31/03/2026
Đoàn trường CĐSP Kiên Giang tổ chức Lễ ra quân Tháng Thanh niên năm 2026.
Những hoạt động của Hội Sinh viên và Đoàn trường CĐSP Kiên Giang Đây là trang thông tin của Đoàn Thanh niên, HSV trường CĐSP Kiên Giang.
Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ Ban Thường trực Đoàn Thanh niên, HSV trường CĐSP Kiên Giang.
31/03/2026
Đoàn trường CĐSP Kiên Giang tổ chức Lễ ra quân Tháng Thanh niên năm 2026.
05/02/2026
Với tấm lòng tương thân tương ái và sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, Chi đoàn K47 GDMN-H đã vận động nguồn lực của Chi đoàn để gửi đến các em nhỏ và người già neo đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh những món quà ý nghĩa nhân dịp tết đến xuân về.
B*H Đoàn trường cảm ơn và ghi nhận hoạt động ý nghĩa của Chi đoàn 47H với mong muốn những hoạt động ý nghĩa luôn được lan toả đến các chi đoàn!
03/02/2026
Hội xuân năm 2026
25/01/2026
🌟🌟 Tinh gọn bộ máy: Gần dân và hiệu quả hơn 🌟🌟
Chính phủ đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, để chính quyền địa phương 2 cấp vận hành ngày càng hiệu quả, thực chất, vì dân.
Thực tiễn triển khai chính quyền địa phương 2 cấp thời gian qua cho thấy mô hình này đang khẳng định hướng đi đúng. Khi bộ máy tinh gọn hơn, việc điều hành thông suốt hơn, người dân và doanh nghiệp được phục vụ nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Trên nền tảng đó, Chính phủ đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, để chính quyền địa phương 2 cấp vận hành ngày càng hiệu quả, thực chất, vì dân.
Việc xây dựng và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được đặt trong tư duy xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
Tinh thần ấy được thể hiện rõ trong Công văn số 84/TTg-TCCV do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký ban hành ngày 21/1, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, trên cơ sở thực hiện Kết luận số 228-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Công văn không chỉ nêu mục tiêu chung mà đi thẳng vào những việc cụ thể, thiết thực.
Trước hết là yêu cầu rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo ngành, lĩnh vực quản lý để kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Tinh thần ở đây là làm cho pháp luật đi cùng thực tiễn, không để những quy định cũ cản trở cách làm mới, không để bộ máy đã gọn mà việc vẫn rối.Thủ tướng nhấn mạnh việc tập trung vào các lĩnh vực then chốt như tài chính ngân sách, đất đai, quy hoạch, tổ chức bộ máy, cán bộ, cải cách hành chính, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo.
Cùng với đó là thực hiện nghiêm phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp, gắn với cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, để quản lý nhà nước vừa chặt chẽ vừa thông suốt, giảm tầng nấc trung gian, giảm thời gian chờ đợi của người dân.
Tinh thần “nói đi đôi với làm” được thể hiện rõ qua việc giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ, ngành. Bộ Nội vụ được yêu cầu khẩn trương rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định liên quan đến lao động, việc làm, bảo đảm phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tạo cơ sở để ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện tốt công tác quản lý trong điều kiện mới.
Đồng thời, Bộ Nội vụ tham mưu sửa đổi các quy định về tổ chức, hoạt động của hội và chế độ thù lao đối với cán bộ hưu trí tham gia công tác hội, bảo đảm thống nhất, phù hợp với chủ trương chung.
Bộ Tài chính tập trung vào một việc rất cụ thể nhưng không kém phần quan trọng. Đó là tiếp tục tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thực hiện bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công sau khi tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính được sắp xếp lại.
Yêu cầu đặt ra là phải công khai việc sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công của từng địa phương. Việc điều chuyển, chuyển đổi công năng các cơ sở nhà, đất được hướng dẫn rõ, để phục vụ thiết thực cho y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và các mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh, đúng quy hoạch, đúng pháp luật.
Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao nhiệm vụ rà soát, khắc phục kịp thời các bất cập của hệ thống thông tin do bộ quản lý; đồng thời đơn giản hóa quy trình, hồ sơ, thủ tục đất đai tại cấp xã, triển khai cơ sở dữ liệu ngành đến tận cơ sở.
Nhìn tổng thể, chỉ đạo của Chính phủ tiếp tục cho thấy một tinh thần rất rõ: Tinh gọn bộ máy không phải để giảm việc, mà để làm việc tốt hơn. Tinh gọn bộ máy không phải để xa dân, mà là để gần dân hơn.
Tinh thần đó được Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh trong tham luận tại Đại hội XIV của Đảng với chủ đề “Xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân.”
Theo Phó Thủ tướng, nhiệm kỳ 2021-2025 là giai đoạn đặc biệt khó khăn, chưa từng có tiền lệ, nhưng trong thử thách ấy, Chính phủ kiên định phương châm: Xây dựng tầm nhìn chiến lược, tạo lập thể chế, dẫn dắt mở đường, khơi thông và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển đất nước- Liêm chính để tạo lập nền tảng giá trị, giữ vững niềm tin- Hành động quyết liệt để biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước chuyển hóa thành kết quả cụ thể hiện hữu được nhân dân cảm nhận, thụ hưởng. Và phục vụ nhân dân là mục tiêu tối thượng.
Chính trong tinh thần đó, cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy và xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp đã được triển khai khẩn trương, quyết liệt, hiệu quả. Xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp đã mở ra không gian phát triển mới, tạo đột phá xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân tốt hơn.
Phó Thủ tướng khẳng định, quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” một cách thực chất và hiệu quả nhất. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.
Từ chỉ đạo của Trung ương, nhiều địa phương đã chủ động, nghiêm túc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm cung ứng đầy đủ dịch vụ công thiết yếu cho người dân và doanh nghiệp. Thực tiễn ở phường Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên cho thấy rõ hiệu quả của cách làm này.
Ngay từ khi vận hành theo mô hình mới, địa phương xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm. 100% cán bộ sử dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử, gần như toàn bộ thủ tục hành chính được giải quyết trực tuyến, hồ sơ đúng hạn đạt tuyệt đối.
Những mô hình quản trị đô thị thông minh, tổ dân phố thông minh, hay chương trình “Bình dân học AI” không chỉ giúp chính quyền hoạt động hiệu quả hơn mà còn tạo điều kiện để người dân trực tiếp thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số.
Ở những địa phương có quy mô lớn sau hợp nhất, như Đồng Tháp, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp còn mở ra không gian phát triển mới.
Bộ máy gọn hơn giúp việc ra quyết định nhanh hơn, trách nhiệm rõ hơn, từ đó tạo điều kiện khai thác tốt tiềm năng về nông nghiệp, công nghiệp, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Bên cạnh những kết quả rõ ràng, quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vẫn còn những khó khăn nhất định về thể chế, hạ tầng số, năng lực cán bộ ở một số nơi.
Nhưng điều đáng ghi nhận là Trung ương đã nhìn thẳng vào thực tế, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ, hoàn thiện từng bước, với trách nhiệm được giao rõ ràng cho người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương.
Tinh gọn bộ máy là việc làm khó, đòi hỏi quyết tâm, bản lĩnh và sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị.
Nhưng khi mục tiêu là vì dân, khi cách làm xuất phát từ thực tiễn và được điều chỉnh kịp thời, thì mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sẽ tiếp tục khẳng định hiệu quả. Gọn hơn để mạnh hơn, gần dân hơn để phục vụ tốt hơn, đó chính là giá trị bền vững mà mô hình này đang và sẽ mang lại./.
TTXVN
25/01/2026
🇻🇳🇻🇳 Đại hội XIV của Đảng: Xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông trong kỷ nguyên phát triển mới 🇻🇳🇻🇳
Việc đưa lĩnh vực "xuất bản" vào định hướng chiến lược tại Đại hội XIV phản ánh tầm nhìn sâu sắc của Đảng về an ninh văn hóa và sức mạnh nội sinh của dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đặt dấu mốc quan trọng đối với báo chí, truyền thông với định hướng “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”. Chủ trương đúng đắn này đã giúp nền báo chí cách mạng Việt Nam vững vàng vượt qua những thách thức chưa từng có và sự biến động khôn lường của tình hình thế giới thời gian qua. Tuy nhiên, trước yêu cầu cấp thiết của “kỷ nguyên mới” - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sau 40 năm đổi mới, tư duy lãnh đạo của Đảng tiếp tục có sự phát triển mang tầm chiến lược với việc bổ sung thành tố “xuất bản” để hoàn chỉnh mệnh đề thành “xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại” là bước đột phá về lý luận.
Đây là sự nhận diện đầy đủ, toàn diện quy luật vận động của công tác tư tưởng, khẳng định vị thế trụ cột của báo chí, xuất bản, truyền thông trong việc kiến tạo nền tảng tri thức, tạo thế kiềng ba chân vững chắc trong vai trò quan trọng của mình trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Kiến tạo nền tảng tri thức quốc gia và dẫn dắt thông tin quốc gia
Việc đưa lĩnh vực "xuất bản" vào định hướng chiến lược tại Đại hội XIV của Đảng phản ánh tầm nhìn sâu sắc của Đảng về an ninh văn hóa và sức mạnh nội sinh của dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nếu báo chí và truyền thông đóng vai trò xung kích, phản ứng nhanh nhạy với dòng chảy thời sự và định hướng dư luận xã hội tức thời, thì xuất bản nắm giữ vị trí "hậu phương" chiến lược, là nơi chắt lọc, tinh tuyển và lưu giữ hệ giá trị tri thức, lý luận bền vững của quốc gia. Khi thông tin số bùng nổ với nhiều nội dung chưa phù hợp, xuất bản đóng vai trò như một "bộ lọc" văn hóa, cung cấp những luận cứ khoa học và các tác phẩm lý luận sắc bén để củng cố, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc đặt xuất bản ngang hàng với báo chí, truyền thông trong mục tiêu "chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại" cho thấy quyết tâm quy hoạch lại hệ thống công cụ tư tưởng, đảm bảo sự liên thông chặt chẽ giữa dòng tin tức thời sự và dòng chảy tri thức chuyên sâu, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách bài bản, khoa học và thuyết phục.
Tính "chuyên nghiệp" trong kỷ nguyên mới, theo tinh thần văn kiện Đại hội XIV, đòi hỏi một cuộc cách mạng thực sự về chất lượng nguồn nhân lực và phương thức quản trị hiện đại. Đối với cả lĩnh vực báo chí, xuất bản và truyền thông, chuyên nghiệp không chỉ dừng lại ở kỹ năng tác nghiệp đa phương tiện hay quy trình sản xuất tối ưu, mà là bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực dẫn dắt thông tin trong môi trường số đầy biến động. Đội ngũ người làm báo, làm sách, làm truyền thông phải thực sự là những chiến sĩ tinh nhuệ trên mặt trận văn hóa, "vừa hồng vừa chuyên", biết ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân tích, dự báo và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng. Hơn thế nữa, chuyên nghiệp hóa còn gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế báo chí, xuất bản, truyền thông lành mạnh, tự chủ tài chính nhưng tuyệt đối không thương mại hóa, đồng thời hình thành các cơ quan báo chí, nhà xuất bản chủ lực có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với các nền tảng xuyên biên giới, giữ vững chủ quyền thông tin quốc gia và định hướng dòng chảy thông tin chủ lưu, tích cực trong đời sống xã hội.
Theo Hương Sen Việt
25/01/2026
🌟🌟 Dệt thêu những "mùa xuân đầy ước vọng"
Trong những ngày này, đi dọc các con phố rực rỡ cờ hoa của Thủ đô Hà Nội, ta dễ dàng bắt gặp những giai điệu hào hùng mà tha thiết vang lên từ các loa phát thanh công cộng: “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng/ Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi/ Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non/ Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời...”. Những ca từ trong bài hát “Đảng đã cho ta một mùa xuân” của nhạc sĩ Phạm Tuyên ngân rung, gợi lên trong lòng mỗi người dân Việt Nam một niềm tin sắt son và một kỳ vọng lớn lao vào sự lãnh đạo của Đảng. Giai điệu ấy như tiếng lòng của cả dân tộc đang dệt thêu thêm những “mùa xuân đầy ước vọng” khi Đại hội XIV của Đảng vừa thành công tốt đẹp.
Không khí những ngày qua thật đặc biệt, từ mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến đến mọi miền xa xôi của Tổ quốc, đâu đâu cũng rợp bóng cờ đỏ sao vàng. Sắc đỏ của lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc hòa quyện với sắc thắm của hoa đào, hoa mai đang độ khai nhụy tạo nên một bức tranh rạng rỡ sức sống.
Khắp nơi, từ công sở đến xóm làng, từ biên cương, hải đảo đến những công trường rộn rã tiếng máy, các hoạt động chào mừng hướng về Đại hội XIV của Đảng diễn ra sôi nổi, như một minh chứng cho sự đồng lòng giữa ý Đảng và lòng dân. Đi giữa trời xuân ấy, cảm giác bình yên và tự hào cứ thế dâng trào trong lồng ngực mỗi người con đất Việt.
Thế hệ chúng tôi, những người may mắn sinh ra và lớn lên trong hòa bình, được hưởng “hoa độc lập, trái tự do” từ những nhọc nhằn của cha ông, mỗi bước chân hôm nay trên đường phố thênh thang là một sự kế thừa từ những dặm dài hành quân không nghỉ của các thế hệ đi trước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, biết bao người con ưu tú đã không tiếc máu xương, hiến dâng cả thanh xuân để đấu tranh cho nền độc lập, thống nhất của dân tộc.
Có lẽ, ai trong mỗi chúng ta đã một lần đến với Nhà tù Hỏa Lò, hay ra với “địa ngục trần gian” Côn Đảo mới thấu cảm được hết sự kiên trung của những người cộng sản. Đứng trước những phòng giam lạnh lẽo, đọc lại những lá thư tay hay những vần thơ sục sôi nhiệt huyết cách mạng được viết bằng máu, ta thấy trái tim mình bùng lên một ngọn lửa tự hào; đến với Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn bạt ngàn mộ trắng, hay về với Thành cổ Quảng Trị-nơi mỗi mét vuông đất đều thấm đẫm máu xương anh hùng... tôi tin chắc rằng sau mỗi chuyến đi ấy, chúng ta sẽ yêu nước Việt Nam mình nhiều hơn và ơn Đảng nhiều hơn. Bởi chính nhờ có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta mới thoát khỏi xiềng xích nô lệ, đánh đuổi thực dân, lật đổ phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước. Chính nhờ những bước ngoặt lịch sử ấy, nhân dân ta đã kiên cường tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ để đưa đất nước hoàn toàn thống nhất.
Hôm nay, đi giữa trời xuân rợp bóng cờ hoa, mỗi chúng ta lại thấy lòng mình bừng sáng khi đón nhận những mục tiêu, khát vọng mà Đại hội XIV của Đảng vừa quyết nghị. Những quyết sách ấy như lời hiệu triệu cho những “mùa xuân đầy ước vọng” của dân tộc, thôi thúc toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân cùng chung sức, đồng lòng hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong khát vọng ấy, thế hệ trẻ hôm nay cần làm gì để dựng xây đất nước? Đó là không ngừng học tập, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ và đem sức trẻ cống hiến ở những nơi gian khó nhất. Những “mùa xuân đầy ước vọng” sẽ hiện hữu trong nụ cười trẻ thơ, trong sự ấm no của mọi gia đình và trong vị thế ngày càng cao của Việt Nam khi chúng ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hương Sen Việt
25/01/2026
25/01/2026
🌟🌟 Niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của văn hóa 🌟🌟
Trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc, việc khẳng định: “Văn hóa và con người: nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển đất nước” mang ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Nội dung này thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức chiến lược, làm rõ hơn vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn có lúc, có nơi, văn hóa mới chỉ được xem là lĩnh vực mang ý nghĩa tinh thần, chưa thật sự được coi là một nguồn lực quan trọng có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính vì vậy, việc Đại hội XIV của Đảng xác định rõ văn hóa là nguồn lực và động lực phát triển thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy, đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững.
Đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, văn hóa là nguồn tài sản vô giá, được hình thành, tích lũy và bồi đắp qua lịch sử. Đó là nguồn vốn con người với hệ giá trị, tri thức, kỹ năng, đạo đức, lối sống; là kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; là sức sáng tạo nghệ thuật phong phú; là hình ảnh, uy tín và bản sắc của dân tộc. Việc nhận diện đúng và khai thác hiệu quả những giá trị ấy hoàn toàn có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế-xã hội.
Thực tế chứng minh, thông qua du lịch văn hóa, các ngành công nghiệp sáng tạo, công nghiệp nội dung số, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, ẩm thực…; nhiều địa phương bước đầu coi di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, không gian văn hóa đặc trưng là tài sản để phát triển, vừa bảo tồn giá trị, vừa tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Nguồn lực văn hóa thể hiện rõ nhất ở con người. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, lợi thế quyết định không còn nằm ở tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ, mà ở chất lượng nguồn nhân lực, ở tinh thần sáng tạo, kỷ luật, trách nhiệm và khả năng thích ứng linh hoạt. Những phẩm chất ấy không thể hình thành nếu thiếu một nền tảng văn hóa lành mạnh, tiến bộ và nhân văn.
Không chỉ được xác định là nguồn lực, văn hóa còn được Đại hội XIV nhấn mạnh là động lực phát triển đất nước. Cách tiếp cận này khẳng định vai trò chủ động, dẫn dắt của văn hóa đối với quá trình phát triển. Thông qua hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, văn hóa tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ cho mỗi cá nhân và cho cả cộng đồng.
Lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, nhân ái, khát vọng vươn lên chính là những động lực nội sinh đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua nhiều thử thách lịch sử, đồng thời tiếp tục là điểm tựa tinh thần quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Văn hóa với tư cách là động lực còn thể hiện ở khả năng định hướng sự phát triển. Một nền văn hóa đề cao liêm chính, thượng tôn pháp luật, sáng tạo và cống hiến sẽ góp phần thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, xây dựng môi trường phát triển lành mạnh và minh bạch.
Ngược lại, nếu xem nhẹ văn hóa, thờ ơ trước những biểu hiện lệch chuẩn, sự phát triển kinh tế dù đạt tốc độ cao cũng khó bền vững. Vì vậy, việc đặt văn hóa vào vị trí động lực phát triển cũng chính là khẳng định quan điểm phát triển toàn diện, hài hòa, lấy con người làm trung tâm.
Chính ở sự kết hợp giữa “nguồn lực” và “động lực”, có thể thấy rõ tính đột phá về tư duy trong quan điểm phát triển văn hóa của Đảng ta, coi văn hóa là một trụ cột phát triển, có mối quan hệ hữu cơ với kinh tế và chính trị, trên cơ sở đó chủ động khơi thông các nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp và đội ngũ sáng tạo.
Tuy nhiên, tư duy đột phá chỉ thật sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng cơ chế, chính sách đồng bộ và bằng hành động quyết liệt trong thực tiễn. Do đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý và đầu tư cho văn hóa; tạo môi trường thuận lợi để văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống; phát triển kinh tế gắn chặt với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Cùng với Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam mới được ban hành, việc Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh và làm rõ vai trò của văn hóa như một nguồn lực và động lực phát triển thể hiện tầm nhìn dài hạn và niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của văn hóa và con người Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy sức mạnh nội sinh, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới.
Theo Báo Nhân dân
25/01/2026
🔥🔥 Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc Nghị quyết về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo 🔥🔥
Ngày 22/8/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW); Nghị quyết này là cột mốc chiến lược, tạo đột phá về tư duy và thể chế cho giáo dục Việt Nam.
Đây là Nghị quyết tiếp nối và bổ sung mạnh mẽ cho 04 Nghị quyết đột phá là “Bộ tứ trụ cột”, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mũi đột phá để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm nhằm xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Thế nhưng, các thế lực thù địch đã lập tức xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo. Chúng cho rằng: “Việc tự chủ đại học ở Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã ảnh hưởng đến giáo dục đa nguyên, tự do, khai phóng”; “Giáo dục chạy theo thành tích, bỏ quên đạo đức”, “chưa giải quyết những vấn đề còn tồn đọng là học phí tăng, phân biệt đối xử, bạo lực học đường”…
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta đang diễn ra trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế diễn ra toàn diện và sâu rộng trên toàn cầu; đòi hỏi đất nước phải phát triển nhanh và bền vững nhằm thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đảng ta đã đặt ra. Trong bối cảnh đó, đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ nhân tài đã trở thành yêu cầu tất yếu, cấp bách, khách quan.
Thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển giáo dục, đào tạo; tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, việc triển khai thực hiện trong thực tế gặp nhiều vướng mắc, cần điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới. Từ tình hình trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư mà trực tiếp là Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tập trung xây dựng và ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, trong đó đề ra những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn để khai thông điểm nghẽn, tạo đột phá phát triển, hiện đại hóa, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, hướng tới thực hiện thành công 2 mục tiêu chiến lược 100 năm.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, khoa học công nghệ và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; giáo dục và đào tạo càng phải giữ vững vị trí quốc sách hàng đầu, trở thành động lực then chốt để phát triển đất nước, Nghị quyết 71-NQ/TW ra đời đã kế thừa Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế và Kết luận 91-KL/TW của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW; là cơ sở pháp lý để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong giáo dục và đào tạo; thể hiện đột phá về tư duy, nhận thức và quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ thể chế trong lĩnh vực này ở nước ta.
So với Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW chuyển trọng tâm từ “đổi mới căn bản, toàn diện” sang “đột phá chiến lược” trong giáo dục. Tinh thần này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, đó là coi giáo dục và đào tạo là trọng tâm của Chiến lược phát triển quốc gia trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập sâu rộng. Nghị quyết 71-NQ/TW mở rộng không gian phát triển giáo dục ra ngoài phạm vi nhà trường, kết nối chặt chẽ với khoa học, công nghệ, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
Điểm mới trong Nghị quyết là sự cân bằng giữa giáo dục đại chúng và giáo dục tinh hoa, nhấn mạnh giáo dục toàn diện: đức – trí – thể – mỹ; lấy giá trị con người làm nền tảng. Thành tích chỉ là thước đo một phần, điều cốt yếu là đào tạo những công dân có tài và có đức. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng: Giáo dục vừa phải bảo đảm công bằng xã hội, vừa tạo môi trường cho những cá nhân tài năng phát triển. Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo thu hút được mọi nguồn lực cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và sự tăng trưởng của nhà trường, hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế.
Nghị quyết 71-NQ/TW là văn bản mang tính định hướng, tạo vận hội lịch sử cho giáo dục Việt Nam, đã khẳng định bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Đó cũng là mong mỏi của các cơ sở giáo dục đại học. Nghị quyết cũng thay đổi căn bản tư duy đầu tư tài chính cho giáo dục đại học tới tầm và vượt trội; thiết thực chăm lo cho đội ngũ giảng viên và hỗ trợ tài chính và tạo cơ hội học tập cho mọi người chứ không phải là: “Việc tự chủ đại học ở Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã ảnh hưởng đến giáo dục đa nguyên, tự do, khai phóng” như kẻ địch đã rêu rao.
Điểm nhấn khác biệt từ Nghị quyết 71-NQ/TW là chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là minh chứng rõ ràng rằng Nghị quyết không chỉ hướng đến “đỉnh cao” hội nhập, mà còn chăm lo cho giáo dục từ gốc rễ, bảo đảm công bằng và khích lệ đội ngũ nhà giáo. Nghị quyết quy định chi ngân sách cho giáo dục đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách Nhà nước, có cơ chế học bổng, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ học sinh nghèo, đây là sự bảo đảm công bằng trên hành trình tiếp nhận tri thức.
Có thể khẳng định, Nghị quyết 71-NQ/TW đã trở thành “khoán 10” trong ngành Giáo dục, đem lại những phát triển mạnh mẽ và đột phá cho nền giáo dục đào tạo của nước ta, là cơ sở hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới, thể hiện tư duy chiến lược và khát vọng phát triển giáo dục nước ta lên một tầm cao mới.
Những thành tựu giáo dục, đào tạo của đất nước trong những năm qua là không thể phủ nhận. Và Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ mở ra giai đoạn mới, nâng tầm, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đào tạo, để phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Thực tế đó bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc cũ rích, “cố đấm ăn xôi” và “thọc gậy bánh xe” của các thế lực thù địch chống phá con đường phát triển của Việt Nam.
Nguồn: Hương Sen Việt
25/01/2026
🇻🇳🇻🇳 Đại hội XIV của Đảng: Việt Nam khẳng định kỷ nguyên phát triển tự cường 🇻🇳🇻🇳
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam kiên định với thể chế dân chủ do nhân dân làm chủ, quyền lực của nhân dân, đảm bảo quyền và lợi ích phát triển của người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện có ý nghĩa trọng đại trên con đường phát triển của đất nước Việt Nam, hướng tới một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển theo phương châm “tự lực, tự tin, tự cường và tự hào dân tộc.”
Đó là nhận định của Thạc sỹ Uch Leang, quyền Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Á-Phi và Trung Đông, Viện Quan hệ quốc tế Campuchia (IRIC), Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia (RAC), đồng thời là Chủ tịch Hội cựu sinh viên Campuchia học tại Việt Nam (CAVA) trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Phnom Penh.
Thạc sỹ Uch Leang nhấn mạnh Đại hội XIV đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình.
Khẳng định đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là cơ hội lớn cả dân tộc Việt Nam, chuyên gia người Campuchia nêu rõ: “Đại hội lần này được xem là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng trên con đường phát triển của đất nước Việt Nam, hướng tới một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển theo phương châm ‘tự lực, tự tin, tự cường và tự hào dân tộc."
Chủ tịch CAVA Uch Leang cho biết Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, bất ổn và khó lường. Sau 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới từ Đại hội VI năm 1986 đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một nền tảng chính trị - kinh tế vững chắc, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế được nâng lên một tầm cao mới.
Do đó, Đại hội lần này có nhiệm vụ xác định tầm nhìn, đưa ra những quyết sách quan trọng để Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Theo người đứng đầu CAVA, các dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận được gần 14 triệu lượt ý kiến đóng góp từ nhân dân và công chúng Việt Nam nói chung, trong đó có hơn 1.300 ý kiến từ cộng đồng người Việt Nam trên khắp thế giới. Điều đó cho thấy sự thống nhất giữa ý đảng và lòng dân, trong việc kiên định theo đuổi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa kiểu Việt Nam.
Bên cạnh đó, dự thảo văn kiện Đại hội XIV cũng ghi nhận sự bổ sung lý luận về đường lối đổi mới, trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông nhấn mạnh: “Điều đó cho thấy lý luận về đường lối đổi mới là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.”
Qua nghiên cứu văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, Thạc sỹ Uch Leang đánh giá dự thảo văn kiện Đại hội lần này đã xác định rõ mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Việt Nam, dựa trên ba trụ cột cơ bản, theo phương châm gắn với các phạm trù về “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chuyên gia RAC nêu quan điểm: “Đây là sự kết hợp sáng tạo giữa lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn Việt Nam. Việt Nam đã xây dựng một mô hình phát triển kinh tế tích hợp, trong đó cơ chế kinh tế thị trường hiện đại vận hành theo quy luật cung cầu và cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự điều hành, quản lý của nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo.”
Từ góc tiếp cận đó, chuyên gia Uch Leang nhận định mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kiểu Việt Nam vừa giúp nền kinh tế đất nước phát triển nhanh và bền vững, vừa đảm bảo công bằng xã hội, người dân có cuộc sống khá giả, đất nước vững mạnh, kiên định với mục tiêu phát triển công bằng, dân chủ, văn minh.
Thông qua mô hình phát triển này, Việt Nam đã khắc họa hình ảnh về một đất nước thực sự thuộc về nhân dân, mọi quyền lực nhà nước được trao cho nhân dân thông qua các thể chế đại diện, được đảm bảo bởi đạo luật tối cao là Hiến pháp.
Thạc sỹ Uch Leang nêu rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam kiên định với thể chế dân chủ do nhân dân làm chủ, quyền lực của nhân dân, đảm bảo quyền và lợi ích phát triển của người dân.”
Trên tinh thần đó, văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “bảo vệ môi trường” cùng với phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ “trung tâm”, trong khi vai trò của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được đặt ngang hàng với lĩnh vực quốc phòng và an ninh, trở thành những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Theo chuyên gia Uch Leang, quan điểm này cũng xác định “thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng.”
Qua đó, 3 đột phá chiến lược của nhiệm kỳ trước đã được tái cấu trúc phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế để phát triển nhanh và bền vững, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đầu tư phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số, năng lượng và đô thị xanh.
Chứng minh cho nhận định của mình về đường hướng và triển vọng phát triển của quốc gia láng giềng, ông Uch Leang dẫn số thống kê cho biết trong vài năm trở lại đây, Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á với mức tăng trưởng đạt 5,05% trong năm 2023 và 7,09% trong năm 2024.
Riêng trong năm 2025 vừa qua, kinh tế Việt Nam đã bức tốc mạnh mẽ với mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 8,02%.
Lưu ý có nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành kịp thời nhằm thúc đẩy kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng tốc trong năm 2026, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, đạt từ 10% trở lên, Thạc sĩ Uch Leang tiếp tục dẫn phân tích của một số cơ quan truyền thông nước ngoài dự báo nếu kinh tế vẫn duy trì đà tăng trưởng bình thường, trong năm 2026 và 2027, Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trong ASEAN, sau Indonesia.
Từ góc nhìn trên, Thạc sỹ Uch Leang nhận định hành trình 4 thập kỷ qua cho thấy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam không thể thiếu sự hỗ trợ, dẫn dắt của nhân tố và vai trò lãnh đạo chính trị, cụ thể là việc hoạch định sách lược, chủ trương, đường lối và định hướng phát triển mang tầm quốc gia của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ từ Đại hội VI năm 1986 đến nay.
Ông nhấn mạnh: “Đặc biệt, những quyết sách đó được cân nhắc, xem xét, quyết định trên cơ sở tích hợp, tổng hòa giữa lý luận và thực tiễn Việt Nam.”./.
(TTXVN/Vietnam+)