Tấn pháp là phương pháp luyện tập đôi chân và di chuyển theo hướng của nguyên lý bát quái. Bát quái tượng trưng cho tám quẻ, theo tám hướng và tám con vật. Trong tấn pháp gồm có 9 bộ là: Long tấn, Xà tấn, Kim kê tấn, Hồi phụng tấn, Hồng Hổ tấn, Bạch Hạc tấn, Hắc Hầu tấn, Lạc Nhạn tấn và Trung bình tấn. Trong phần trước, chúng tôi đã giới thiệu về Long tấn, Xà tấn, nay xin tiếp tục giới thiệu các phần còn lại.
+ Phụng tấn
Cấn khúc quyển Đông Bắc, Hồi Phụng, hướng Cấn gạch dưới nguyên, Đông Bắc phụng tấn về.
Bài Phụng hoàng quyền:
Phi Phụng tề my - Ngư hồi lưu thủy
Phụ tử tương tùy - Phục hổ xưng phong
Thiền sư tống khách - Tiên ông tọa thạch
Bạch điểu quá hà - Phù hoa cái dực
Tạm dịch nghĩa:
Phụng bay ngàn mây - Cá theo nước chảy
Cha con theo nhau - Cọp núp gió xoáy
Thầy chùa tiễn khách - Tiên ông ngồi trên đá
Chim trắng qua sông - Bông nổi trùm cành
Tư thế chuẩn bị: Hai tay xòe ra, bốn ngón tay khép lại, ngón tay cái cong vào lòng bàn tay. Hơi hạ người, trọng tâm dồn xuống chân phải. Đưa bàn chân trái ngửa lên trên về phía phải. Bàn chân trái cao ngang tầm đầu gối chân phải. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
+ Kê tấn: Ngựa kim kê
Chấn ngưỡng bổn chính Đông, kim kê. Hướng Chấn, gạch trên nguyên, chánh Đông tấn gà vàng.
Bài kim kê quyền:
Kim kê độc lập - Đại bàng triển dực
Phản đả song chùy - Phi long chiến gốc (giác)
Xung thiên phạt mộc - Khước hổ tấn khai
Huỳnh ngư đảo hải - Thiết đả mai vân
Tạm dịch nghĩa:
Gà vàng đứng một mình - Đại bàng xòe cánh
Đánh ngược hai chùy - Rồng bay húc sừng
Hướng trời chặt cây - Mở tới móng cọp
Cá vàng lượng biển - Sét đánh mây hoa
Tư thế chuẩn bị: Hạ người thấp xuống. Chân phải bước lên trước, mũi bàn chân chạm đất. Chân trái đưa về sau, trọng tâm dồn lên chân trái, đầu gối khuỵu. Hai tay đưa ra trước, bàn tay phải cao bằng mí mắt, tay trái ngang vai. Mắt nhìn thẳng phía trước.
+ Nhạn tấn:
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai trái để trước, kéo đầu gối trái lên và nhảy qua phía trái. Chân trái vừa chạm đất, kéo gối phải lên. Đồng thời đánh thốc cú tay phải lên hướng trước mặt. Ngồi xuống, bàn chân phải kê đúng vào mông phải. Chân trái khuỵu. Tay phải đè lên đầu gối chân trái cao ngang vai, bàn tay ngửa xoay ra trước. Tay trái để nguyên ngang hông trái. Trọng tâm dồn về chân phải. Mắt nhìn về trước.
Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn. Hướng Tốn gạch ngoài cách quãng; Đông Nam tấn nhạn đáp
Bài lạc nhạn quyền:
Lạc nhạn bình sa, ứng trảo quyền
Song long tưởng nguyệt, lập trung thiên
Chuyển thân nghịch cước, kim tiêu cước
Lảo hổ hoành sơn, tảo trực tiền
Tạm dịch nghĩa:
Nhạn đáp cát bằng đường quyền, móng chim ưng
Hai rồng nghịch trăng đứng giữa trời
Trở mình đá nghịch ngọn đá mũi tên vàng
Cọp già ngang núi, quét thẳng phía trước
+ Hạc tấn:
Ly trung hư chính nam bạch hạc
Hướng ly gạch giữa cách quãng
Chính nam, tấn hạc trắng
Tư thế chuẩn bị: Xoay bả vai trước. Chân trái bước chéo qua phải, kéo đầu gối chân phải lên ngang ngực. Từ đầu gối đến ngón chân tạo thành một góc vuông 90 độ. Cẳng chân và bàn chân thẳng.
Tay phải đưa lên cao vòng xuống nửa thân gạt sang phải. Tay trái đưa lên cao hướng trước, bàn tay ngửa hướng trước, mắt nhìn thẳng.
Bài hạc quyền:
Bạch hạc tầm châu - Song phi quyển dực
Mãnh hổ ly sơn - Đơn hồi tam chiến
Thảo đả thông thiên - Ô quy thối bộ
Khẩn phá tam linh - Trung bình đảo thế
Tạm dịch nghĩa:
Hạc trắng tìm báu vật - Hai đá bay cuộn cánh
Cọp mạnh xuống núi - Về một đá ba
Đánh thẳng lên trời - Rùa đen lùi bước
Chạm phá ba sao - Trở thế trung bình
+ Hổ tấn:
Khôn tam đoạn Tây Nam hồng hổ
Hướng Khôn ba gạch đứt
Tây nam tấn cọp hồng
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai trái về trước, tiến chân trái về trước, rộng bằng vai. Xoay hai bàn chân song song về hướng tay phải. Mắt nhìn sang trái, hạ người xuống, đồng thời đưa tay trái gạt vòng lên trước mặt. Ngừng cú tay ngang tầm mắt, tay phải gạt vung hạ bộ. Cú tay chém mạnh xuống gần bắp đùi phải. Trọng tâm cơ thể hơi dồn về chân trái.
Bài hổ quyền:
Hồng hồ khai sơn thiếc chỉ quyền
.. quá hải phản dương tiên
Ô vân cái nguyệt câu hôn cước
Hắc hổ ly sơn thối ngũ liên
Tạm dịch nghĩa:
Cọp hồng mở núi đường quyền ngón sắc
.. qua biển đánh lật hướng dương
Mây đen phủ trắng đá vàng ở hướng âm
Cọp đen lìa núi lui bộ năm lần
+ Hầu tấn:
Đoài thượng khuyết chính tây, hắc hẩu, Hương Đoài gạch trên đứt quãng, chính Tây. Tấn khỉ đen.
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng trên ngựa.
Trung bình tấn. Kéo đầu gối trái lên cao ngang tầm ngực song song với thân mình (thẳng đứng). Cùng lúc đưa hai tay ra trước khuỵu, hai bàn tay nắm nghiêng cao mang tai. Trọng tâm dồn lên chân phải, mắt nhìn thẳng.
Bài hầu quyền:
Hắc hầu đoạt quả, bằng phi cước
Lưỡng hổ tung sơn, đả phản âm
Thoái bộ kim thương, miêu tẩy diện
Âm long để hải, hổ du tâm
Tạm dịch nghĩa:
Khỉ đen đá trái, chim bằng đá bay
Hai cọp đạp núi, đánh ngược hướng âm
Lui bộ thương vàng, mèo rửa mặt
Rồng núi đáy biển, cọp vui lòng
+ Trung bình tấn:
Trung bình tấn là bộ ngựa không di động, làm trụ di chuyển theo yêu cầu của bộ tay. Trụ có vững là tạo điều kiện tốt cho bộ tay hoạt động.
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng, từng bước mở rộng hai bàn chân bằng vai, hai bàn chân song song, mũi bàn chân hướng trước. Khuỵu gối xuống, lưng thẳng. Hai tay cong, bàn tay nắm để ngang hông, mắt nhìn thẳng.
Theo đồ hình bát quái, võ cổ truyền Bình Định có 9 bộ chân (ngựa). Mỗi bộ chân tượng trưng cho một con vật, mỗi con vật có một hướng cố định và mỗi con vật lại kèm theo một bài quyền. Nhưng trong thực tế võ cổ truyền Bình Định thường sử dụng 4 bộ ngựa: Trung bình tấn, Đinh tấn, Chảo mã tấn và Kim kê tấn. Điều đó rút ra từ trong bát quái pháp, được đơn giản hóa để dễ dàng sử dụng trong khâu huấn luyện ở trình độ thấp. Trong mỗi bài quyền, bộ ngựa thay đổi nhau liên tục tùy theo yêu cầu cấu tạo của bài. Bài quyền càng phức tạp, thì bộ ngựa càng di chuyển thay đổi liên tục từ ngựa này sang ngựa khác. Ví dụ: "Túc bất ly địa" không có nghĩa là chân không bao giờ rời đất, mà di chuyển nhẹ nhàng trên mặt đất để di chuyển thay đổi ngựa này với ngựa khác. "Túc bất ly địa" còn có nghĩa là chân đá ra đòn rất nguy hiểm, chủ yếu đá vào bộ hạ, vùng ngực, bụng và hai bên sườn của đối phương.
VÕ ĐƯỜNG VÕ BÌNH ĐỊNH
Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Võ Đường Võ Bình Định. Huấn luyện tự vệ và chiến đấu
Giải mã tác dụng của chùm tua vải sợi gắn sau đuôi kiếm
Ai cũng biết tác dụng và chức năng của lưỡi kiếm, đốc kiếm nhưng trên thanh kiếm còn một phần nữa mà không phải ai cũng biết đến và có biết đến nó thì cũng không biết đến chức năng của nó. Phần này là cái gù gắn ở chuôi kiếm. Nó gồm một sợi dây dài khoảng 15 – 20cm một đầu được buộc chặt vào đuôi kiếm, đầu kia gắn một chùm tua vải sợi.
Những thanh bảo kiếm có những cái gù bằng tua sợi vàng rất đẹp. Chính vì thế mà rất nhiều người lầm tưởng rằng nó la một vật trang trí cho thanh kiếm. Đây chỉ là tác dụng thứ yếu của sợi tua bởi vì trong võ thuật có chứa đựng mỹ thuật. Nhưng những cao tăng, thiền sư ngày xưa không màu mè đến thế, họ suy nghĩ, tìm tòi qua bao năm để tìm ra những công dụng hữu hiệu của binh khí do đó trên món nào cũng không thể có những bộ phận thừa hay màu mè phù phiếm.
Quỹ đạo của lưỡi kiếm thường là những đường tròn, người sử dụng kiếm “vẽ” ra vô số những vòng tròn. Hình từ tay truyền qua lưỡi kiếm phát ra trước. Khi kiếm vẽ những đường tròn thì sợi tua quấn vào cổ tay của người cầm nhằm giữ kiếm vững chắc và cân bằng hình ở mũi kiếm tránh xu hướng văng tới trước của lưỡi kiếm. Tóm lại sợi tua giúp tay giữ vững kiếm trong khi sử dụng, va chạm.
Chùm gù ở ngọn thương thì có tác dụng làm hoa mắt đối phương. Khi quay tròn mũi thương, chùm gù xòe rộng ra làm cho đối phương khó xác định chính xác được vị trí của mũi thương.
Trên sống đao thường được gắn những vòng kim loại tròn vào lỗ trên sống đao. Tác dụng của nó không phải là để treo đao lên vách hay đeo vào dây lưng như nhiều người lầm tưởng. Tác dụng của nó là làm át tiếng xé gió của lưỡi đao do những tiếng loẻng xoẻng của nó gây ra nhằm làm cho đối phương khó xác định được phương hướng và đường đi của lưỡi đao.
Muốn Võ Ta không bị tổn thất, biến dạng hoặc không trở thành một thứ "Võ Ta không còn giá trị to lớn vốn có", phải bằng mọi cách, bảo tồn "Bản sắc" của Võ Ta một cách đầy đủ .
Về đặc trưng kỹ thuật, phải giữ nét chân phương của các bài võ gốc trong cả ba trường hợp: Tập luyện, biểu diễn và hội thi.
Tập bài bản thì phải nghiên cứu sâu sắc, rèn luyện tận lực, kế thừa đầy đủ và tuyệt đối không được "thêm mắm dặm muối", "lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia". Người có quá trình tập luyện Võ Ta lâu dài, có những hiểu biết sâu sắc về võ cổ truyền của dân tộc thì nhất định không bao giờ tùy tiện sửa đổi chiêu thức, làm sai lệch bài bản, làm "mất gốc" cổ bản của tiền nhân vì bất cứ lý do gì.
Biểu diễn, hội thi thì ngoài việc giữ bài bản chính xác như nguyên bổn, còn phải phô diễn được cái "hồn" của bài quyền. Cái hồn, cũng là cái tinh túy của một bài Võ Ta, chỉ bộc lộ khi được người võ sĩ thể hiện có nhịp nhàng (khi nhanh, khi chậm), có sức mạnh, có độ nhanh và có nét (độ biểu cảm). Chúng ta đã từng chứng kiến rất nhiều vận động viên hội thi, biểu diễn, cố gắng đánh thật nhanh, thật mạnh mà bỏ hết những đòn, thế chính của bài quyền, nguy hại hơn nữa là bỏ hết những đường nét đặc trưng kỹ thuật chỉ Võ Ta mới có, như hụp thấp, lặn sâu, tràn dài.... để chạy theo tốc độ.
Theo Luật thi đấu võ cổ truyền Việt Nam hiện hành, tiêu chí chấm điểm bài quyền (tay không và binh khí) có phân định rất rõ và hợp lý giữa các tiêu chí nhưng vẫn không có mấy thí sinh thực hiện đúng các tiêu chí này.
Ví dụ ở Điều 42.1.1.Tiêu chuẩn điểm bài quyền tay không: Tối đa 10 điểm được qui định như sau:
- Kỹ thuật (5 điểm): Độ chính xác về thủ pháp, cước pháp, bộ pháp, điểm dừng, thời gian dừng và thời gian thực hiện bài.
- Sức mạnh, tốc độ (3 điểm): Nhanh gọn, rõ nét, có lực đúng theo qui định của bài.
- Biểu diễn (2 điểm): Tinh thần tự chủ quyết đoán, phong thái ung dung, hoàn thiện được độ khó một cách khéo léo
Và ở Điều 42.1.2. Tiêu chuẩn điểm bài quyền binh khí: Tối đa 10 điểm được qui định như sau:
- Kỹ thuật (5 điểm): Độ chính xác về thân pháp, bộ pháp, yếu lĩnh của từng loại binh khí, điểm dừng, thời gian dừng và thời gian thực hiện bài.
- Sức mạnh, tốc độ (3 điểm): Phối hợp giữa các bộ pháp với các đặc thù của từng loại kỹ thuật thể hiện được ưu điểm, nhanh, mạnh của từng lạoi binh khí đó.
- Biểu diễn (2 điểm): Biểu hiện trạng thái tâm lý ổn định, khả năng thực hiện bài quyền điêu luyện, có hồn, hoàn thiện độ khó của bài.
Theo các Điều 42.1.1 và 42.1.2 thì sức mạnh và tốc độ chỉ có 3 điểm trong khi kỹ thuật (là độ chính xác về đòn, thế trong bài thi) có 5 điểm và độ biểu diễn (đặt nặng phong thái ung dung, thực hiện bài quyền điêu luyện, có hồn...) có 2 điểm, nhưng không hiểu tại sao hầu hết các thí sinh vẫn chạy theo lối đánh mạnh và nhanh đến mức độ hùng hục, vô hồn, vô cảm.
Nếu những người làm công tác giám khảo ở các cuộc hội thi chấm đúng các tiêu chuẩn đã qui định trong các Điều 42.1.1 và 42.1.2 của Luật thi đấu võ cổ truyền Việt Nam hiện hành thì chắc chắn những thí sinh đánh hùng hục, vô hồn, vô cảm, những người không hiểu biết hoặc hiểu biết mà không tôn trọng đặc trưng kỹ thuật của Võ Ta, chỉ đạt tối đa 3 điểm về tiêu chí sức mạnh và tốc độ.
Về truyền thống Võ Ta, người học võ phải luôn thể hiện tinh thần "Thượng võ", ý thức "Uống nước nhớ nguồn" và hành vi "Tôn sư trọng đạo".
Tinh thần Thượng võ, ý thức Uống nước nhớ nguồn và Tôn sư trọng đạo không chỉ là truyền thống của Võ Ta mà còn là truyền thống của cả dân tộc ta. Có thể nói rằng đó là những tiêu thức xác định phẩm hạnh, đức độ, trình độ văn hóa và tâm hồn cao quí của mỗi một con người, trình độ văn minh và khả năng phát triển của một dân tộc.
Học Võ Ta là học "đạo làm người", bởi vì Võ Ta không phải là một môn thể dục, cũng không phải là một trò chơi thể thao. Học Võ Ta là học cách hành xử ở đời hợp với đạo lý. Người có võ hành xử đúng thì mang lại lợi ích cho bản thân và cho nhiều người khác, hành xử sai thì tạo ra hậu quả nguy hại không lường. Cũng từ cách hành xử mà người có võ được xem là quân tử, anh hùng, nghĩa dũng hoặc có thể bị xem là kẻ tiểu nhân, côn đồ, tội phạm.
Làm người bình thường mà tiểu tâm, vô ơn bạc nghĩa, lừa thầy phản bạn đã bị xã hội khinh rẻ, chê cười. Người có võ mà không có tinh thần thượng võ, không biết uống nước nhớ nguồn, không tôn sư trọng đạo lại càng làm cho người đời lên án, xa lánh.
HỌC VÕ THUẬT KHÔNG ĐƠN THUẦN LÀ TẬP THỂ DỤC – THỂ THAO MÀ CÒN LÀ RÈN LUYệN TÍNH KHÍ, ĐẠOO ĐỨC.
VÕ THUẬT CŨNG KHÔNG ĐƠN THUẦN LÀ CÔNG CỤ TỰ VỆ - CHIẾN ĐẤU (BAO GỒM CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT) MÀ CÒN LÀ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC.
Chính vì vậy, người học võ thuật cổ truyền Việt Nam cần xác định mục đích của việc học võ phải bao gồm cả 4 nội dung chủ yếu là:
- Rèn luyện thân thể cường tráng, sức khỏe bền bĩ;
- Xây dựng và nâng cao kỹ năng tự vệ trong chiến đấu, khả năng vượt khó trong cuộc sống;
- Tu dưỡng và hoàn thiện đạo đức bản thân;
- Góp phần bảo tồn và phát triển di sản văn tộc
1. Rèn luyện thân thể cường tráng, sức khỏe bền bỉ:
Ai cũng cần có ý thức về tầm quan trọng hàng đầu của sức khỏe nhưng người học võ thì càng thấu đáo việc này hơn ai hết. Có thân thể cường tráng, sức khỏe bền bỉ thì con người mới có được cuộc sống khỏe mạnh, trường thọ và mới duy trì, phát triển được trí tuệ minh mẫn, óc sáng tạo trong học tập và lao động. Chất lượng cuộc sống từ đó mới được nâng cao.
Người xưa nhờ tập võ mà thân thể tráng kiện, tinh thần minh mẫn, trí óc sáng suốt, tính tình phóng khoáng, cuộc sống thường vui.
2. Xây dựng và nâng cao kỹ năng tự vệ trong chiến đấu, khả năng vượt khó trong cuộc sống:
Con người sinh ra muốn tồn tại thì phải đấu tranh với kẻ thù, chiến đấu chống lại thú dữ và bản lĩnh vượt qua những khó khăn trong sinh kế, nghịch cảnh trong cuộc sống.
Người học võ cần phải xác định một trong những mục đích của việc tập võ là trang bị khả năng tự bảo vệ mình và bảo vệ người khác, tập võ là hướng đến việc xây dựng cho mình một bản lĩnh mạnh mẽ và sự tự tin bất khả chiến bại trước mọi khó khăn của cuộc đời.
3. Tu dưỡng và hoàn thiện đạo đức bản thân:
Học võ là học làm người chân chính, cao thượng, nhân nghĩa, dũng cảm.
Khi nói đến “con nhà võ”, người ta thường nghĩ đến những người có lòng trung thực, tâm tính thật thà, làm việc gì cũng quang minh, chính đại, không làm điều trái ngược đạo lý, giàu không thay lòng, nghèo không đổi dạ, đứng trước quyền uy không khuất phục, gặp cảnh ngộ nào cũng giữ phong thái "chân đạp đất, đầu đội trời". Muốn được như thế, người học võ thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng để hoàn thiện đạo đức bản thân.
4. Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa của dân tộc:
Võ cổ truyền là một phần di sản văn hóa của dân tộc, có cả Vật thể và Phi vật thể.
Phần Vật thể được bảo quản, lưu truyền chủ yếu trong các gia tộc võ dòng, võ phái, bao gồm: võ đường, sân tập, binh thư, sách võ, binh khí, dụng cụ tập luyện nội, ngoại công phu (như: tạ sắt, bao cát, búa gỗ, bọc thiết sa, vòng thiết tuyến, trụ quấn dây dừa...), dụng cụ chữa trị chấn thương, trật đả (hủ đựng thuốc giầm rượu, băng vải, nẹp gỗ uốn nắn xương khớp...)
Phần Phi vật thể được tâm truyền, khẩu truyền và truyền đạt trực tiếp bằng cách “cầm tay uốn nắn” giữa các thế hệ võ nghiệp, từ đời này sang đời khác, bao gồm: Các bài tập và phương pháp tập quyền cùng tập thập bát ban võ nghệ, các bài thuốc y võ và phương pháp chữa trị bệnh tật, các lễ lệ, lễ hội...
Chính vì vậy, theo thầy học võ không chỉ để rèn luyện sức khỏe, có khả năng tự vệ, hoàn thiện đạo đức bản thân mà còn cùng thầy và chư huynh đệ đồng môn có trách nhiệm bảo tồn, phát triển và lưu truyền di sản văn hóa của dân tộc, hướng đến việc góp phần làm giàu đời sống tinh thần của nhân dân.
Bốn nội dung chủ yếu trên phải đồng hành và bổ sung cho nhau thì mục đích của người học võ mới đầy đủ và chân chính
Khí là nguồn năng lực sống của con người (vital energy). Có hai loại Khí: Khí Tiên Thiên do cha mẹ truyền thụ, Khí Hậu Thiên do ta tiếp thụ qua dinh dưỡng và môi trường sống. Khí luân lưu khắp cơ thể, qua các đường Kinh Mạch vào lục phủ ngũ tạng. Khí biểu hiện dưới cả hai dạng vật chất và tinh thần (các nhà khoa học đã dùng máy móc để thí nghiệm và xác minh điều đó), nhưng với mắt thường ta không nhìn thấy được. Không bao giờ được lầm lẫn Khí và Khí Trời (tức không
khí), vì không khí (air) chỉ là một trong những phương tiện, dùng để hô hấp trong khi Luyện Khí.
Võ lâm Trung Nguyên thường truyền tụng một câu nói rất nổi tiếng:
Lực bất đả quyền
Quyền bất đả công
Luyện vũ bất luyện công
Ðáo lão nhất trường không.
Có nghĩa là "người chỉ có sức khỏe không thôi thì không thể đánh người giỏi quyền pháp, và người có quyền pháp không thắng được người có Khí Công. Tập võ mà không luyện Khí Công thì khi về già sẽ không còn gì nữa".
Những Phương Pháp Thở Thông Thường Ðể Chuẩn Bị Luyện Khí
Lưu ý: Thở đúng phương pháp là phần cơ bản của việc luyện Công. Thở hàng ngày là thở tự nhiên, thở vô thức. Thở Khí Công hay Nội Công là thở có ý thức, thở theo phương pháp. Các bài thở thông thường này, chưa cần thiết phải áp dụng những phương pháp Nhập Tĩnh, Thu Công.
Tư Thế : Trong khi luyện thở, có thể Nằm - Ngồi - Ðứng đều được cả, nhưng bao giờ cũng phải cho đầu, cổ và xương sống thật thẳng thì Khí mới có thể lưu thông được.
Nằm: trên một mặt bằng và cứng (không nệm, không gối đầu), hai tay để úp, xuôi theo thân mình. Hai chân duỗi thẳng, gót chân chạm nhau, mũi bàn chân ngả ra hai bên. Tư thế nằm áp dụng cho những người sức khỏe quá yếu, hoặc những người thiếu máu, không thể ngồi lâu được.
Ngồi: ngồi xếp bằng theo lối bán già hay kiết già tùy ý, cũng có thể ngồi trên ghế, không dựa lưng, hai chân để xuôi xuống sàn một cách tự nhiên, ngay ngắn, hai tay buông xuôi xuống hoặc để trên hai bắp vế. Ðiều quan trọng là phải giữ cho đầu, cổ xương sống xuống đến hậu môn ở trên một đường thẳng. Ngồi là tư thế đúng nhất và tốt nhất cho việc Luyện Khí´.
Ðứng: Hai chân đứng song song, dang rộng khoảng 25cm, cho vững, hai tay buông xuôi theo thân người, hai đầu gối hơi chùng xuống một chút, nặng ở hai gót chân, buông lỏng hai vai. Tư thế đứng dùng để tập luyện nhiều động tác quan trọng.
Dù ở tư thế nào, thân, vai, bụng đều buông lỏng, thoải mái. Trước khi thở phải gạt bỏ hết mọi ý nghĩ, tập trung tinh thần vào hơi thở. Trước khi Luyện Khí nên biết Thư Giãn. Không biết Thư Giãn thì kết quả Luyện Khí sẽ bị giới hạn rất nhiều:
Thư giãn Cơ Bắp: buông lỏng tất cả dường gân, thớ thịt: từ đầu ngón tay cho tới tứ chi, vai, bụng và toàn thể thân người, coi như toàn thân mềm nhũn ra, không còn một trương lực nào cả.
Thư giãn Tâm Thần: để bộ não từ từ tan biến đi, không còn một ý thức nào nữa, không nghe, không thấy, không biết gì nữa, cứ để tâm chìm vào hư vô... Mới đầu khó thực hiện, nhưng sau sẽ quen dần. Ðộng tác Thư Giãn sẽ giúp ta thấy nhẹ nhàng, khoan thai, dễ chịu sau những giờ làm việc căng thẳng. Thư giãn thoải mái xong mới bắt đầu tập luyện.
I. Thở Bụng: (còn gọi là thở Thuận):
Phương pháp thở bụng 2 thời liên tục: ngồi bán già hay kiết già, hay ngồi trên ghế hoặc đứng, hoặc nằm trên mặt phẳng và cứng, không gối đầu, mục đích giữ cho đầu, cổ, lưng thật thẳng, hai tay buông xuôi.
Nạp Khí: Từ từ hít hơi vào thẳng bụng dưới theo phương pháp: đều, nhẹ, êm, sâu (khi đầy, bụng hơi phình ra).
Xả Khí: ngay khi đó, từ từ thở ra cũng đều- nhẹ - êm và thở ra hết.
Ghi chú quan trọng:
- Hít vào và thở ra đều bằng mũi.
- Công thức : mới tập theo công thức 3-3 (nghĩa là hít vào trong 3 giây và thở ra cũng đúng 3 giây, nghĩa là thở 10 vòng trong 1 phút. Cách đếm : ba trăm lẻ một, ba trăm lẻ hai, ba trăm lẻ ba... cứ đếm đều đặn là rất đúng, nếu cần lấy đồng hồ ra căn lại cách đếm cho chính xác hơn), dù ta có thể tập dài hơn cũng đừng cố, phải tập ít nhất trong 3 tuần lễ mới có thể tăng dần.
Về sau, khi đã tập luyện vững vàng rồi, ta có thể theo công thức : 5-5 (tức 5 vòng thở ra một phút) hoặc 6-6 (tức 6 vòng thở trong một phút). Một người bình thường, thở trung bình 15 vòng trong 1 phút, nếu nay ta thở chỉ còn 10 vòng/phút là đã khá tốt rồi.
So sánh với nhịp thở của một loài động vật: gà mái 30 nhịp /phút, chó 28 nhịp /phút, mèo 24 nhịp /phút, ngựa 16 nhịp /phút, rùa 2 nhịp /phút. Nếu nhiều công phu tập luyện, sau này ta có thể thở từ 2 nhịp hay 1 nhịp trong một phút thì tuổi thọ của ta có thể tăng lên như loài rùa. Mặt khác, khi thở chậm, nhịp tim cũng sẽ đập chậm lại và đều hơn. Giả thử nhịp tim đang từ 90 giảm xuống 60 lần/phút, tức là tiết giảm được 30 lần/phút. Nếu tính trong một năm thì sẽ tiết giảm được: 30 lần x 60 x 24 x 365 ngày = 15,768,000 lần.
Tập đúng: thân thể tráng kiện, da mặt hồng hào, sáng láng, mắt sáng, tinh thần thoải mái dễ chịu.
Tập sai: Nồng độ CO2 trong máu quá cao, gây ra các triệu chứng dễ nhức đỉnh đầu và vùng gáy. Tim bị hồi hộp, ăn không tiêu... gặp trường hợp này, xả trong một tuần lễ sẽ khỏi (xem cách XẢ ở phần Thụ Công - đoạn chót bài 4).
Phương pháp thở bụng 3 thời: công thức 3-3-3 hoặc 4-4-4. Nghĩa là Nạp Khí trong 3 giây. Sau đó dồn khí xuống Ðan Ðiền (tức huyệt Khí Hải - cách lỗ rốn khoảng từ 3 tới 4 cm), ngưng tụ khí tại đó trong 3 giây, làm cho đan điền căng lên, đồng thời ta nhíu hậu môn và đường tiểu tiện lại. Sau đó, buông lỏng tất cả và từ từ Xả Khí ra trong 3 giây, cho không khí ra hết, xả xong lại tiếp tục Nạp Khí, thở cho vòng kế tiếp, liên tục không ngừng. Sự ngưng tụ khí tại Ðan Ðiền này rất quan trọng sẽ giải thích sau.
Phương pháp thở bụng 4 thời: công thức 3-3-3-3 về sau khi thở đã quen có thể áp dụng công thức 4-4-4-4 hoặc cao hơn nữa (nhưng đừng cố quá sẽ có hại!).
Nạp trong 3 giây, ngưng tụ tại Ðan Ðiền trong 3 giây, nhíu hậu môn và đường tiểu tiện lại, như nói ở đoạn trên. Sau đó buông lỏng tất cả, Xả (tức thở ra nhẹ, đều, êm trong 3 giây cho hết không khí). Khi bụng đã xẹp hết hơi, ta Bế Khí, tức
là ngưng thở hoàn toàn, để bụng trống rỗng trong 3 giây... rồi lại tiếp tục Nạp Khí cho vòng kế tiếp .Ghi chú: Việc thở phải điều hòa, liên tục, nhịp nhàng và bao giờ cũng phải Êm - Nhẹ - Ðều - Dài. Thở hấp tấp, vội vàng, cốt cho đủ số là hoàn toàn vô ích!
Nên khai thác triệt để hơi thở trong ngày: nếu ta chỉ tập thở trong những buổi chính thức theo đúng nghi thức, thì nhiều lắm, mỗi ngày, ta cũng chỉ tập được hai buổi (mỗi buổi khoảng nửa giờ mà thôi) và tất nhiên kết quả chỉ có giới hạn.
Nhưng theo lối thở phổ thông trình bày ở trên, ta có thể thở bất cứ lúc nào, bất cứ tại đâu, tại văn phòng, trong xưởng, trong phòng khách, tại nơi đang làm việc v.v... Ta khai thác được rất nhiều dịp thở trong ngày mà những người xung quanh không hay biết, theo kiểu "tích tiểu thành đại", lâu dần thành thói quen.
Càng thở nhiều càng thấy thoải mái dễ chịu không bị mệt mỏi, căng thẳng, chán nả n, mất tinh thần... Tất nhiên không nên thở lúc ăn no, uống say hoặc lúc làm việc nặng.
II . Thở Ngực (còn gọi là thở nghịch):
Ðây là phương pháp thở phổ thông trong các môn thể thao, điền kinh của Tây phương.
Phương Pháp
Khi Nạp Khí, ta dồn không khí lên ngực trên, bụng sẽ thót lại. Lúc Xả Khí, ngực sẽ xẹp xuống, bụng hơi phình ra. Phép thở nghịch tốt cho Phế Nang Thượng, làm cho ngực nở nang, nhưng không hữu dụng cho phương pháp tập KHÍ CÔNG.
Lý giải theo Y-học Tây phương:
Khi ta tập các cơ bắp như tập tay, tập chân, tập cổ, tập ngực v.v... ta thường dùng các dụng cụ như tạ, dây kéo, para fix, parallel, hoặc hít đất, nhẩy xổm, bơi lội v.v... Nhưng nếu ta muốn tập các bộ phận bên trong như Tim, Gan, Tì, Phế, Thận (ngũ tạng) hoặc DạDầy, Mật, Bàng Quan, Tam Tiêu, Ruột Non, Ruột Già (lục phủ)... nhất là các Kinh Mạch và Thần Kinh, thì chúng ta tập ra sao?
Người xưa dạy ta tập bằng cách Thở Khí Công: khi ta Nạp không khí vào phần Hạ Phế (phổi dưới) - nói là thở Bụng, nhưng thực tế, không bao giờ không khí có thể vào thẳng bụng được. Không khí vào phần Phổi dưới, nó sẽ nở ra, đẩy Cơ
Hoành và Cơ Bụng xuống, làm cho Lục Phủ Ngũ Tạng bị ép nhẹ xuống. Khi ta Xả Khí, Cơ Hoành và Cơ Bụng lại nâng Lục Phủ Ngũ Tạng lên. Như vậy, toàn bộ các cơ quan trong người ta cứ liên tục bị nhồi lên, ép xuống một cách nhẹ nhàng, nhu nhuyễn, như vậy các bộ phận bên trong của ta đã được "thoa bóp bằng hơi một cách vô cùng êm ái". Nói cách khác, Lục Phủ Ngũ Tạng của ta đã được tập luyện bằng những đệm hơi rất vi tế. Một khi các bộ phận trong người đã được tập có phương pháp như thế thì tất nhiên chúng sẽ trở nên linh hoạt, không bịu trệ và hoạt động tốt hơn, do đó Kinh Mạch của ta sẽ vận hành đều hòa hơn. Mặt khác, vì phải tập trung tinh thần, không suy nghĩ vẩn vơ, điều này sẽ giúp cho Thần Kinh của chúng ta vững vàng, Tâm không bị giao động, âm dương được quân bình.
Tập như thế, tức là Tập Bên Trong - Công Phu Tập Luyện Bên Trong- Tức là Tập Nội Công vậy.
Ghi chú: Nếu chịu khó tập Thở Nội Công liên tục đều đặn, sau 3 tháng sẽ có kết quả cụ thể : người khỏe mạnh, năng động, vui tươi, giảm lượng đường trong máu, giảm cholesterol, giảm huyết áp (nếu có), ăn uống, tiêu hóa tốt, sinh lý mạnh và có thể chữa khỏi những chứng bệnh thông thường.
Có một giai đoạn lịch sử của võ Ta – võ Cổ truyền dân tộc từ đầu đến gần hết hậu bán thế kỷ XX, người ta thường dùng các từ “Quầng” hay “dzợt” để nói đến hoạt động giao đấu võ thuật dưới sân đất và “Đấu võ đài” hay “”Đấu đài” là hoạt động thi đấu võ thuật trên võ đài.
“Quầng” hay “dzợt” dưới sân đất diễn ra trong 4 trường hợp:
1. Trường hợp thứ nhất là: Anh em đồng môn tự quầng với nhau sau mỗi buổi tập. Mục đích của những buổi quầng này là để rút kinh nghiệm về việc rèn luyện đòn, thế và tình huống giao đấu đã được tập luyện trong buổi tập hôm ấy.
2. Trường hợp thứ hai là: Anh em đồng môn đã có quá trình tập luyện từ 3 tháng trở lên quầng với nhau trước sự chứng kiến của người thầy. Mục đích của những buổi quầng này là để thầy kiểm tra và rút kinh nghiệm về thi đấu, chiến đấu cho từng người.
3. Trường hợp thứ ba là: Những võ sĩ, huấn luyện viên khác lò võ tự nguyện quầng với nhau khi được sự cho phép của các vị thầy ở các lò có liên quan. Mục đích của những buổi quầng này là để các võ sĩ, huấn luyện viên cọ xác nhằm nâng cao kinh nghiệm khi gặp các đòn, thế lạ, qua đó rút ra kinh nghiệm giao đấu phong phú hơn. Đôi khi, những buổi quầng này cũng để thử tài cao thấp giữa các võ sĩ, huấn luyện viên hoặc kiểm tra võ sĩ trước khi thượng đài thi đấu.
4. Trường hợp thứ tư là: Các vị thầy có thân tình với nhau muốn giao lưu. Mục đích của những buổi quầng này chỉ để giao lưu, tạo ra những kỷ niệm trong cuộc đời võ nghiệp, hiếm khi được xem là để thử tài cao, thấp. Tuy nhiên, những trường hợp này rất ít khi diễn ra vì dễ gây hiểu nhầm, tạo ra dư luận không tốt cho uy tín của các thầy.
Khi “Quầng” hay “dzợt”; các thầy và các võ sĩ, võ sinh thực hiện kỹ thuật “bắt bông, bỏ bộ”, có nghĩa là “tay bắt bông” và chân “bỏ bộ”.
“Bắt bông” là hai tay múa quyền liên tục theo các đường vòng cung, vòng tròn, thuận và nghịch với chiều kim đồng hồ, nhằm hai mục đích:
- Phòng thủ kín đáo mặt tiền (bao gồm vùng mặt, ngực và bụng)
- Làm hoa mắt địch thủ, làm cho địch thủ không tiên đoán được những đòn sắp tấn công của ta.
Kỹ thuật “bắt bông” thường thấy của Võ Ta có bộ tay chuyền: Cánh tay này đặt dưới cánh tay kia rồi cánh tay dưới đẩy ra còn cánh tay trên thu về bên sườn cùng chiều; Sau đó đổi lại, cánh tay ở sườn vươn ra và đặt dưới cánh tay vừa đẩy ra khi cánh tay này được thu về. Cứ thế tiếp tục thực hiện động tác tay chuyền trong khi chân bỏ bộ.
“Bỏ bộ” là hai chân di chuyển tới (tấn), lui (thối), ngang qua trái hoặc qua phải (hoành) bằng một chân hoặc hai chân cùng một lúc với 2 bộ ngựa: Ngựa trung bình và ngựa tứ bình.
- Ngựa trung bình là bộ ngựa khi di chuyển thì hai chân rùn thấp đều ở khớp gối và hai bàn chân hướng về một phía.
- Ngựa tứ bình là bộ ngựa khi di chuyển thì hai chân rùn thấp đều ở khớp gối như ngựa trung bình nhưng bàn chân trước hướng xéo 450 và bàn chân sau hướng ngang 900 so với đường thẳng nối giữa hai bàn chân.
Tuy nhiên, tìm hiểu về “bỏ bộ” cũng cần tìm hiểu về cách “phát thế” của người xưa, vì trong quá trình giao đấu không phải lúc nào người ta cũng di chuyển mà thỉnh thoảng dừng lại phát thế.
“Phát thế” là một hình thức phô bày thế võ trong tư thế chân trụ vững, tay “khấu quyền”.
Chân trụ vững thường theo 4 bộ tấn: Tấn trung bình, tấn tứ bình, tấn đinh và tấn trảo mã.
- Tấn trung bình có phương vị như ngựa trung bình nhưng ở tư thế cố định.
- Tấn tứ bình có phương vị như ngựa tứ bình nhưng ở tư thế cố định.
- Tấn đinh là thế trụ có một chân gập ở gối và một chân duỗi thẳng nhưng trong trường hợp này 2 bàn chân ở trên một đường thẳng ngang trước đối thủ.
- Tấn trảo mã là thế trụ có chân trước gập ở gối hướng về đối thủ, mũi bàn chân chạm đất và chân sau rùn gối, bàn chân nằm ngang.
Tay khấu quyền có 2 cách được gọi là “thủ” và “phơi”.
- Khi khấu quyền “thủ”, hai cánh tay tạo thành thế đan xen, khép lại gần thân để bảo vệ thân trước trong tư thế phòng thủ.
- Khi khấu quyền “phơi” thì hai tay dang rộng, dù đang phòng thủ nhưng cố ý để hở bụng, ngực để “mời” đối thủ tấn công.
Phát thế “phơi” có thể hiểu là thế dụ địch. Trong trường trận đó chính là thế mai phục nên người phát thế “phơi” luôn có cách hóa giải và phản công hiệu quả khi bị tấn công.
Trong công việc nghiên cứu, biên khảo các kỹ thuật đặc trưng của Võ Ta như Bông pháp, Thân pháp, Ngựa tứ bình, Ngựa hồng mao, Hốt ngựa..., khi đến Bắt bông bỏ bộ, chúng tôi trộm nghĩ có thể “phát thế” là một cách để võ giới trình diễn nét đẹp quyền thức của Võ Ta giống như “chơi chữ” là cách để giới văn nhân phô bày tính thông minh, độc đáo trong văn chương chăng?
Ngoài cách phát thế thường thấy các võ sĩ ngày xưa sử dụng là chân trụ tấn trảo mã, một nắm tay đặt ở hông, cánh tay kia cung lại trước ngực, bàn tay trước có lúc mở có lúc nắm, còn có một số cách phát thế đặc thù như “Mãnh hổ diêu đầu”, “Sơn đông kỵ mã” (khấu quyền thủ), “Tiên ông túy tửu”, “Giác long thủ phủ triều thiên”(khấu quyền phơi)…
Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề “phát thế” trong một bài viết đầy đủ, còn bây giờ xin được tóm lại chủ đề của bài viết này là: Có thể hình dung về “bắt bông, bỏ bộ” trong giao đấu của võ Ta ngày xưa là tay múa quyền liên tục theo các đường vòng cung, vòng tròn, thuận và nghịch với chiều kim đồng hồ trong khi chân di chuyển theo ngựa trung bình, ngựa tứ bình còn thân thì tràn, lách, tránh né, hụp, lặn, hốt ngựa; và đôi khi các võ sĩ dừng lại, “phát thế” để phô bày nét đẹp hoa mĩ, đặc trưng của môn võ cổ truyền của dân tộc Việt
Nói đến miền đất Võ Bình Định người ta nhắc đến những võ sư “vườn”, những thầy võ ẩn danh sau những làng quê bình dị. Ở đó, võ đã lan tỏa và thấm sâu vào từng cộng đồng làng và hình thành nên những làng võ rất đặc trưng.
* Nơi lưu giữ nét đặc trưng đất Võ
Long rong qua những làng quê Bình Định, ấn tượng đầu tiên của chúng tôi vẫn là những võ đường thôn dã. Chỉ một mảnh vườn đất bằng trước hay sau nhà, treo vài chiếc bao cát, vậy là thành võ đường. Mà hầu như, huyện nào cũng có những võ đường như vậy.
Lò võ của võ sư Phan Thọ (Tây Sơn) chỉ là mảnh vườn mé trước nhà. Khoanh đất chỉ vừa đủ rộng để các võ sinh tập các bài quyền thuật, binh khí hay luyện đấu đối kháng. Vậy nhưng, đây đã là nơi tụ hội của võ sinh từ nhiều địa phương trong nước, thậm chí nước ngoài, về tầm sư học đạo. Lò võ của võ sư Hồ Sừng cũng vậy, có khác hơn là ông đã dựng lên được mái tôn, làm nơi cho các môn sinh luyện võ. Còn lò võ võ sư Lâm Ngọc Phú thì cũng chỉ là mảnh sân sát nhà… Vậy mà lò võ nào, ngày thường thì thỉnh thoảng lại có người mộ võ đến học; còn mùa hè thì luôn sáng đêm với những cô cậu học trò tranh thủ kiếm chút võ để phòng thân.
Bản thân các võ sư danh tiếng đất Võ cũng được trao truyền từ những mảnh vườn như vậy. Thường thường, họ học võ trong nhà, từ cha, ông nội, rồi học thêm các ân sư khác, cho đến khi thành mới thôi. Võ sư Hồ Nhu là một ví dụ. Chuyện rằng, năm võ sư mười hai tuổi, mẹ ông đã nhờ một võ sư trong vùng dạy võ; tối về, bà uốn nắn cho con những chỗ sai. Những đêm trăng sáng, bà dẫn ông ra vườn, chỉ dẫn cho từng chiêu thức. Còn võ sư Phan Thọ là đệ tử chân truyền của rất nhiều cao thủ thời bây giờ như: Cai Bảy, Sáu Hà, Tàu Sáu, Hồ Nhu... Đã có lúc, để có tiền học võ, ông đã phải dắt bò nhà đi bán, dẫu khi ấy, con bò là cả “đầu cơ nghiệp” với nhà nông. Còn võ sư Trần Quang Diễn thì vẫn nhớ như in những ngày theo cha tập võ; 8 tuổi, ông đã múa võ lấy tiền và sau đó, theo học tổng cộng 14 ân sư khác.
* Trao truyền một truyền thống
Từ mảnh vườn quê ấy, thế hệ võ sư này sang thế hệ võ sư khác, được âm thầm trao truyền truyền thống thượng võ của người Bình Định. Võ sư Hồ Bửu từng nhận xét: “Khác với các môn phái võ thuật Trung Hoa có tổ chức, có chưởng môn, có một vùng quản hạt, một hệ thống truyền bá. Võ Việt cổ truyền, võ Tây Sơn lại hoàn toàn ngược lại. Trong làng, trong thôn, trong xã, đâu đâu cũng có người dạy võ. Người biết nhiều, kẻ biết ít, cha dạy con, vợ dạy chồng”. Và chính tính lan tỏa của võ trong cộng đồng làng, đã kết tinh thành một hiện tượng đặc sắc của võ Bình Định là làng võ. Và cũng do vậy, võ Bình Định ít có bí truyền. Ngay võ sư Phi Long Vịnh, với ngón võ Phi Long rất nổi tiếng của dòng họ, cũng từng nói vậy. Ông khẳng định: “Nói là bí truyền thì thật ra chẳng có đâu. Nhiều võ đường khác cũng biết đòn ấy cả, chỉ có điều họ không chuyên. Còn người họ Trương thì đã luyện đòn này từ hồi còn để chỏm. Tuyệt kỹ hay không cũng là nhờ tập luyện “bã” cả người ra mà nên”.
Cho nên, ở Bình Định, một võ sư có thể theo học nhiều ông thầy, nhiều phái võ khác nhau. Võ sư Lâm Ngọc Phú (An Thái) cho biết, ông thân của ông vừa học võ gia đình từ cha, vừa học thêm ở cụ Tàu Sáu và kết hợp hai nguồn võ Tàu, võ ta để lập nên phái Bình Sơn. Còn võ sư Hồ Bửu thì may mắn là học trò của hai danh sư Hồ Nhu và Diệp Bảo Sanh. Hồ Bửu kể: “Ngày tôi học võ thầy Hồ Nhu, tôi hỏi ý kiến thầy Diệp Bảo Sanh. Thầy bảo: không sao, con cứ học để biết cái sở trường, sở đoản của mình và các môn võ khác “.
* Khôi phục những làng võ, tại sao không?
Bình Định hiện có 93 võ sư và huấn luyện viên võ cổ truyền, với gần 4.000 võ sinh đang tập luyện. Trong đó, nhiều nhất là Hoài Nhơn, Tuy Phước. Tuy nhiên, điều đáng buồn là ngay tại các làng võ, số lò võ còn lại rất ít. Trong định hướng chung của ngành văn hóa và thể thao Bình Định, việc phục hồi các làng võ vẫn chưa được chú tâm nhiều.
Viết đến đây lại nhớ đến nhận xét của một nghệ sĩ, vốn đã tham dự nhiều Festival lớn trong nước. Theo anh, ở Bình Định, một hiện tượng không đâu có là các làng võ. Vậy mà, trong chương trình Festival Tây Sơn - Bình Định 2008, cả Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam tổ chức năm rồi, các làng võ vẫn chưa trở thành điểm đến. “Hồi sinh được các làng võ, quảng bá về nó, sẽ tạo sức hút lớn với du khách, nhất là du khách nước ngoài mà không địa phương nào có”- nghệ sĩ này nhận xét. Bên cạnh đó, những trận đấu võ đài giữa các lò võ, luôn có sức thu hút rất lớn với du khách, cũng cần được tổ chức như một điểm nhấn trong Festival.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Address
Đường Hàn Mặc Tử, Tổ 20, Khu Vực 4, Phường Ghềnh Ráng, Thành Phố Quy Nhơn
Quy Nhon
590000