VÕ ĐƯỜNG VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

VÕ ĐƯỜNG VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

Share

Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Võ Đường Võ Cổ Truyền Bình Định https://www.facebook.com/vobinhdinh.org.vn/

05/05/2017

LÙM XÙM XUNG QUANH CHUYỆN THAY ĐỔI ĐAI CỦA VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Vừa qua, Liên đoàn Võ cổ truyền Việt Nam liên tiếp đưa ra hai văn bản về việc thay đổi hệ thống đai đẳng của các môn phái võ cổ truyền Việt Nam. Ngay khi được ban hành, quyết định này đã gây ra nhiều tranh cãi và bức xúc trong cộng đồng võ cổ truyền nhất là ở 2 nội dung: Thay đổi màu đai cấp võ sư từ trắng sang đỏ; thu 1,5 triệu đồng tiền phí đổi đai với mỗi võ sư, dù trước đó đã phải đóng phí khi thi lấy bằng võ sư.

16/10/2015

Có một giai đoạn lịch sử của võ Ta – võ Cổ truyền dân tộc từ đầu đến gần hết hậu bán thế kỷ XX, người ta thường dùng các từ “Quầng” hay “dzợt” để nói đến hoạt động giao đấu võ thuật dưới sân đất và “Đấu võ đài” hay “”Đấu đài” là hoạt động thi đấu võ thuật trên võ đài.
“Quầng” hay “dzợt” dưới sân đất diễn ra trong 4 trường hợp:
1. Trường hợp thứ nhất là: Anh em đồng môn tự quầng với nhau sau mỗi buổi tập. Mục đích của những buổi quầng này là để rút kinh nghiệm về việc rèn luyện đòn, thế và tình huống giao đấu đã được tập luyện trong buổi tập hôm ấy.
2. Trường hợp thứ hai là: Anh em đồng môn đã có quá trình tập luyện từ 3 tháng trở lên quầng với nhau trước sự chứng kiến của người thầy. Mục đích của những buổi quầng này là để thầy kiểm tra và rút kinh nghiệm về thi đấu, chiến đấu cho từng người.
3. Trường hợp thứ ba là: Những võ sĩ, huấn luyện viên khác lò võ tự nguyện quầng với nhau khi được sự cho phép của các vị thầy ở các lò có liên quan. Mục đích của những buổi quầng này là để các võ sĩ, huấn luyện viên cọ xác nhằm nâng cao kinh nghiệm khi gặp các đòn, thế lạ, qua đó rút ra kinh nghiệm giao đấu phong phú hơn. Đôi khi, những buổi quầng này cũng để thử tài cao thấp giữa các võ sĩ, huấn luyện viên hoặc kiểm tra võ sĩ trước khi thượng đài thi đấu.
4. Trường hợp thứ tư là: Các vị thầy có thân tình với nhau muốn giao lưu. Mục đích của những buổi quầng này chỉ để giao lưu, tạo ra những kỷ niệm trong cuộc đời võ nghiệp, hiếm khi được xem là để thử tài cao, thấp. Tuy nhiên, những trường hợp này rất ít khi diễn ra vì dễ gây hiểu nhầm, tạo ra dư luận không tốt cho uy tín của các thầy.
Khi “Quầng” hay “dzợt”; các thầy và các võ sĩ, võ sinh thực hiện kỹ thuật “bắt bông, bỏ bộ”, có nghĩa là “tay bắt bông” và chân “bỏ bộ”.
“Bắt bông” là hai tay múa quyền liên tục theo các đường vòng cung, vòng tròn, thuận và nghịch với chiều kim đồng hồ, nhằm hai mục đích:
- Phòng thủ kín đáo mặt tiền (bao gồm vùng mặt, ngực và bụng)
- Làm hoa mắt địch thủ, làm cho địch thủ không tiên đoán được những đòn sắp tấn công của ta.
Kỹ thuật “bắt bông” thường thấy của Võ Ta có bộ tay chuyền: Cánh tay này đặt dưới cánh tay kia rồi cánh tay dưới đẩy ra còn cánh tay trên thu về bên sườn cùng chiều; Sau đó đổi lại, cánh tay ở sườn vươn ra và đặt dưới cánh tay vừa đẩy ra khi cánh tay này được thu về. Cứ thế tiếp tục thực hiện động tác tay chuyền trong khi chân bỏ bộ.
“Bỏ bộ” là hai chân di chuyển tới (tấn), lui (thối), ngang qua trái hoặc qua phải (hoành) bằng một chân hoặc hai chân cùng một lúc với 2 bộ ngựa: Ngựa trung bình và ngựa tứ bình.
- Ngựa trung bình là bộ ngựa khi di chuyển thì hai chân rùn thấp đều ở khớp gối và hai bàn chân hướng về một phía.
- Ngựa tứ bình là bộ ngựa khi di chuyển thì hai chân rùn thấp đều ở khớp gối như ngựa trung bình nhưng bàn chân trước hướng xéo 450 và bàn chân sau hướng ngang 900 so với đường thẳng nối giữa hai bàn chân.
Tuy nhiên, tìm hiểu về “bỏ bộ” cũng cần tìm hiểu về cách “phát thế” của người xưa, vì trong quá trình giao đấu không phải lúc nào người ta cũng di chuyển mà thỉnh thoảng dừng lại phát thế.
“Phát thế” là một hình thức phô bày thế võ trong tư thế chân trụ vững, tay “khấu quyền”.
Chân trụ vững thường theo 4 bộ tấn: Tấn trung bình, tấn tứ bình, tấn đinh và tấn trảo mã.
- Tấn trung bình có phương vị như ngựa trung bình nhưng ở tư thế cố định.
- Tấn tứ bình có phương vị như ngựa tứ bình nhưng ở tư thế cố định.
- Tấn đinh là thế trụ có một chân gập ở gối và một chân duỗi thẳng nhưng trong trường hợp này 2 bàn chân ở trên một đường thẳng ngang trước đối thủ.
- Tấn trảo mã là thế trụ có chân trước gập ở gối hướng về đối thủ, mũi bàn chân chạm đất và chân sau rùn gối, bàn chân nằm ngang.
Tay khấu quyền có 2 cách được gọi là “thủ” và “phơi”.
- Khi khấu quyền “thủ”, hai cánh tay tạo thành thế đan xen, khép lại gần thân để bảo vệ thân trước trong tư thế phòng thủ.
- Khi khấu quyền “phơi” thì hai tay dang rộng, dù đang phòng thủ nhưng cố ý để hở bụng, ngực để “mời” đối thủ tấn công.
Phát thế “phơi” có thể hiểu là thế dụ địch. Trong trường trận đó chính là thế mai phục nên người phát thế “phơi” luôn có cách hóa giải và phản công hiệu quả khi bị tấn công.
Trong công việc nghiên cứu, biên khảo các kỹ thuật đặc trưng của Võ Ta như Bông pháp, Thân pháp, Ngựa tứ bình, Ngựa hồng mao, Hốt ngựa..., khi đến Bắt bông bỏ bộ, chúng tôi trộm nghĩ có thể “phát thế” là một cách để võ giới trình diễn nét đẹp quyền thức của Võ Ta giống như “chơi chữ” là cách để giới văn nhân phô bày tính thông minh, độc đáo trong văn chương chăng?
Ngoài cách phát thế thường thấy các võ sĩ ngày xưa sử dụng là chân trụ tấn trảo mã, một nắm tay đặt ở hông, cánh tay kia cung lại trước ngực, bàn tay trước có lúc mở có lúc nắm, còn có một số cách phát thế đặc thù như “Mãnh hổ diêu đầu”, “Sơn đông kỵ mã” (khấu quyền thủ), “Tiên ông túy tửu”, “Giác long thủ phủ triều thiên”(khấu quyền phơi)…
Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề “phát thế” trong một bài viết đầy đủ, còn bây giờ xin được tóm lại chủ đề của bài viết này là: Có thể hình dung về “bắt bông, bỏ bộ” trong giao đấu của võ Ta ngày xưa là tay múa quyền liên tục theo các đường vòng cung, vòng tròn, thuận và nghịch với chiều kim đồng hồ trong khi chân di chuyển theo ngựa trung bình, ngựa tứ bình còn thân thì tràn, lách, tránh né, hụp, lặn, hốt ngựa; và đôi khi các võ sĩ dừng lại, “phát thế” để phô bày nét đẹp hoa mĩ, đặc trưng của môn võ cổ truyền của dân tộc Việt

16/10/2015

Nhãn pháp: (đôi mắt)
Cấu tạo một bài quyền bao gồm lời thiệu và động tác, từ các bộ phận riêng lẻ liên kết với các bộ phận toàn cầu. Một bài quyền không những thể hiện đúng động tác, mà còn yêu cầu thể hiện cho được sức sống (linh hồn) của bài quyền đó, mà yếu tố quan trọng là thể hiện ở đôi mắt. Đôi mắt có lúc nhìn thẳng, có lúc phải liếc ngang, liếc dọc, có lúc phải nhìn ngược lên, tùy theo yêu cầu đối với từng động tác của bài quyền. Tốc độ nhanh hay chậm, cường độ mạnh hay yếu đều thể hiện ở đôi mắt. Có một số võ sĩ thực hiện một bài quyền rất trọn vẹn, động tác đúng, dứt khoát, nhưng xem ra bài quyền đó không có hồn vì chưa thể hiện được sức sống và phong thái nhịp nhàng của đôi mắt (chưa làm cho đôi mắt biết nói). Trái lại, có một số võ sĩ vì quá chú ý đến cái nhìn của đôi mắt nên quá cường điệu vai trò của đôi mắt mà không thể hiện yêu cầu và phối hợp được các động tác toàn bài, như vậy cũng không thể hiện được trọn vẹn cái hồn của bài quyền.
Nét mặt thể hiện vui vẻ, tươi sáng, hay buồn bực trầm lặng qua cái nhìn của đôi mắt, cũng góp phần thể hiện sức sống mãnh liệt, cương nghị hay im lìm yếu ớt.
Khi tập luyện đôi mắt đủ uy lực, sắc sảo thì chính nó trở thành vũ khí sắc bén để uy hiếp tinh thần hoặc đánh lừa đối phương, làm cho đối phương khiếp sợ, lúng túng, mất tinh thần dẫn đến giảm sút ý chí chiến đấu và rơi vào thế bị động, hoang mang.
Để tăng cường sự sôi động, hay thể hiện sức mạnh của động tác, có võ sĩ kết hợp la hét hay dậm chân, cũng góp phần thể hiện sức sống mãnh liệt của bài quyền. Không nên quá lạm dụng kỹ xảo này mà làm giảm ý nghĩa và tính nghệ thuật của bài quyền.

23/06/2015

Trong các bộ môn về quyền thuật của võ cổ truyền Bình Định, không thể không đề cập đến bài quyền "Ngọc Trản" bởi lẽ đây là "bài ruột" mang đầy đủ các yếu tố cơ bản và là một trong những bài chính thống, tiêu biểu, được tất cả các môn phái trong tỉnh truyền dạy và phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ xưa đến nay.

Bài quyền Ngọc Trản có lối đánh công phu, toàn diện, kín đáo, chắc đòn, kết hợp nhu cương đúng lúc, đúng chỗ. Lại có những thế né tránh, phản đòn rất lợi hại. Di chuyển nhẹ nhàng, nhanh nhạy, linh hoạt, khi trụ ngựa và ra đòn thì vững chắc và mạnh.
Bộ tay ra đòn mạnh, nhanh, chính xác, có lúc vờ như thủ để đánh lừa đối phương, hay dụ đối phương với thế vây hãm để tiêu diệt theo dạng "Hư hư thực thực".
Đặc biệt vừa qua, Ban nghiên cứu (Sở TDTT Bình Định) cũng đã phát hiện một số tư liệu cổ đều có ghi tên bài thiệu về quyền "Ngọc Trản". Để góp phần làm sáng tỏ và đi đến thống nhất tên gọi, lời thiệu với từng động tác một cách chuẩn xác hơn, chúng tôi xin giới thiệu cụ thể bài quyền Ngọc Trản.
Qua bài thiệu cổ mới phát hiện của bài Ngọc Trản, ta nhận thấy tính liên hoàn âm-dương được xuyên suốt.
Ví dụ như: Hoành Tả, Tọa, Bạch xà lan hổ.
Thì: Hữu hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy
Và: Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ,
Thì: Tả hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy.
So sánh các bài thiệu cổ mới phát hiện với bài thiệu đã lưu hành hiện nay có một vài chỗ khác biệt. Có lẽ người đời sau đã ghi nhầm, hay tam sao thất bổn.
Ví dụ: Hoành Tả, Tọa, bạch xà lan lộ.
Thì lại: Tả hoành sát, Thanh long biên giang.
"Hoành Tả" và "Tả Hoành" không mang tính âm-dương, ngũ hành của người xưa về cách cấu trúc một bài võ trong võ cổ truyền Bình Định.
Qua thời gian, bài quyền Ngọc Trản vẫn sáng chói như một chén ngọc. Số vốn quý võ công đã được gói ghém trong đó cũng được lưu truyền cho những người có đạo đức tốt, có tấm lòng vì con người, vì nền võ học của dân tộc.

Ngọc Trản còn có nghĩa: "Ngọc" là sự trong sáng, trung thực, phản chiếu sự vật được thể hiện ý niệm, trí tuệ. "Trản" là san bằng mọi chướng ngại mang tính đối phó ở giai đoạn đầu, tức hóa giải và có hài hòa ở giai đoạn cuối được thể hiện ở tay, chân và thân mình. Trong đó dĩ nhiên cần phải tính đến công sức luyện tập tinh nhuệ của thể chất, ý thức được thống nhất thành một ý niệm duy nhất. Ý niệm đó chuyển toàn bộ như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó là một bí quyết luyện tập của lối quyền âm-dương trong Ngọc Trản công.
a) Nội dung bài thiệu cổ về quyền "Ngọc Trản" được trích trong tập tư liệu Hán-Nôm được phát hiện tại từ đường dòng họ Trương ở xã Mỹ Hòa-Phù Mỹ do ông Trương Đức Hồng cung cấp, ông Phạm Đình Phong sưu tầm.
* Phần Phiên âm:
1. Ngọc Trản ngân đài.
2. Tả, hữu tấn khai thập tự.
3. Luyện diệp liên hoa.
4. Đả sát túc, tọa, hồi mai phục.
5. Tấn đả tam chiến
6. Thoái thủ nhị linh.
7. Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ.
8. Hữu hoành sát thanh long biên giang.
9. Phụ tử tương tùy.
10. Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ.
11. Tả hoành sát thanh long biên giang.
12. Phụ tử tương tùy.
13. Hồi tàng địa hổ.
14. Song phi, quyển dực.
15. Hạ bàn đoản đả.
16. Hồi, tiểu tọa khai cung.
17. Huỳnh long quyển địa.
18. Tấn, đả song quyền.
19. Hoành tả, phục hạc khai linh.
20. Trực tiền quyển địa.
21. Tấn, đả song quyền.
22. Hoành hữu, phục hạc khai linh.
23. Trực tiền quyển địa.
24. Tấn, đả song quyền.
25. Hướng, hậu đả thập tự.
26. Diện tý.
27. Hồi, tẩu mã giang tiên.
28. Bái tổ, lập như tiền.
* Dịch nghĩa:
1. Chén ngọc đài vàng.
2. Tiến, mở thế chữ thập bên trái và bên phải.
3. Chọn lá liền hoa.
4. Đánh sít chân, tọa thế "hồi mai phục".
5. Tiến, đánh ba bận.
6. Lui, hai tay sắc sảo.
7. Xoay trái, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
8. Chém ngang bên phải bằng thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
9. Thế cha con nương tựa nhau.
10. Hoành bên phải, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
11. Hoành bên trái quét thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
12. Thế cha con nương tựa nhau.
13. Trở về thế rắn hổ đất núp.
14. Đá song phi (hai chân bay) rồi thế chim cuốn cánh.
15. Đánh vắt mâm dưới.
16. Về, tọa, xổm mở cánh cung.
17. Thế rồng vàng cuốn đất.
18. Tiến đánh hai đấm.
19. Xoay trái, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
20.Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
21. Tiến đánh hai đấm.
22. Xoay phải, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
23. Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
24. Tiến đánh hai đấm.
25. Chuyển phía sau đánh thế chữ thập.
26. Mặt nhìn hướng tý (hướng Bắc).
27. Trở về thế "tẩu mã giang tiên" (ông tiên ruổi ngựa trên sông).
28. Vái tổ, đứng như trước.
b) Những động tác trong bài quyền Ngọc Trản:
- Đứng theo tư thế dịch cân, thủ môn hiệu theo võ Bình Định, lễ tổ, mắt nhìn thẳng ra phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.1), trụ ngựa theo tư thế ngựa tứ bình. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.2), dương quyền ở hai tay trái và phải ở bộ vị, xòe hai chưởng, sau đó tay phải theo dương chưởng, tay trái theo âm chưởng, áp sát vào nhau thủ sát nơi chấn thủy. Bái tổ. Hai mắt nhìn thẳng.

23/06/2015

Thảo gồm bảy bộ giống nhau, được phân ra để đánh: Mặt trước ba bộ, mặt sau ba bộ, về mặt trước đánh thêm một bộ; mỗi bộ gồm bốn ngọn: Chần, Đâm, Móc, Hắt Giật.
a) Những động tác "bái tổ"

Những động tác "bái tổ" ở "thảo thất bộ" có kèm theo cách hít thở khởi đầu của môn nội công. Cần chú ý luyện tập hít thở cho đều:
- Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ ngửa ngang hông. Mắt nhìn thẳng ra phía trước
- Kẹp sát hai nách, từ từ đưa hai nắm quyền lên, vừa đưa lên mũi vừa hít vào (chú ý: răng hàm cắn sát, môi khép lại, đầu lưỡi tựa vào chân răng hàm trên, hít vào thở đều bằng mũi) và dừng lại khi hai nắm quyền tới hai chân mày (xem ảnh H.2)

- Bây giờ cong hai mu bàn tay đổi lại, từ từ đâm thẳng hai nắm quyền xuống đất và từ từ thở ra, dừng lại khi hai nắm quyền tới hạ bộ (xem ảnh H.3).
- Tay tới hạ bộ, xoay đầu hai nắm quyền vào bụng đẩy ngược lên, vừa đẩy lên, vừa hít vào, ta dừng lại khi hai tay thẳng ở trước.
- Hai cánh tay ép sát lại, từ từ rút về, thủ quyền ngang hông, vừa rút quyền về, vừa thở ra.
b) Ba bộ mặt trước:
- Bộ một: Ở tư thế "Ngựa Tứ Bình", bàn chân trái xoay ngang theo chiều vai trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "ngựa kim kê", tay phải chần từ trái sang phải.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải lại giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Bây giờ tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay phải tì sát với cổ tay trái.
Ở tư thế này phải bắt nắm quyền tới phía trước, tay trái giật chỏ về sau và thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải chuồi về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống từ mặt chân trái, tay phải rút về thủ ngang hông.
Tiếp đến tay phải lại đâm "ngọn kim" ra, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến tay trái móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay trái ép sát cổ tay phải.
Ở tư thế đó, tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái và bàn chân trái lui về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời chân phải "chần" xuống từ trái sang phải, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, chéo quyền với tay trái.
Tiếp đến tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba, ta xoay người về phía sau theo chiều vai trái. Hai tay quyền vẫn thủ theo, ta chỉnh lại, đứng theo "ngựa kim kê".
c) Ba bộ mặt sau:
- Bộ một: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời, tay phải "chần" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Bây giờ tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, chân phải rút về thế chỗ chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại đâm thẳng quyền ra, tay trái lại giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay phải.
Bây giờ tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba ở mặt sau, ta xoay người sau theo chiều vai trái trở lại mặt trước, tay vẫn thủ quyền, chỉnh lại tư thế đứng theo "ngựa kim kê".
d) Bộ thứ bảy ở mặt trước:
Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Sau đó, tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ:
Chân phải rút ngựa về sau, theo ngựa kim kê, tay trái thủ ra trước, tay phải rút về thủ ngang hông, hạ ngựa xuống, vế ngang gối, mắt nhìn về trước, bái tổ.

23/06/2015

"Thảo bộ" là bài quyền nhiều thế võ chính, phụ được phối hợp tập luyện liền nhau và liên tục của "bộ pháp", "thủ pháp", "thân pháp" và "nhãn pháp".
Ta đã biết "thảo" là bài quyền phối hợp của nhiều thế võ, nhiều bộ pháp, thủ pháp, thân pháp… và đi từ đơn giản đến phức tạp. Biết vậy, ta phải chú tâm luyện tập cho thuần phục, chính xác, công phu. Từ đó, chắc chắn sức khỏe và võ công của người luyện tập sẽ tiến bộ nhiều.
Sau đây, chúng tôi giới thiệu hai bài "thảo bộ" đơn giản ở phần phối hợp này.
- Thảo Bộ Liên Ba: Thảo gồm ba bộ. Mỗi bộ đánh liền ba lần:
Bộ một: Đánh một "Ngọn Mộc" đâm hai "Ngọn Kim".
Bộ hai: Đánh một "Ngọn Mộc" xóc hai nắm quyền lên theo "Ngọn Thủy".
Bộ ba: Bắt đâm ba "Ngọn Thổ".
a) Những động tác Bái tổ:
Trụ "Ngựa Tứ Bình".
Tiếp đến, đặt ngang bàn chân phải, chân trái bước lên, đứng theo tư thế "Ngựa Kim Kê" tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, nắm cú quyền tay trái ép sát vào lòng bàn tay cương đao (tay phải) rồi thủ dưới vú bên ngực trái. Mắt nhìn về phía trước.
b) Những động tác ở bộ một:
- Lần 1:
Ở tư thế "bái tổ" chân phải bước lên phía trước một bước và đứng theo "Ngựa Kim Kê" đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về phía sau, thủ ngang hông.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra phía trước và tay phải lại giật chỏ về sau, quyền thủ ngang hông.
Thủ vào hông xong, tay phải lại đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái lại giật trỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Thủ quyền khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Lần 2:
Đưa bàn chân trái ở phía sau lên thế chỗ bàn chân phải ở trước dời về sau thế chỗ bàn chân trái ở sau, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Rồi tay phải tiếp tục đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Tiếp đến, tay trái lại đâm thẳng quyền ra phía trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông. Khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Lần 3:
Hoán vị bàn chân phải ở sau lên trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống. Tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến, tay phải lại đâm quyền ra, tay trái rút về thủ quyền ngang hông. Mắt nhìn về phía trước trong lúc đánh.
Sau đó xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển về phía sau, và chỉnh "ngựa" đứng đúng theo "Ngựa Kim Kê", tay quyền thủ lên.
c) Những động tác ở bộ hai:
- Lần 1:
Ở tư thế bộ một, ta bước chân phải lên một bước, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến, hai nách kẹp lại, đồng thời xòe thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí dước cằm. Mắt nhìn thẳng về phía trước mặt.
- Lần 2:
Tay phải bắt qua và dừng lại bên tai phải, bàn chân trái từ sau đưa lên thế chỗ bàn chân phải ở trước, và bàn chân phải rút về thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
- Tiếp đến, hai nách kẹp lại, xóc thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí cằm. Mắt nhìn thẳng phía trước.
- Lần 3:
Tay trái bắt qua bên trái, bàn chân phải đưa lên trước thay chỗ bàn chân trái và bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "ngọn mộc" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Kế tiếp, hai nách kẹp sát lại, xóc hai nắm quyền thẳng lên và dừng lại dưới cằm.
Ở tư thế bộ hai, ta xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển ngược mặt trước (mặt tiền lúc bái tổ), chỉnh lại "ngựa Kim Kê", hai tay thủ quyền.
d) Những động tác ở bộ ba:
- Lần 1: Tay phải đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Lần 2: Chân phải đưa ra trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đưa lên ngang tai phải, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Lần 3: Chân trái lại đưa lên trước, bàn chân trái thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái bắt lên dừng ngang tai trái, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ hết bài quyền:
Ở tư thế bộ ba, ta xoay ngược bàn chân trái theo chiều vai bên trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "Ngựa Kim Kê", tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, tay quyền áp sát vào lòng bàn tay cương đao, thủ ngay dưới vú bên phải, "bái tổ".

23/06/2015

2. Tập Ngũ Hành Tay:
a) Tập Ngọn Kim Đâm: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai tay thủ ngửa ở hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua bên tai phải. Bấy giờ tay trái đưa xoáy ra trước, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Tay trái lại tiếp tục bắt lên và dừng lại ngang tai bên trái, tay phải lại đâm xoáy ra trước, tay trái giật chõ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Cứ thế ta tập đâm nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ nắm chắc cú quyền khi đâm ra. Hai mắt nhìn về phía trước.
b) Tập Ngọc Mộc đánh: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai nắm quyền thủ hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua đến bên tai phải, bấy giờ tay trái đưa úp lên tới chân mày, đánh mu nắm quyền hướng xuống dưới rồi hất ngược mu nắm quyền lên, dừng ở vị trí cánh tay thẳng góc với ngực, đồng thời giật chỏ phải về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến tay trái lại bắt ngang tai trái, chân phải giở úp lên ngang chân mày, đánh mu nắm quyền xuống dưới rồi hất mu nắm quyền lên dừng lại ở vị trí cánh tay thẳng góc với ngực, đồng thời giật trỏ trái về sau và thủ quyền ngang hông.
Cứ thế ta tập đánh nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ cú quyền nắm chặt trong khi đánh xuống và hất lên. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
c) Tập Ngọn Thủy Móc: Ở tư thế trụ "Ngựa Tứ Bình", tay phải bắt lên ngang tai bên phải, tay trái móc thẳng quyền từ hông lên và dừng lại ở vị trí dưới cằm đồng thời tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Ở tư thế vị trí đó, tay trái bắt qua dừng lại nơi bên trái, tay phải móc thẳng nắm quyền, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ quyền nắm chặt khi tập. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
d) Tập Ngọn Hỏa né: Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ vào hông. Triển người, lắc vai trái né sang bên phải, rồi triển người lắc vai phải né sang bên trái.
- Khi né sang bên phải: Tay trái ép sát vào hông trái, nắm quyền thủ ngang hạ bộ. Tay phải thủ kề má bên trái. Mắt liếc ngó về bên trái.
- Khi né sang bên trái: Tay phải ép sát vào hông bên phải, nắm quyền thủ ngang hạ bộ. Tay trái thủ kề má bên phải. Mắt liếc, ngó về bên phải.
Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi lần tập luyện.
e) Tập ngọn Thổ đâm xuống đất: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Thủ hai nắm quyền ngang hông. Tay phải bắt ngang tai bên phải. Tay trái nắm quyền đâm thẳng xuống đất, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Ở tư thế đâm đó, tay trái bắt quyền lên ngang tai bên trái, tay phải nắm quyền chặt đâm thẳng xuống đất, đồng thời chỏ trái giật về sau và thủ quyền ngang hông.
Nhớ tập đâm xuống nhiều lần trong mỗi buổi tập. Mắt ngó thẳng về phía trước.
3. Tập Ngũ Hành cùi chỏ:
Hai chỏ, nếu được tập luyện công phu, thuần thục, rắn chắc... thì tác dụng trong bảo vệ và chiến đấu rất lợi hại. Chỏ ở phần căn bản cũng tập theo "Ngũ Hành".
a) Tập "Ngọn Kim" giật chỏ thẳng ra theo chiều vai:
Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ hai nắm quyền ngang hông, đưa nắm quyền tay trái lên ngang vai bên phải giật úp chỏ thẳng ra ngang vai trái.
b) Tập "Ngọn Mộc" đập chỏ ngang ra phía trước:
Ở tư thế "Ngọn Kim" của chỏ bên trái, ta đập chỏ thẳng ra phía trước mặt, dừng ở vị trí ngực và tay thẳng góc.
c) Tập "Ngọn Thủy" giật chỏ ra phía sau lưng:
Ở tư thế "Ngọn Mộc" của chỏ trái, ta giật thẳng chỏ ra sau lưng.
d) Tập "Ngọn Hỏa" tước trỏ lên ra phía trước mặt:
Ở tư thế đang tập đánh "Ngọn Thủy" ta đánh tước chỏ lên từ sau ra trước và dừng lại ở góc 45 độ tại nách.
e) Tập "Ngọn Thổ" găm nhỏ xuống đất: Ở tư thế "Ngọn Hỏa", ta găm xuống đất, nhưng găm lệch sang phía bên phải.
Tập xong tay trái, ta thủ quyền tay trái lại nơi hông rồi tập đến tay phải, như vừa tập ở tay trái. Lúc tập, mắt nhìn thẳng về phía trước.

23/06/2015

Tập về tay là cách tập luyện đôi cánh tay và đôi bàn tay trong đánh võ. Luyện tập để có đôi bàn tay nhanh nhẹn, biến hóa linh động, rắn chắc... Muốn được như vậy, cần phải ra công luyện tập đúng phương pháp và khoa học. Có đôi bàn tay làm khí giới đa dạng thì trong tự vệ, chiến đấu phần chủ động có thể thuộc về ta.
* Tập phần bàn tay:
Đôi bàn tay là một khí giới đa dạng trong đánh võ vì lúc dùng quyền, khi dùng trảo, lúc đánh chưởng, khi dùng chỉ..., người có võ công cơ bản biết phối hợp, tập luyện và sử dụng đôi bàn tay thì thật là đáng sợ.
1. Tập quyền:
"Quyền" là nắm tay, tập hai nắm quyền, ta phải nắm bàn tay thật chặt, ngón cái ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ và ngón giữa.
Trong tập luyện, ta nên xòe bàn tay ra rồi nắm cú lại thật chặt. Ta tập nhiều lần trong mỗi bài tập. Những lần sau nắm chặt hơn những lần trước. Khi tập, ta nên tì hai chỏ vào hông để luyện tập nắm quyền.
2. Tập Cương Đao:
Bàn tay xòe thẳng, ngón cái cong, ép vào lòng bàn tay, bốn ngón tay kia xếp kín lại. Lúc luyện tập, ta nắm chặt, đấm, xỉa vào các vật mềm rồi dần dần đến vật cứng.
Nên nhớ không gây chấn động nhiều ở các đầu ngón tay.
3. Tập Trảo:
Bàn tay xòe ra, năm ngón tay hơi cong, vươn tới trước. Bàn tay có 5 ngón nên gọi là "Ngũ Trảo". Khi tập ta nên dồn lực vào đầu năm ngón tay.
4. Tập Chưởng:
Bàn tay xòe ra, lòng bàn tay hướng về trước, ngón cái tách riêng hướng thẳng lên trên, bốn ngón khép kín, hơi cong. Lực phát ra dồn ở lòng bàn tay.
5. Tập Chỉ:
Chỉ là cách luyện tập và sử dụng các ngón tay. Ta thường dùng "đơn chỉ" và "hợp chỉ".
a) Tập Đơn chỉ: Tập "Đơn chỉ" là tập ngón cái và ngón trỏ.
- Luyện tập ngón cái: Nắm cú tay thật chặt. Ngón cái chỉ thẳng tới trước và ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ. Lực phát ra dồn ở đầu ngón tay cái.
- Luyện tập ngón trỏ: Ngón trỏ chỉ thẳng tới trước, ba ngón: giữa, đeo nhẫn và út nắm lại, ngón cái ép sát vào đốt tay ngón giữa và nắm chặt lại. Lực phát ra dồn vào đầu ngón tay trỏ. Đơn chỉ thường gây chấn thương ở các chỗ nhỏ, hẹp và mềm...
b) Tập hợp chỉ:
"Hợp chỉ" là cách tập phối hợp để tạo lực ở các ngón tay hay một vài nơi trên bàn tay. Hợp chỉ có nhiều cách, ở đây ta chỉ tập một số "Chỉ" cơ bản thường dùng.
- Tập Xà thao: Bốn ngón: trỏ, giữa, đeo nhẫn và út khép kín, hơi cong "Chỉ" ra trước, ngón cái chỉ thẳng ra trước, mặt trong ngón cái hướng vào lòng bàn tay như miệng con rắn đang há. Lực phát ra, lúc dồn vào ngón cái, lúc dồn vào đầu bốn ngón, lúc phân đều ở các ngón để chụp, kẹp, giữ.
- Tập Long giác: Ngón đeo nhẫn, ngón út và ngón cái gập lại, ép chặt. Hai ngón trỏ và giữa tách thành hình chữ V. Lực dồn ở hai ngón trỏ và giữa.
- Tập Hố trảo: Năm ngón tay cong đều, hơi hở ra như năm móng cọp. Lực phát ra dồn đều ở năm đầu ngón tay, chỉ này dùng để chụp, cấu, xé...
Hoặc ngón cái cong lại, ép sát vào lòng bàn tay, bốn ngón kia khép kín cong lại, tì bốn đầu ngón tay vào ngón cái, siết chặt lại hoặc đôi khi nhô đốt thứ nhất của ngón giữa cao hơn. Chỉ này, lực phát ra dồn ở đầu đốt thứ nhất của ngón giữa.
- Tập Hạc chỉ: Năm ngón tay chúm lại, các đầu ngón tay bằng nhau duỗi thẳng ra trước. Lực phát ra dồn ở điểm chúm của năm đầu ngón tay hay phần đốt xương nhô lên ở mu bàn tay của ngón trỏ.
- Tập Hầu chỉ: Bàn tay dựng đứng thẳng góc với đầu xương trụ và xương quay, năm ngón tay khép kín và cong lại.
Hoặc bàn tay để nhô phần cổ tay và mu bàn tay. Lực phát ra ở chưởng này là phần tiếp giáp ở cổ tay và hai gò bàn tay hay phần cổ tay và mu bàn tay, sau mới dồn đến các "Chỉ".
* Tập đôi cánh tay:
1. Tay Bắt, Chần căn bản:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai cú quyền thủ ngửa vào hông. Sau đứng ngựa thủ quyền tập Bắt, Chần.
- Tập Bắt - Chần thượng bộ:
Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ quyền vào hông, tay phải thủ yên nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang tai bên phải rồi vặn ngửa tay ra hắt đến ngang tai bên trái thì dừng lại. Bàn tay có thể nắm quyền hay dùng chỉ, cạnh xương trụ ở ngoài (BẮT).
Tiếp đến, úp ngón tay lại, đưa qua tai bên phải. Lúc va chạm nơi cạnh bàn tay hay cạnh xương trụ (CHẦN). Tiếp đến, thủ tay trái lại nơi hông rồi tập tay phải BẮT, CHẦN như tay trái. Sau đó, đứng "Ngựa Kim Kê" thủ quyền tập BẮT, CHẦN.
BẮT CHẦN trung bộ:
Vẫn tư thế "ngựa" như trên, tay phải thủ nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang vai bên phải rồi lật ngược lại đến khỏi hông trái thì dừng lại, bàn tay dùng Hổ trảo (BẮT)
Giữ nguyên tư thế BẮT, đưa úp tay qua hông bên phải. Điểm va chạm là mu bàn tay phần mặt trên của xương trụ và xương quay.
2. Tập Ngũ Hành Tay:
a) Tập Ngọn Kim Đâm: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai tay thủ ngửa ở hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua bên tai phải. Bấy giờ tay trái đưa xoáy ra trước, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Tay trái lại tiếp tục bắt lên và dừng lại ngang tai bên trái, tay phải lại đâm xoáy ra trước, tay trái giật chõ về sau. Thủ quyền ngang hông.

23/06/2015

Khi tập luyện võ công, ta thường nghe: "Quyền ba, cước bảy". Từ đó, ta có thể nhận thấy rõ công dụng của "Ngũ Hành Chân". Xét về chiều dài, chân phải dài hơn tay. Do đó, phải luyện tập "Ngũ Hành Chân" cho thuần thục và công phu.
1. Ngọn Kim: (Tập đạp)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền lên trước, co chân trước lên, gối cao hơn vế, mình nghiêng về phía sau, phóng chân đạp ra. Lực phát ra dồn ở gót chân. Đặt chân trước xuống đất, rút gối chân sau, xoay người đưa ra phía trước, nghiêng người, phóng chân đạp ra. Cứ thế ta tập liên hoàn. Hai tay thủ quyền, không dang ra.
2. Ngọn mộc:
Tập gạt chân từ trên xuống dưới. Đứng "Ngựa Kim Kê", đưa chân trước lên hơi xéo về phía trước bụng, dừng ở độ cao thích hợp, phát lực gạt chân xuống. Lựa phát ra, dồn ở gót chân và phải luyện đều hai chân.
3. Ngọn Thủy:
Tập đá trước, từ dưới lên. Đứng "Ngựa Kim Kê", gối chân sau rùn thấp, đá tước chân trước lên. Chấm chân trước xuống đất, dồn trọng lượng về chân trước, gối chân trước rùn xuống thấp, đá tước chân sau lên và cứ thế tập liên hoàn. Nên nhớ lực phát ra dồn ở hai gót chân, tay quyền thủ kín.
4. Ngọn Hỏa:
Tập rút chân về, tập bỏ chân tránh né. Đứng "Ngựa Kim Kê", rút gối thủ đòn, hoặc xê dịch chân tránh sang phải hoặc trái, hoặc triển chân, đưa người về phía sau, tay quyền thủ kín, tập đều hai bên.
5. Ngọn Thổ:
Tập đạp gót chân hay bàn chân xuống đất, hoặc găm gối xuống đất. Đứng "Ngựa Kim Kê", thủ quyền, chân trước rút gối cao hơn vế, phóng chân đạp xuống đất. Lực phát ra dồn ở gót chân hay cạnh bàn chân, tiếp đến tập chân sau và tập liên hoàn.
- Tập Di chuyển Ngựa: Di chuyển "ngựa" tức là tập cách hoán vị "ngựa" để thích nghi trong tập luyện và chiến đấu. Di chuyển "ngựa" có nhiều cách. Ở đây, ta tập một vài cách đơn giản.
1. Di chuyển theo Ngựa Biên (2 điểm)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền chỉnh về phía trước. Khi tập, ta đưa bàn chân sau (B) đến vị trí bàn chân trước (A) và bàn chân trước (A) bỏ vào vị trí bàn chân sau (B). Cứ thế, ta tập liên tục và tập từ chậm đến nhanh dần lên.
2. Di chuyển theo Ngựa Tứ Bình: (4 điểm)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái", chân trái trước, chân phải sau, bàn chân trái trước là điểm A, bàn chân phải sau là điểm B. Khi tập xê dịch, ta đưa B lên B' và A xuống A', và ngược lại A' lên A, và B' xuống B. Cứ thế ta tập đến khi thuần thục. Trong khi tập, tay quyền vẫn thủ.
3. Di chuyển theo Ngựa Ba Chân Hổ: (3 điểm)
Đứng "Ngựa Bát Quái" hay "Kim Kê", chân trái trước, chân phải sau, chân sau hơi xê qua bên mặt độ 5 cm, bàn chân trái là A, bàn chân phải là B. Khi tập di chuyển, ta đưa B lên C và A xuống B rồi ngược lại B lên A và C xuống B. Cứ thế, tập di chuyển cho thuần thục trên ba đỉnh của một đỉnh của một hình tam giác BCA rồi BAC.

Want your school to be the top-listed School/college in Quy Nhon?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Đường Tây Sơn, Phường Quang Trung, Thành Phố Quy Nhơn
Quy Nhon