung Mệnh, thích người khác tiếp thu ý kiến của bản thân, thích ra lệnh, thường đưa ra kiến nghị cho người khác, dễ có hiềm khích. Do sao Tử vi có khuynh hướng duy trì địa vị tôn quý của mình, luôn hy vọng được người khác tôn trọng và thừa nhận, vì vậy tính tình thường kiên định, đòi hỏi cái "tôi" khá cao, làm bất cứ việc gì đều rất nghiêm túc, có khả năng cải tiến đi lên, đồng thời có tính cầu toàn, thích thể hiện phô diễn mặt tốt đẹp của bản thân ra ngoài, luôn hy vọng vào khả năng nỗ lực trong tương lai của những người xung quanh, để thể hiện vai trò vị chúa tể, nên thường tự độc tôn quyền uy ở một phương diện nào đó. Sau khi thành danh, tất tiếp tục khẳng định cái "tôi", nếu chuyên về tri thức hoặc kỹ thuật đặc thù, lấy hiện trạng đột phá, đồng thời biết tiếp thu ý kiến của bạn bè, duy trì bản năng có lòng hiếu kỳ với bất kỳ sự việc nào, tất có vận may được hiển đạt lớn, nếu không, sẽ dễ đi theo khuynh hướng hư danh.

Sao Tử vi hợp nhất khi có thêm 6 cát tinh phò tá, cũng hợp với cát tinh như Thiên phủ, Thiên tướng, Thái dương, Thái âm, Lộc tồn, Thiên mã, hoặc gặp được sự hỗ trợ trong cùng một cung, như vậy mới có thể phát huy được uy lực chân chính của Đế tinh.

Suy đoán cát - hung của sao Tử vi tọa thủ cung Mệnh, cũng phải đồng thời xem xét Tam thai, nếu cung vị của sao Tử vi là "trung thai", thì trước nó một cung là "thượng thai", sau nó một cung là "hạ thai". Các sao Tham thai đều là Cát tinh của miếu, vượng, thì mọi việc hanh thông. Nếu các sao của Tam thai đều là Hung tinh rơi vào thế hãm địa thì mọi việc không như ý.

(Theo: Blog Tử Vi Tinh Quyết)

Want your school to be the top-listed School/college in Soc Trang?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Soc Trang