PHÁI TÂY SƠN

PHÁI TÂY SƠN

Share

19/07/2017

Tây Sơn - Bình Định là một địa danh võ thuật. Nơi đây cũng là nơi phát tích của nhà Tây Sơn mà lịch sử đã ghi dấu ấn những chiến công hiển hách của Hoàng đế Quang Trung với một đội quân được luyện tập nhuần nhuyễn về võ thuật. Câu ca dao đầy khí phách của đất Bình Định vẫn còn lưu truyền, cho thấy võ Tây Sơn - Bình Định mang dáng dấp của võ cổ truyền dân tộc: Ai vô Bình Định mà coi/Con gái Bình Định múa roi đi quyền.
* Phát tích của võ thuật
Võ thuật là bản năng sinh tồn của nhân loại. Lúc đầu lập quốc, tổ tiên ta đã phải chống chọi với biết bao sự vật đổi sao dời của thiên nhiên, cùng nguy hiểm do bầy ác thú gây ra. Có một rẻo đồng bằng ven biển chật hẹp, ba bề núi chắn, con người dân không lúc nào không dùng võ thuật chiến đấu với ác thú, với ngoại xâm để sinh tồn. Như vậy, gọi võ thuật là bản năng, là lợi khí sinh tồn của nhân loại không phải là không đúng! Ba anh em nhà Tây Sơn thời đó được gửi học võ tại võ đường của một bậc trượng phu - võ sư Trương Văn Hiến. Ông dạy cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm võ. Người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Văn võ phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững. Vị sư phụ họ Trương dẫn dắt trai tráng đến đất võ bằng đường văn! Trong dân gian, từng gia đình có sự truyền thụ rất công phu để cháu con lên rừng, ra rẫy không e ngại muông thú, có việc đi đường xa không sợ đạo tặc. Giỏi võ trước hết là để giữ mình, để làm người trượng phu, không làm kẻ giặc bạo tàn! Do đó, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là những quy pháp trong võ thuật.
Võ Bình Định ra đời rất sớm, quy tụ những võ sư tài giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái, sáng tạo những bài quyền, bài kiếm, bài roi độc đáo... Những làng võ một thời như Thuận Truyền, An Thái, An Nghi, Bình Nghi của đất Tuy Viễn, Bình Khê; những bậc thầy như võ sư Hồ Ngạnh, Hà Trọng Sơn... đã rèn luyện nên nhiều thế hệ học trò hiện vẫn kế tục và phát triển võ nghiệp. Ngày nay nếu về thăm Tây Sơn gặp cụ Phan Thọ tuổi ngoại 70 và có dịp xem cụ biểu diễn bài "Trường đao hiệp nghĩa" mới cảm nhận được phút giây như sóng dâng bão cuốn, gió mây vần vũ mà bài võ thể hiện!
* Đặc điểm của võ Tây Sơn
Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đã tiếp thu tinh hoa độc đáo của các dòng võ khác nhau để xây dựng dòng võ Tây Sơn với những đặc điểm riêng.
Tính dân tộc: Trong các chiến công của Hoàng đế Quang Trung, người ta nhận thấy võ thuật và binh pháp giữ vai trò rất quan trọng. Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc. Ra đòn nhanh, biến hóa khôn lường, lấy thủ làm công, lấy công giữ thủ song toàn, hư thật bất phân, khéo léo trăm bề, tư thế nghìn nẻo, làm cho đối phương rất khó chống đỡ. Ông Nguyễn Lữ, em Nguyễn Huệ, đã làm cho võ thuật Việt Nam trở thành một trường phái độc đáo không kém võ Trung Quốc. Người Việt ta có thân hình bé nhỏ, sức khỏe hạn chế so với người Tàu. Võ Trung Quốc phải luyện từ 10 năm trở lên. Muốn cho các chiến sĩ Tây Sơn tinh thông võ nghệ trong một thời gian ngắn thì phải luyện theo cách khác. Nguyễn Lữ nghiên cứu các thế gà đá nhau áp dụng vào võ thuật, từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh, dùng mềm thắng cứng. Ông cũng nghiên cứu các thế đá ào ạt tấn công của con gà lớn với cái thế chống đỡ của con gà nhỏ thường chui luồn, xỏ vỉa, từ đó tạo ra các thế lặn hụp, tránh né, đến phản công. Cuối cùng ông đã sáng tạo ra bài quyền mang tên "Hùng Kê Quyền". Nữ tướng Bùi Thị Xuân khi quan sát đôi chim đậu trên cành cây đùa nhau cũng sáng tác bài "Song Phượng Kiếm".
Tính truyền thống: Trước đây người dân Bình Định đều biết võ để tự vệ. Họ truyền cho nhau trong thôn xóm, bản làng. Với người thân thì cha truyền cho con, chồng truyền cho vợ, anh truyền cho em... Nhờ đó, những bài võ từ thời xa xưa vẫn được lưu truyền. Võ Bình Định đã có nhiều môn phái khác nhau, nhưng tựu trung vẫn giữ truyền thống của miền đất võ. Cách đây hơn sáu năm, đoàn võ thuật Bình Định gồm Kim Dũng, Đinh Tuấn, Văn Cảnh... nhiều lần sang Pháp giảng dạy theo lời mời của Liên đoàn Võ thuật Paris, Marseille, Orion và nhiều địa phương khác, đã để lại niềm tự hào cho những người đồng hương sống trên đất khách quê người. Các nữ võ sĩ thuộc Câu lạc bộ Võ thuật Paris rất thích thú, thán phục bài thảo "Ngọc trản" đầy biến hóa, mềm mại như điệu múa khi sử dụng nhu công và hài hòa như một bức tranh khi cương nhu phối hợp. Bài thảo được trình diễn một cách hoàn hảo về nghệ thuật, về sức mạnh, thể hiện nét đẹp vốn có của võ Tây Sơn - Bình Định. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ võ đạo xưa. Những điều nên làm, nên tránh đối với các môn sinh vẫn giữ nguyên và ba điều tâm niệm chính là: Kính tổ - Trọng thầy - Mến bạn.
Tính đa dạng và liên hoàn: Võ Tây Sơn - Bình Định rất đa dạng và phong phú. Bất cứ môn phái nào cũng theo bí quyết quyền thuật, một sức mạnh tổng hợp, dung hòa trên, dưới, trái, phải, trước, sau. Phép dùng liên quan với nhau của lực họp chia ra nội tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên trong là tinh, khí, thần. Ngoại tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên ngoài là thủ, nhãn, thân. Trong ngoài hợp với nhau đó là lục hợp. Có được như vậy mới đủ khả năng thắng địch thủ. Tính liên hoàn rõ nét trong việc sử dụng 18 ban binh khí, chia ra 9 loại võ khí dài và 9 loại võ khí ngắn. Dù bất cứ loại võ khí nào cũng đều không ra ngoài 6 điểm: chém xuống, chém ngang, hất lên, gạt xuống, lướt qua và đè. Từ khi nhà Tây Sơn sập đổ, Nguyễn Gia Long vẫn sợ "oai hùm" nên cấm ngặt toàn bộ 18 ban binh khí của quân đội Tây Sơn - những vũ khí lợi hại làm nên sự bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung ở thế kỷ 18. Mãi đến khi Bảo tàng Quang Trung được thành lập năm 1979 mới thu gom được 9 môn. Hiện nay các võ sinh ở Bảo tàng Quang Trung thường biểu diễn khi khách trong và ngoài nước đến tham quan.
* Sự liên quan giữa võ Tây Sơn và võ Bình Định
Trước thời Tây Sơn, ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ. Những người này có thể là tướng sĩ theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, cũng có thể là những người Trung Quốc sang Việt Nam trú ngụ tại vùng Quy Nhơn, An Nhơn. Người Bình Định vốn ưa học võ, đã học thầy, học bạn, rồi dung hòa cải tiến dần. Theo cụ Hồ Ngạnh, ba anh em Tây Sơn cũng học võ như mọi người, nhưng nhờ óc phán đoán, thiên tư võ thuật, nghiên cứu tinh thâm, đã gạn lọc được những tinh hoa võ thuật, hệ thống lại và tạo thành phái võ riêng. Công trình này cũng có sự đóng góp của nhiều tướng lĩnh Tây Sơn. Sau đó, võ Tây Sơn được phổ biến hạn chế trong quân đội. Những người này nắm được một số chân truyền của môn phái rồi truyền dạy lại cho con cháu, học trò. Lại pha trộn thêm võ Bình Định, hoặc cải cách ít nhiều để tránh sự nhòm ngó của triều Nguyễn. Cũng theo cụ Hồ Ngạnh, võ Tây Sơn, võ Bình Định đều là võ dân tộc Việt Nam. Môn phái nào cũng hay. Tuy nhiên có vài đặc điểm khác nhau là võ Tây Sơn có cơ sở về võ lý được biến đổi qua các dòng họ, được chân truyền của môn phái; còn võ Bình Định được truyền dạy tương đối tùy tiện, thêm bớt, sửa đổi những điều mình đã học để dạy lại cho học trò. Lâu dần, võ Bình Định chuyên về cương công - công phu cứng rắn, xa dần nhu công - công phu mềm dẻo. Võ Bình Định thích hợp với người có thể chất khỏe mạnh, nên mới có câu "Võ dĩ dũng vi bán" - võ lấy sức mạnh làm một nửa, những người ốm yếu khó học được. Ngược lại, võ Tây Sơn chú trọng cả cương lẫn nhu. Càng luyện tập, võ sĩ thuộc phái Tây Sơn càng mềm dẻo, nhưng càng lợi hại. Võ Bình Định chuyên về ngoại công - công phu luyện tập bằng chân tay, võ khí, ít chú trọng về nội công, hít thở, vận khí như võ Tây Sơn.

19/07/2017

Khi nói về võ thuật, cố võ sư Hồ Ngạnh đã khái quát như sau: “Võ thuật là bản năng tranh tồn của nhân loại và động vật khác. Lúc sơ sinh, nhân loại không dài bằng rồng rắn, mạnh không bằng cọp beo, như vậy mà nhân loại có thể chiếm cứ cả vùng đồng bằng to rộng, ngày cày cấy ngoài đồng, đêm nghỉ ngơi trong nhà. Ban đầu đều nhờ vào sự tiến hóa của võ thuật mới có thể đuổi rồng rắn chạy ra biển, đuổi cọp beo vào rừng sâu. Cuối cùng đến nguyên lý kẻ giỏi thắng, kẻ yếu thua. Phía bắc cự quân Hán, quân Đường, phía Nam thắng Chiêm Thành, Chân Lạp, mới có được nước Việt ta ngày nay” theo ông quyền thuật trường phái nào cũng chỉ gói gọn trong 10 chữ:
1. Thủ (tay) 6. Thức (hiểu biết)
2. Nhãn (mặt) 7. Đảm (lòng gan dạ)
3. Thân (thân thể) 8. Khí (hơi thở, khí thế)
4. Yêu (lương) 9. Kích (sức mạnh nội thể)
5. Bộ (bước) 10.Thần (tinh thần)
Ở đất nước ta ít có nơi nào mà mỗi khi nhắc đến vùng đất ấy bất cứ ai đều cảm thấy nể phục, có lẽ đó là Bình Định, một vùng đất có truyền thống võ nghệ lâu đời, truyền thống ấy đã đi vào ca dao: “Ai về Bình Định mà coi/Con gái Bình Định cầm roi đi quyền”[1]. Nhưng người ta không thể cắt nghĩa được võ Bình Định và võ Tây Sơn có cái gì chung và có cái gì riêng, rất nhiều người cho rằng võ Bình Định là võ Tây Sơn. Thực chất nó là gì? Về lịch sử thì vùng đất Bình Định đã hình thành từ rất sớm trước khi có phong trào Tây Sơn nổ ra, cho nên có thể hiểu trước khi có võ Tây Sơn, Bình Định đã hình thành các trường phái võ rồi, võ sư Hồ Ngạnh thật có lý khi cho rằng trước khi có phong trào Tây Sơn ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ như chú Lía chẳng hạn. Anh em Tây Sơn sinh trưởng ở Bình Định không có thể sinh ra, lớn lên là biết võ ngay, không học hỏi ở một võ sư nào?
Ngày nay chúng ta chưa biết rõ ai là thầy dạy võ cho anh em Tây Sơn nhưng chắc chắn trước thời Tây Sơn ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ. Những người này là ai? có thể là những tướng sĩ theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, có thể là những người Trung Quốc sang Việt Nam, trú ngụ ở vùng Quy Nhơn cũ. Do điều kiện lịch sử của vùng đất này cho nên bản tính người Bình Định rất ưa học võ, họ tìm thầy để học, học bạn, học người trong nước, người ngoài nước, dung hòa, chế biến lâu dần mất cả bản lai diện mục. Phong trào Tây Sơn đã có công bồi dưỡng, khích lệ nên võ thuật Bình Định.
Võ Tây Sơn và võ Bình Định có gì khác nhau ? Theo võ sư Hồ Ngạnh thì võ Tây Sơn có cơ sở về võ lý thường được bảo tồn qua các dòng họ, được chân truyền qua môn phái không truyền rộng ra người ngoài dòng họ, bởi sợ bọn vua quan nhà Nguyễn dòm ngó, trừng trị dưới thời phong kiến nhà Nguyễn. Võ Bình Định tương đối được truyền dạy rộng rãi trong nhân dân hơn, mỗi thầy dạy tùy tiện thêm bớt, sửa đổi những điều mình đã học để dạy cho học trò của mình. Lâu dần võ Bình Định chuyên về cương công (công phu cứng rắn) mà xa dần nhu công (công phu mềm dẻo).
Võ Bình Định thích hợp với những người có thể chất khỏe mạnh nên mới có câu “võ di dũng vi báu” (võ lấy sức mạnh làm một nửa). Những người yếu ốm khó học được khi bắt đầu tập những môn nặng nề, đòi hỏi nhiều sức lực, công phu. Ngược lại, võ Tây Sơn chú trọng cả cương lẫn nhu “Trong cương có nhu, trong nhu có cương” (cương trung hữu nhu, như trung hữu cương). Càng luyện tập, võ sĩ thuộc phái Tây Sơn càng mềm dẻo, nhưng lại càng lợi hại. Võ Bình Định chuyên võ ngoại công (công phu luyện tập bằng tay chân, võ khí) ít chú trọng về nội công (hít thở vận khí) như võ Tây Sơn, tuy có sự sai khác nhưng lại có liên quan với nhau. Ba anh em Tây Sơn cũng học võ như mọi người nhưng nhờ óc phán đoán, thiên cư võ thuật, nghiên cứu tinh thâm, đã gạn lọc những tinh hoa võ thuật, hệ thống hóa lại và đặt ra thành một hệ thống võ phái riêng.Dĩ nhiên công trình này còn có lẽ còn có sự đóng góp của nhiều người nữa như các tướng lãnh Tây Sơn,những người dòng dõi Tây Sơn.Thêm vào đó là những sáng tạo của họ.Đó là việc làm”Khứ vu tồn thanh”(bỏ cái rườm rà chọn cái tinh túy) của những người có công sáng lập phái võ Tây Sơn. Theo giới nghiên cứu, võ Tây Sơn chủ yếu được phổ biến trong đội quân của mình. Những người của trường phái Tây Sơn nắm được một số chân truyền của môn phái, truyền dạy lại cho con cháu, học trò, lại pha trộn thêm với võ Bình Định để bổ sung cho môn phái của mình.Vì thế, không thể nói nói một cách võ đoán rằng võ Bình Định không liên quan gì đến võ Tây Sơn và ngược lại.
Hiện nay, chúng ta đang cố gắng phục hồi các làng võ cổ truyền của Bình Định, nhưng trong một thực tế hiện hữu là “Dục vấn tiền triều vô cố lão” (Muốn hỏi chuyện xưa mà không các bậc cố lão” nếu không có một chiến lược cụ thể sự thất truyền là không tránh khỏi.
CA QUYẾT TRONG MÔN PHÁI VÕ TÂY SƠN
Môn quyền thuật tinh thâm ảo diệu
Lúc lâm trường phải liệu làm sao?
Tay vung chân đá thế nào
Tấn công như thể ào ào cuồng phong .
Tập ngũ hành phải tập cho ròng
Ngọn kim,ngọn hỏa nằm lòng mới thôi
Nhảy cao, đá lẹ, té ngồi,
Bảy công, ba thủ tập rồi hay chưa?
Mây bộ trụ thật khó chẳng vừa
Trung bình,đinh tấn phải thừa công phu.
Tập ròng như vậy ba thu,
Mới sang học thảo rồi tu tập hoài
Tứ môn,tứ diện chẳng sai
Ngân đài, ngọc trản nhớ hai chữ này.
Đoàn đánh ra giống tựa mây bay
Chân đạp tới trông tày lưu tinh.
Đánh rộng, đánh hẹp tùy mình
Thế lùa,thế điếm cho minh mới là.
Làm con trai trong lúc xông pha
Phải chiến thắng tỏ ra anh hào.
Dù gặp quân hung hãn đừng lo
Nghe cao,đảm đại đều do ở mình.
Khuyên ai luyện võ cho tinh
Giữ thân, giữ nước công trình ngàn thu.
(theo võ sư Hồ Ngạnh )
TS.Đinh Bá Hòa
([1]) Một số người giải thích là bỏ roi đi quyền, chứ cầm roi đi quyền thì làm sao trong một lúc có thể làm được hai động tác được; nhưng khi gặp một võ sư giải thích đó là cách giải thích chưa đúng, đó không phải không phải là một động tác mà muốn nói con gái Bình Định thời đó giỏi cả hai môn roi (côn) và quyền (tay) đều giỏi, vừa múa côn được và vừa biểu diễn quyền cước được, tôi cho cách giải thích này có lý hơn.

19/07/2017

Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.
Hơn thế nữa, võ đạo trong võ cổ truyền Bình Định được hun đúc qua bao đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được thể hiện khá rõ nét, cụ thể:
1. Truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm
Mỗi con người chúng ta đều gắn liền với quê hương, xứ sở, luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, xứ sở mình, và đều mang trong mình dòng máu của cha ông, của dân tộc.
Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, thì mọi người già trẻ trai gái đều hăng hái tập luyện võ nghệ, sử dụng các loại binh khí, các miếng võ bí truyền và ai có súng dùng súng, ai không có súng thì gươm, giáo, mác, gậy, gộc, đồng lòng chung sức nhất tề đánh đuổi quân thù và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, nhưng khi quân thù bại trận thì dân ta rất mực khoan hồng, độ lượng, hành sự đúng mực trượng phu.
Truyền thống đó được hun đúc qua 4000 năm lịch sử đấu tranh oanh liệt, chống ngoại xâm, chống bất công, áp bức, cường quyền, cùng nhau chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết xây dựng cuộc sống và bảo tồn giống nòi Lạc Việt.
Từ đó, cho dù ở phương trời nào, chúng ta cũng nhớ về cội nguồn, tổ tiên, luôn tự hào về các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, giữ nước, đánh đuổi quân thù, thu phục giang sơn về một mối, trong đó có các võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống võ hào hùng của dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn.
2. Truyền thống uống nước nhớ nguồn
Dân tộc ta có truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Nhắc lại chuyện xưa: khi Nguyển Ánh lên ngôi, đã hủy diệt toàn bộ thành quả của nhà Tây Sơn, trong đó có sự nghiệp võ học lẫy lừng của nhà Tây Sơn, nhưng người dân Bình Định, nhất là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhân sĩ, trí thức, các võ sư, võ sĩ, đã một lòng một dạ trung thành với những di sản và tinh hoa võ học chân truyền của nhà Tây Sơn, vẫn tôn thờ vị hoàng đế Quang Trung. Nhiều người khi được dụ hàng để được hưởng ân sủng, chức tước, bổng lộc của nhà Nguyễn, đều từ chối và quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời sau.
Nhiều nhà thi đỗ tiến sĩ, cử nhân võ nhưng không ra làm quan mà vẫn trung thành với "chủ cũ" đã tìm mọi cách để tập hợp tư liệu, biên soạn lại sách, giáo trình, các bài thiệu, các bài thuốc võ, bí mật truyền bá, lưu truyền cho các thế hệ mai sau, khỏi mất gốc, nhờ vậy, mà võ cổ truyền Bình Định không bị mai một, bế tắc mà còn ăn sâu bén rễ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định.
Người Bình Định, từ người có võ công cao cường, đến người hiểu biết võ nghệ chút ít đều luôn một lòng tôn kính giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng võ cổ truyền Bình Định, ra sức truyền bá và bảo tồn võ đạo, võ lý, võ y, võ thuật, võ nhạc và những tinh hoa độc đáo của tổ tiên, tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.
3. Truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa
Đây là truyền thống cực kỳ quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân "đất võ". Trong lĩnh vực võ học, người học võ trước tiên phải là người có bản lĩnh, luôn lấy tâm đạo để chế ngự tà đạo, phải có cốt cách diện mạo của con nhà võ. "Tâm đạo" là nói đến tu luyện tư duy đạo đức làm người, sống phải cao thượng, trung với nước, hiếu với dân. Trung thực với môn phái, truyền dạy những điều hay, việc nghĩa. Một võ sĩ chân chính là một công dân tốt. Còn "Tà đạo" là sự đam mê tửu sắc, dâm ô trụy lạc, rượu chè say sưa, gây lộn đánh người, phá rối xã hội, bất chấp kỷ cương phép nước. Đây là những điều cấm kỵ đối với môn sinh học võ cổ truyền Bình Định. Ngoài ra, người võ sĩ đạo còn phải được truyền thụ thuần thục về tâm pháp và thực hiện nghiêm túc những điều cần làm và cấm làm:
- Phải giữ gìn bản thân luôn trong sáng, thuần khiết.
- Phải chuyên cần tập luyện võ công suốt đời và trung thành với môn phái.
- Phải phát huy và truyền dạy võ công của môn phái theo "chính đạo".
- Không phản thầy, hại bạn, hà hiếp người khác.
- Không khoe mình, chê người.
- Không có tư tưởng thắng thì làm "vua", thua thì làm "giặc".
Khi thâu nhận võ sinh, người thầy bao giờ cũng chú trọng tướng diện, cử chỉ, lời nói, cung cách xử sự, nhân thân, lai lịch của người học trò để truyền dạy hay từ chối không truyền dạy, hoặc chỉ truyền dạy một ít thảo thức thông thường (ngay cả người thân trong dòng họ cũng vậy). Sau khi được thử thách để tuyển chọn, môn sinh phải lễ cúng tổ và được thử thách về sức chịu đựng, sự kiên trì, gan dạ, về đạo đức, tư cách, về sự trung thành với môn phái, tuân thủ môn quy, đặc biệt là sự tôn sư trọng đạo. Lễ cúng tổ được tổ chức trang nghiêm và theo nghi thức võ cổ truyền Bình Định, người thầy đứng lên đọc văn tế ông Tổ nghề võ. Sau khi cúng Tổ, đệ tử làm lễ khởi động tay chân...
Người xưa thường nói: "Đệ tử tầm Sư dị, Sư tầm đệ tử nan" - người muốn học võ, nghe thầy giỏi tìm đến không khó; thầy muốn truyền dạy võ thuật cho đệ tử không phải dễ, bởi lẽ thầy phải "chọn mặt gửi vàng", phải chọn người có đạo đức trong sáng, hành động đúng mực trượng phu.
Mỗi bài tập đều có phần "lễ Tổ" và "bái Tổ". Bái Tổ chính là thể hiện sự tôn kính tổ tiên, môn phái, kính thầy, yêu quý đồng môn. Những người giỏi võ cuộc sống thường rất bình dị, tài võ nghệ chỉ tiềm ẩn bên trong con người giàu lòng vị tha, khiêm tốn, ít khi lộ diện ra bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có các đức tính như: Tín-Nghĩa-Hiệp-Dũng, đây chính là tinh thần và mục đích của người võ sĩ đạo chân chính. Chữ "Tín" ở đây muốn nói lên từ cái tâm của con nhà võ, lời nói phải đi đôi với hành động, không đem võ ra "bán" theo dạng võ Sơn Đông. Không hại người, không ỷ mạnh hiếp yếu, luôn bảo tồn võ đạo, uy tín môn đồ, mọi việc đều xử sự một cách trong sáng, chính nghĩa, không làm điều phi nghĩa, thất nhân, thất đức - đó là "nghĩa". Còn "hiệp", "dũng" là những đức tính không thể thiếu được của con nhà võ, luôn sẵn sàng diệt gian, trừ ác, thấy sự bất bình không khoanh tay đứng nhìn.
Hay nói cách khác, ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo, không đánh người "dưới ngựa" hoặc truy thù đến cùng, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.
Nói tóm lại, võ đạo chính là đạo đức trong sáng, đức tính cao cả, tâm hồn hỷ xả của con người có võ, người có võ mà thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một tai họa không thể lường hết được và sự nguy hại không những cho bản thân, gia đình mà cho cả xã hội nữa.
Chính vì vậy mà võ cổ truyền Bình Định luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp chấn hưng nền võ học chân truyền, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

19/07/2017

Người xưa nói rằng: Học võ không phải để biết bài quyền, ngọn roi, thế đá là đủ, mà mục đích của học võ là nắm vững phương pháp luyện tập, tập đúng phương pháp theo chỉ dẫn của võ sư. Học võ không những chỉ để biết mà quan trọng là biết để sử dụng nó vào đúng mục đích đã chọn.
Đối với người học võ, đôi tay và bộ chân là vũ khí chủ lực và cực kỳ lợi hại để tự vệ và đánh trả đối phương. Nếu luyện tập công phu, có khoa học, có phương pháp đúng sẽ tạo ra sự hoàn thiện của đôi tay và đôi chân, làm cho nó tự chủ và biến hóa khôn lường.
* Phương pháp luyện tập về chân
- Tập ngựa: "Ngựa" là phần căn bản trọng yếu trong việc luyện tập võ công. Bởi vì "ngựa" phải mang thân thể của ta trong xê dịch, tránh né, lúc sang phải, khi qua trái, lúc tấn, lúc thối hoặc bám trụ để sử dụng thân pháp hay xuất phát khí lực... Các thế tấn (tức ngựa) là phần căn bản của chân. Do đó, ta cần chú tâm luyện tập công phu.
Ngựa trong võ có nhiều loại, ở đây ta chỉ tập một số loại cơ bản.
1. Ngựa Tứ Bình: Một loại ngựa cơ bản quan trọng. Ngựa Tứ Bình có thể gọi là "ngựa" cốt lõi, vì những "ngựa" này sau này là sự biến dạng của "Ngựa Tứ Bình".
- Lúc tập: Người đứng thẳng, hai bàn chân đặt sát nhau và song song. Ta dịch chuyển bốn lần như sau:
+ Lần 1: Tì hai góc chân vào mặt đất, xoay hai đầu bàn chân ngang với chiều vai.
+ Lần 2: Bấm hai đầu ngón chân cái vào mặt đất, banh hai gót chân ra ngoài và dừng lại ở vị trí hai bàn chân song song.
+ Lần 3: Tì hai gót chân vào mặt đất, xoay hai đầu bàn chân ngang với chiều hai vai lần nữa.
+ Lần 4: Bấm hai đầu ngón chân cái vào mặt đất, banh hai gót chân ra ngoài và dừng lại ở vị trí hai bàn chân song song.
+ Lần 5: Bây giờ ta ngồi xuống và dừng lại ở vị trí hai bắp vế ngang với gối.
CHÚ Ý: Trong lúc tập Ngựa Tứ Bình, xương sống phải giữ thẳng. Hai vai không nhúc nhích. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Hai tay nắm cú chặt thủ vào hai bên hông. Răng hàm cắn chặt. Môi khép lại. Đầu lưỡi tì vào chân hàm răng trên. Chỉ thở bằng mũi. Khi tập, chú ý dồn trọng lượng vào chân bằng lối song trọng và đơn trọng.
2. Ngựa Kim Kê:
Bàn chân phải ở sau đặt nằm ngang, gối chân phải rùn thấp, trọng lượng toàn thân dồn về chân phải. Bàn chân trái ở trước duỗi xuôi và chấm đầu ngón chân cái xuống đất. Hai tay nắm cú thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Nên nhớ phải tập đều phía trái và phía phải và khi chuyển ngựa sang phía trái, phải chỉnh ngựa đúng với tư thế "Ngựa Kim Kê".
3. Ngựa Chữ Đinh:
Cách đứng ngược với "Ngựa Kim Kê". Bàn chân trái ở trước đặt nằm ngang (mũi bàn chân hướng về phía tay phải), gối trái rùn thấp xuống, chân phải ở sau chõi thẳng, đầu các ngón chân phải hướng thẳng giữa cạnh trong bàn chân trái ở vị trí trực giao.
Trọng lượng toàn thân, lúc đầu dồn về chân trái, lúc dồn về chân phải. Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
4. Ngựa Bát Quái:
Một biến dạng của "Ngựa Tứ Bình". Ta trụ "Ngựa Tứ Bình", sau đó xê dịch đầu bàn chân trái sang trái và vai trái cũng chuyển dịch theo. Trọng lượng toàn thân dồn vào chân phải sau nhiều hơn (khoảng bảy phần). Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Tập phía trái xong, ta chuyển sang tập phía chân bên phải.
5. Ngựa Định Thân:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Sau đó, bấm giữ đầu hai ngón chân cái vào mặt đất, chuyển dịch hai gót chân vào phía trong và đưa dần ra phía trước mặt đến khi hai gót chân và hai đầu ngón chân cái thẳng hàng nhau (nằm trên một đường thẳng). Nghĩa là hai bàn chân nằm ngang theo chiều hai vai và ngực. Hai cú tay thủ vào hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
6. Tọa ngựa:
Trụ "Ngựa Tứ Bình", sau đó ép sát hai gối lại, đầu hai ngón chân cái xê dịch ra phía ngoài, ngồi sát xuống đất, hai mông đít hơi kề sát vào hai gót chân. Hai đầu gối phải sát mặt đất.
Trọng lượng toàn thân dồn vào hai ngón chân cái. Nhớ phải tập theo cách "đơn trọng" và "song trọng". Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
7. Ngựa Độc Cước:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Một chân co lên, gối ngang với vế, bàn chân dưới thẳng và đặt song song với vế chân trụ. Trọng lượng toàn thân dồn về chân trụ. Hai cú tay thủ ngang hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
Chú ý: Tập đều hai bên trái và phải.
8. Ngựa đôi:
Một kiểu "ngựa" dùng để di chuyển. Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Đứng chân trái trước, chân phải sau hay ngược lại. Khi tập luyện, đưa chân sau đến sát chân trước, đồng thời rút chân trước rút về phía trước. Khi lui ra, rút chân trước về sát chân sau, đồng thời chân sau xê dịch về sau. Tương tự khi sang trái hay phải. Bỏ chân trước qua thì kéo chân sau theo, hoặc tránh chân sau qua phải thì kéo chân trước theo. Trong luyện tập nên nhớ "Đi như lá", "Đứng như đá". Hai tay thủ quyền kín, chỉnh "ngựa" cho thích hợp với tư thế "ngựa" mới.
9. Ngựa Âm-Dương:
Đứng như "Ngựa Định Thân" sau đó đưa bàn chân trái đặt trước bàn chân phải. Khoảng cách giữa hai bàn chân khoảng 30 cm. Hai tay vẫn thủ ngang hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

19/07/2017

Khi tập luyện võ công, ta thường nghe: "Quyền ba, cước bảy". Từ đó, ta có thể nhận thấy rõ công dụng của "Ngũ Hành Chân". Xét về chiều dài, chân phải dài hơn tay. Do đó, phải luyện tập "Ngũ Hành Chân" cho thuần thục và công phu.
1. Ngọn Kim: (Tập đạp)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền lên trước, co chân trước lên, gối cao hơn vế, mình nghiêng về phía sau, phóng chân đạp ra. Lực phát ra dồn ở gót chân. Đặt chân trước xuống đất, rút gối chân sau, xoay người đưa ra phía trước, nghiêng người, phóng chân đạp ra. Cứ thế ta tập liên hoàn. Hai tay thủ quyền, không dang ra.
2. Ngọn mộc:
Tập gạt chân từ trên xuống dưới. Đứng "Ngựa Kim Kê", đưa chân trước lên hơi xéo về phía trước bụng, dừng ở độ cao thích hợp, phát lực gạt chân xuống. Lựa phát ra, dồn ở gót chân và phải luyện đều hai chân.
3. Ngọn Thủy:
Tập đá trước, từ dưới lên. Đứng "Ngựa Kim Kê", gối chân sau rùn thấp, đá tước chân trước lên. Chấm chân trước xuống đất, dồn trọng lượng về chân trước, gối chân trước rùn xuống thấp, đá tước chân sau lên và cứ thế tập liên hoàn. Nên nhớ lực phát ra dồn ở hai gót chân, tay quyền thủ kín.
4. Ngọn Hỏa:
Tập rút chân về, tập bỏ chân tránh né. Đứng "Ngựa Kim Kê", rút gối thủ đòn, hoặc xê dịch chân tránh sang phải hoặc trái, hoặc triển chân, đưa người về phía sau, tay quyền thủ kín, tập đều hai bên.
5. Ngọn Thổ:
Tập đạp gót chân hay bàn chân xuống đất, hoặc găm gối xuống đất. Đứng "Ngựa Kim Kê", thủ quyền, chân trước rút gối cao hơn vế, phóng chân đạp xuống đất. Lực phát ra dồn ở gót chân hay cạnh bàn chân, tiếp đến tập chân sau và tập liên hoàn.
- Tập Di chuyển Ngựa: Di chuyển "ngựa" tức là tập cách hoán vị "ngựa" để thích nghi trong tập luyện và chiến đấu. Di chuyển "ngựa" có nhiều cách. Ở đây, ta tập một vài cách đơn giản.
1. Di chuyển theo Ngựa Biên (2 điểm)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền chỉnh về phía trước. Khi tập, ta đưa bàn chân sau (B) đến vị trí bàn chân trước (A) và bàn chân trước (A) bỏ vào vị trí bàn chân sau (B). Cứ thế, ta tập liên tục và tập từ chậm đến nhanh dần lên.
2. Di chuyển theo Ngựa Tứ Bình: (4 điểm)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái", chân trái trước, chân phải sau, bàn chân trái trước là điểm A, bàn chân phải sau là điểm B. Khi tập xê dịch, ta đưa B lên B' và A xuống A', và ngược lại A' lên A, và B' xuống B. Cứ thế ta tập đến khi thuần thục. Trong khi tập, tay quyền vẫn thủ.
3. Di chuyển theo Ngựa Ba Chân Hổ: (3 điểm)
Đứng "Ngựa Bát Quái" hay "Kim Kê", chân trái trước, chân phải sau, chân sau hơi xê qua bên mặt độ 5 cm, bàn chân trái là A, bàn chân phải là B. Khi tập di chuyển, ta đưa B lên C và A xuống B rồi ngược lại B lên A và C xuống B. Cứ thế, tập di chuyển cho thuần thục trên ba đỉnh của một đỉnh của một hình tam giác BCA rồi BAC.

19/07/2017

Tập về tay là cách tập luyện đôi cánh tay và đôi bàn tay trong đánh võ. Luyện tập để có đôi bàn tay nhanh nhẹn, biến hóa linh động, rắn chắc... Muốn được như vậy, cần phải ra công luyện tập đúng phương pháp và khoa học. Có đôi bàn tay làm khí giới đa dạng thì trong tự vệ, chiến đấu phần chủ động có thể thuộc về ta.
* Tập phần bàn tay:
Đôi bàn tay là một khí giới đa dạng trong đánh võ vì lúc dùng quyền, khi dùng trảo, lúc đánh chưởng, khi dùng chỉ..., người có võ công cơ bản biết phối hợp, tập luyện và sử dụng đôi bàn tay thì thật là đáng sợ.
1. Tập quyền:
"Quyền" là nắm tay, tập hai nắm quyền, ta phải nắm bàn tay thật chặt, ngón cái ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ và ngón giữa.
Trong tập luyện, ta nên xòe bàn tay ra rồi nắm cú lại thật chặt. Ta tập nhiều lần trong mỗi bài tập. Những lần sau nắm chặt hơn những lần trước. Khi tập, ta nên tì hai chỏ vào hông để luyện tập nắm quyền.
2. Tập Cương Đao:
Bàn tay xòe thẳng, ngón cái cong, ép vào lòng bàn tay, bốn ngón tay kia xếp kín lại. Lúc luyện tập, ta nắm chặt, đấm, xỉa vào các vật mềm rồi dần dần đến vật cứng.
Nên nhớ không gây chấn động nhiều ở các đầu ngón tay.
3. Tập Trảo:
Bàn tay xòe ra, năm ngón tay hơi cong, vươn tới trước. Bàn tay có 5 ngón nên gọi là "Ngũ Trảo". Khi tập ta nên dồn lực vào đầu năm ngón tay.
4. Tập Chưởng:
Bàn tay xòe ra, lòng bàn tay hướng về trước, ngón cái tách riêng hướng thẳng lên trên, bốn ngón khép kín, hơi cong. Lực phát ra dồn ở lòng bàn tay.
5. Tập Chỉ:
Chỉ là cách luyện tập và sử dụng các ngón tay. Ta thường dùng "đơn chỉ" và "hợp chỉ".
a) Tập Đơn chỉ: Tập "Đơn chỉ" là tập ngón cái và ngón trỏ.
- Luyện tập ngón cái: Nắm cú tay thật chặt. Ngón cái chỉ thẳng tới trước và ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ. Lực phát ra dồn ở đầu ngón tay cái.
- Luyện tập ngón trỏ: Ngón trỏ chỉ thẳng tới trước, ba ngón: giữa, đeo nhẫn và út nắm lại, ngón cái ép sát vào đốt tay ngón giữa và nắm chặt lại. Lực phát ra dồn vào đầu ngón tay trỏ. Đơn chỉ thường gây chấn thương ở các chỗ nhỏ, hẹp và mềm...
b) Tập hợp chỉ:
"Hợp chỉ" là cách tập phối hợp để tạo lực ở các ngón tay hay một vài nơi trên bàn tay. Hợp chỉ có nhiều cách, ở đây ta chỉ tập một số "Chỉ" cơ bản thường dùng.
- Tập Xà thao: Bốn ngón: trỏ, giữa, đeo nhẫn và út khép kín, hơi cong "Chỉ" ra trước, ngón cái chỉ thẳng ra trước, mặt trong ngón cái hướng vào lòng bàn tay như miệng con rắn đang há. Lực phát ra, lúc dồn vào ngón cái, lúc dồn vào đầu bốn ngón, lúc phân đều ở các ngón để chụp, kẹp, giữ.
- Tập Long giác: Ngón đeo nhẫn, ngón út và ngón cái gập lại, ép chặt. Hai ngón trỏ và giữa tách thành hình chữ V. Lực dồn ở hai ngón trỏ và giữa.
- Tập Hố trảo: Năm ngón tay cong đều, hơi hở ra như năm móng cọp. Lực phát ra dồn đều ở năm đầu ngón tay, chỉ này dùng để chụp, cấu, xé...
Hoặc ngón cái cong lại, ép sát vào lòng bàn tay, bốn ngón kia khép kín cong lại, tì bốn đầu ngón tay vào ngón cái, siết chặt lại hoặc đôi khi nhô đốt thứ nhất của ngón giữa cao hơn. Chỉ này, lực phát ra dồn ở đầu đốt thứ nhất của ngón giữa.
- Tập Hạc chỉ: Năm ngón tay chúm lại, các đầu ngón tay bằng nhau duỗi thẳng ra trước. Lực phát ra dồn ở điểm chúm của năm đầu ngón tay hay phần đốt xương nhô lên ở mu bàn tay của ngón trỏ.
- Tập Hầu chỉ: Bàn tay dựng đứng thẳng góc với đầu xương trụ và xương quay, năm ngón tay khép kín và cong lại.
Hoặc bàn tay để nhô phần cổ tay và mu bàn tay. Lực phát ra ở chưởng này là phần tiếp giáp ở cổ tay và hai gò bàn tay hay phần cổ tay và mu bàn tay, sau mới dồn đến các "Chỉ".
* Tập đôi cánh tay:
1. Tay Bắt, Chần căn bản:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai cú quyền thủ ngửa vào hông. Sau đứng ngựa thủ quyền tập Bắt, Chần.
- Tập Bắt - Chần thượng bộ:
Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ quyền vào hông, tay phải thủ yên nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang tai bên phải rồi vặn ngửa tay ra hắt đến ngang tai bên trái thì dừng lại. Bàn tay có thể nắm quyền hay dùng chỉ, cạnh xương trụ ở ngoài (BẮT).
Tiếp đến, úp ngón tay lại, đưa qua tai bên phải. Lúc va chạm nơi cạnh bàn tay hay cạnh xương trụ (CHẦN). Tiếp đến, thủ tay trái lại nơi hông rồi tập tay phải BẮT, CHẦN như tay trái. Sau đó, đứng "Ngựa Kim Kê" thủ quyền tập BẮT, CHẦN.
BẮT CHẦN trung bộ:
Vẫn tư thế "ngựa" như trên, tay phải thủ nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang vai bên phải rồi lật ngược lại đến khỏi hông trái thì dừng lại, bàn tay dùng Hổ trảo (BẮT)
Giữ nguyên tư thế BẮT, đưa úp tay qua hông bên phải. Điểm va chạm là mu bàn tay phần mặt trên của xương trụ và xương quay.
2. Tập Ngũ Hành Tay:
a) Tập Ngọn Kim Đâm: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai tay thủ ngửa ở hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua bên tai phải. Bấy giờ tay trái đưa xoáy ra trước, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Tay trái lại tiếp tục bắt lên và dừng lại ngang tai bên trái, tay phải lại đâm xoáy ra trước, tay trái giật chõ về sau. Thủ quyền ngang hông.

Want your school to be the top-listed School/college in Quy Nhon?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address


Số 28 Đường Tây Sơn, Phường Nguyễn Văn Cừ
Quy Nhon