VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

Share

19/07/2017

Tấn pháp là phương pháp luyện tập đôi chân và di chuyển theo hướng của nguyên lý bát quái. Bát quái tượng trưng cho tám quẻ, theo tám hướng và tám con vật. Trong tấn pháp gồm có 9 bộ là: Long tấn, Xà tấn, Kim kê tấn, Hồi phụng tấn, Hồng Hổ tấn, Bạch Hạc tấn, Hắc Hầu tấn, Lạc Nhạn tấn và Trung bình tấn. Trong phần trước, chúng tôi đã giới thiệu về Long tấn, Xà tấn, nay xin tiếp tục giới thiệu các phần còn lại.
+ Phụng tấn
Cấn khúc quyển Đông Bắc, Hồi Phụng, hướng Cấn gạch dưới nguyên, Đông Bắc phụng tấn về.
Bài Phụng hoàng quyền:
Phi Phụng tề my - Ngư hồi lưu thủy
Phụ tử tương tùy - Phục hổ xưng phong
Thiền sư tống khách - Tiên ông tọa thạch
Bạch điểu quá hà - Phù hoa cái dực
Tạm dịch nghĩa:
Phụng bay ngàn mây - Cá theo nước chảy
Cha con theo nhau - Cọp núp gió xoáy
Thầy chùa tiễn khách - Tiên ông ngồi trên đá
Chim trắng qua sông - Bông nổi trùm cành
Tư thế chuẩn bị: Hai tay xòe ra, bốn ngón tay khép lại, ngón tay cái cong vào lòng bàn tay. Hơi hạ người, trọng tâm dồn xuống chân phải. Đưa bàn chân trái ngửa lên trên về phía phải. Bàn chân trái cao ngang tầm đầu gối chân phải. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
+ Kê tấn: Ngựa kim kê
Chấn ngưỡng bổn chính Đông, kim kê. Hướng Chấn, gạch trên nguyên, chánh Đông tấn gà vàng.
Bài kim kê quyền:
Kim kê độc lập - Đại bàng triển dực
Phản đả song chùy - Phi long chiến gốc (giác)
Xung thiên phạt mộc - Khước hổ tấn khai
Huỳnh ngư đảo hải - Thiết đả mai vân
Tạm dịch nghĩa:
Gà vàng đứng một mình - Đại bàng xòe cánh
Đánh ngược hai chùy - Rồng bay húc sừng
Hướng trời chặt cây - Mở tới móng cọp
Cá vàng lượng biển - Sét đánh mây hoa
Tư thế chuẩn bị: Hạ người thấp xuống. Chân phải bước lên trước, mũi bàn chân chạm đất. Chân trái đưa về sau, trọng tâm dồn lên chân trái, đầu gối khuỵu. Hai tay đưa ra trước, bàn tay phải cao bằng mí mắt, tay trái ngang vai. Mắt nhìn thẳng phía trước.
+ Nhạn tấn:
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai trái để trước, kéo đầu gối trái lên và nhảy qua phía trái. Chân trái vừa chạm đất, kéo gối phải lên. Đồng thời đánh thốc cú tay phải lên hướng trước mặt. Ngồi xuống, bàn chân phải kê đúng vào mông phải. Chân trái khuỵu. Tay phải đè lên đầu gối chân trái cao ngang vai, bàn tay ngửa xoay ra trước. Tay trái để nguyên ngang hông trái. Trọng tâm dồn về chân phải. Mắt nhìn về trước.
Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn. Hướng Tốn gạch ngoài cách quãng; Đông Nam tấn nhạn đáp
Bài lạc nhạn quyền:
Lạc nhạn bình sa, ứng trảo quyền
Song long tưởng nguyệt, lập trung thiên
Chuyển thân nghịch cước, kim tiêu cước
Lảo hổ hoành sơn, tảo trực tiền
Tạm dịch nghĩa:
Nhạn đáp cát bằng đường quyền, móng chim ưng
Hai rồng nghịch trăng đứng giữa trời
Trở mình đá nghịch ngọn đá mũi tên vàng
Cọp già ngang núi, quét thẳng phía trước
+ Hạc tấn:
Ly trung hư chính nam bạch hạc
Hướng ly gạch giữa cách quãng
Chính nam, tấn hạc trắng
Tư thế chuẩn bị: Xoay bả vai trước. Chân trái bước chéo qua phải, kéo đầu gối chân phải lên ngang ngực. Từ đầu gối đến ngón chân tạo thành một góc vuông 90 độ. Cẳng chân và bàn chân thẳng.
Tay phải đưa lên cao vòng xuống nửa thân gạt sang phải. Tay trái đưa lên cao hướng trước, bàn tay ngửa hướng trước, mắt nhìn thẳng.
Bài hạc quyền:
Bạch hạc tầm châu - Song phi quyển dực
Mãnh hổ ly sơn - Đơn hồi tam chiến
Thảo đả thông thiên - Ô quy thối bộ
Khẩn phá tam linh - Trung bình đảo thế
Tạm dịch nghĩa:
Hạc trắng tìm báu vật - Hai đá bay cuộn cánh
Cọp mạnh xuống núi - Về một đá ba
Đánh thẳng lên trời - Rùa đen lùi bước
Chạm phá ba sao - Trở thế trung bình
+ Hổ tấn:
Khôn tam đoạn Tây Nam hồng hổ
Hướng Khôn ba gạch đứt
Tây nam tấn cọp hồng
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai trái về trước, tiến chân trái về trước, rộng bằng vai. Xoay hai bàn chân song song về hướng tay phải. Mắt nhìn sang trái, hạ người xuống, đồng thời đưa tay trái gạt vòng lên trước mặt. Ngừng cú tay ngang tầm mắt, tay phải gạt vung hạ bộ. Cú tay chém mạnh xuống gần bắp đùi phải. Trọng tâm cơ thể hơi dồn về chân trái.
Bài hổ quyền:
Hồng hồ khai sơn thiếc chỉ quyền
.. quá hải phản dương tiên
Ô vân cái nguyệt câu hôn cước
Hắc hổ ly sơn thối ngũ liên
Tạm dịch nghĩa:
Cọp hồng mở núi đường quyền ngón sắc
.. qua biển đánh lật hướng dương
Mây đen phủ trắng đá vàng ở hướng âm
Cọp đen lìa núi lui bộ năm lần
+ Hầu tấn:
Đoài thượng khuyết chính tây, hắc hẩu, Hương Đoài gạch trên đứt quãng, chính Tây. Tấn khỉ đen.
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng trên ngựa.
Trung bình tấn. Kéo đầu gối trái lên cao ngang tầm ngực song song với thân mình (thẳng đứng). Cùng lúc đưa hai tay ra trước khuỵu, hai bàn tay nắm nghiêng cao mang tai. Trọng tâm dồn lên chân phải, mắt nhìn thẳng.
Bài hầu quyền:
Hắc hầu đoạt quả, bằng phi cước
Lưỡng hổ tung sơn, đả phản âm
Thoái bộ kim thương, miêu tẩy diện
Âm long để hải, hổ du tâm
Tạm dịch nghĩa:
Khỉ đen đá trái, chim bằng đá bay
Hai cọp đạp núi, đánh ngược hướng âm
Lui bộ thương vàng, mèo rửa mặt
Rồng núi đáy biển, cọp vui lòng
+ Trung bình tấn:
Trung bình tấn là bộ ngựa không di động, làm trụ di chuyển theo yêu cầu của bộ tay. Trụ có vững là tạo điều kiện tốt cho bộ tay hoạt động.
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng, từng bước mở rộng hai bàn chân bằng vai, hai bàn chân song song, mũi bàn chân hướng trước. Khuỵu gối xuống, lưng thẳng. Hai tay cong, bàn tay nắm để ngang hông, mắt nhìn thẳng.
Theo đồ hình bát quái, võ cổ truyền Bình Định có 9 bộ chân (ngựa). Mỗi bộ chân tượng trưng cho một con vật, mỗi con vật có một hướng cố định và mỗi con vật lại kèm theo một bài quyền. Nhưng trong thực tế võ cổ truyền Bình Định thường sử dụng 4 bộ ngựa: Trung bình tấn, Đinh tấn, Chảo mã tấn và Kim kê tấn. Điều đó rút ra từ trong bát quái pháp, được đơn giản hóa để dễ dàng sử dụng trong khâu huấn luyện ở trình độ thấp. Trong mỗi bài quyền, bộ ngựa thay đổi nhau liên tục tùy theo yêu cầu cấu tạo của bài. Bài quyền càng phức tạp, thì bộ ngựa càng di chuyển thay đổi liên tục từ ngựa này sang ngựa khác. Ví dụ: "Túc bất ly địa" không có nghĩa là chân không bao giờ rời đất, mà di chuyển nhẹ nhàng trên mặt đất để di chuyển thay đổi ngựa này với ngựa khác. "Túc bất ly địa" còn có nghĩa là chân đá ra đòn rất nguy hiểm, chủ yếu đá vào bộ hạ, vùng ngực, bụng và hai bên sườn của đối phương.

19/07/2017

Trong quá trình phát triển của dân tộc, qua thời gian dài chiến đấu chống ngoại xâm để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, võ thuật là bạn đồng hành không thể thiếu được và đã góp phần đánh thắng giặc ngoại xâm, giành thắng lợi to lớn cho đất nước.
Người dân Bình Định đã rất tự hào và thấy rõ tác dụng của võ không chỉ đem lại thể lực, sức khỏe, tinh thần dũng cảm, ý chí quật cường của nhân dân trong lao động sản xuất, chiến đấu, góp phần xây dựng cuộc sống bình yên, hạnh phúc mà còn là di sản văn hóa tinh thần vô giá thể hiện sức mạnh của dân tộc.
Võ thuật bao gồm hai nội dung cơ bản như: quyền thuật và các môn binh khí.
1. Quyền thuật
Quyền thuật bao gồm các môn luyện tập tay không, không có binh khí, chỉ dùng tay, chân, cấu tạo bằng cương quyền và nhu quyền, với kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm đòn công và đòn thủ lợi hại, đánh trả đòn rất quyết liệt, mang tính sát thương cao. Những bài cương quyền dùng sức mạnh với mục đích tấn công áp đảo, đè bẹp đối phương nhanh. Nhu quyền thể hiện những động tác mềm mại, mang tính thủ, né tránh linh hoạt, uyển chuyển, lợi dụng tình thế từ thủ sang tấn công nhanh cực kỳ lợi hại.
Phân loại các nhóm quyền (võ):
- Võ thể dục: là nội dung tập thể dục hoặc tập thể lực được rút tỉa và cách điệu trong các bài võ, ngoài ra còn có môn võ dưỡng sinh là môn tập dành riêng cho người lớn tuổi. Võ biểu diễn là môn võ thường xuất hiện ở các ngày lễ hội và là một trong các môn thi đấu võ cổ truyền Bình Định.
- Võ tự vệ: Trước đây và nhất là thời Tây Sơn, mọi người dân đua nhau học võ để tự vệ bản thân, chống chọi với thú dữ và chống đạo tặc, cướp đường, về sau để tự vệ chống lại bọn quan tham ô lại hà hiếp dân lành, đòi sưu cao thuế nặng, quấy nhiễu lương dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta, võ tự vệ là một nội dung của binh chủng đặc công, bộ đội hoạt động nội tuyến vận dụng nó để tiếp cận quân thù, tiêu diệt chúng không có tiếng động và tiếng nổ.
- Võ tỉ thí (còn gọi là võ đài): Là một loại hình thi đấu khá đặc biệt, có một võ sĩ thủ đài. Đài không cố định, bất cứ chỗ nào (trên đồng ruộng khô, trên đồi núi) miễn sao có một khoảng đất trống để hai người có thể đấm đá là được. Có lúc cũng có sàn đài cao hơn 1 mét, với diện tích không cố định, không có dây "rin" bảo vệ xung quanh. Võ sĩ thủ đài, thượng đài thách đấu tất cả các võ sĩ không phân biệt tuổi tác, không cần đến trọng tài, hai người dùng đủ mánh khóe, ra đòn công, thủ tùy ý, đánh nhau không tính thời gian, hễ ai bỏ chạy hoặc rơi xuống đài là thua cuộc.
Còn võ chiến đấu bao gồm võ để thi đấu, hoặc võ để chiến đấu từ hai người trở lên: hai loại này đều mang tính đối kháng cao và trực tiếp nguy hại đến tính mạng.
+ Võ thi đấu: Là một nội dung thi đấu theo một quy định bắt buộc, có sàn đài, luật lệ, có trọng tài, giám định, giám sát có dụng cụ bảo hiểm và mọi người thi đấu đều tuân thủ theo quy định thống nhất.
+ Võ chiến đấu: Là võ đánh nhau thực sự, đánh với mọi đối tượng, đánh không có ràng buộc gì cả, đánh nhau trên mọi trận địa với tất cả các loại võ khí hiện có. Chủ yếu đánh nhau ở cự ly gần (cận chiến hay còn gọi là đánh xáp lá cà). Loại võ chiến đấu này được áp dụng rộng rãi ở cả các giai đoạn lịch sử trước, trong và sau thời Tây Sơn. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, bộ đội đặc công của ta đã vận dụng võ chiến đấu đánh vào tận sào huyệt của địch để tiêu diệt chúng. Võ chiến đấu thường ít có bài bản nhất định, mà chủ yếu là sử dụng các đòn thế, đặc biệt là đòn thế bí truyền nguy hiểm hoặc đánh vào các huyệt đạo có thể gây tử vong, hoặc chết dần chết mòn về sau không có thuốc gì chữa được (Chỉ có phương cách duy nhất là dùng thuốc võ đặc trị hoặc thế giải huyệt của người đã đánh mình để cứu chữa).
Võ chiến đấu bao gồm một số nội dung:
Võ tay không đánh với tay không
Võ tay không đánh với binh khí
Võ binh khí đánh với binh khí
Hai người cùng đấu một loại binh khí như roi, kiếm, thương… hoặc bằng binh khí khác chủng loại.

19/07/2017

Vận dụng học thuyết âm dương
Võ cổ truyền Bình Định vận dụng học thuyết âm dương của triết học phương Đông làm cơ sở lý luận cho dòng võ của mình.
Học thuyết âm - dương được nhiều ngành khoa học vận dụng như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học ứng dụng, và cả y học cổ truyền dân tộc. Qua mạch trầm bổng, mạnh yếu mà các nhà y học chẩn đoán bệnh tật, ra toa bốc thuốc có hiệu nghiệm. Võ học các nước phương Đông, trong đó có võ cổ truyền Bình Định vận dụng học thuyết âm dương theo sắc thái riêng của nó.
Vũ trụ (thái cực) là một thể thống nhất gồm hai phần âm và dương, hoạt động theo nguyên tắc đối nhau mà sinh ra ngày và đêm do vòng quay của trái đất trong thái dương hệ, ngày là dương, đêm là âm. Trong quá trình vận chuyển có điểm giao nhau. Từ đó sinh ra hiện tượng, trong thái dương có thiểu âm, rồi ngược lại trong thái âm có thiểu dương. Thể này mang mầm mống của thể kia, thể kia có mầm mống của thể này. Nguyên lý này được vận dụng trong võ học và thể hiện ở tính chất "cương và nhu".
Trong võ thuật, cương, nhu kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn thì bài võ, thế võ mới phát huy hết tác dụng và đem lại hiệu quả cao.
Ví dụ: Khi ta muốn đấm mạnh thì thường dùng nắm đấm sấp "mãnh hổ thôi sơn", ít khi dùng nắm đấm ngửa bàn tay để đấm vì không mạnh. Khi ta muốn chặt mạnh thì dùng ngửa bàn tay (là âm) để thực hiện, không ai dùng sấp bàn tay để chặt "Cương đao phạt mộc".
Tính chất này vận dụng vào võ thuật rất quan trọng, lúc nào tấn công thì ra đòn mạnh, lúc nào lui về thế thủ thì nhẹ nhàng, uyển chuyển, linh hoạt để né tránh đòn của đối phương. Rồi từ thế thủ chuyển sang thế tấn công ra đòn liên tiếp để hạ đối phương.
Còn thái cực lại sinh ra hai thế tương phản là "lưỡng nghi" mà ta thường gọi là âm-dương. Từ đó tạo thành bốn hiện tượng (trí tượng): "Thái âm", "Thiểu dương", "Thái dương", "Thiểu âm". Bốn hiện tượng ấy lại giao nhau sinh ra tám quẻ gọi là "bát quái". Bát quái là tám con vật chỉ rõ tám hướng, được võ cổ truyền Bình Định vận dụng làm cơ sở lý luận cho bộ ngựa của mình. "Lưỡng túc bát quái vi căn" hay còn gọi là "tấn pháp". Tám quẻ là cụ thể hóa vạn vật biến thiên trong vũ trụ. Bát quái gồm: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Mỗi quẻ tượng trưng cho một con vật, mà mỗi con vật là một bộ ngựa của võ Bình Định như: Long Tấn, Xà Tấn, Phụng Tấn, Kê Tấn, Nhạn Tấn, Hổ Tấn, Hạc Tấn, và Hầu Tấn, còn gọi là "bát quái pháp".
Thái cực chỉ có một động và một tĩnh mà phân ra âm-dương nhị khí. Âm-dương có tính "tương sinh" và "tương khắc". Khi dương động thì âm tĩnh, mà âm tĩnh thì tích tụ. Trên cơ sở nguyên lý này, âm-dương sinh ra ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. "Song thủ ngũ hành vi bản" là cơ sở võ lý cho bộ tay của võ cổ truyền Bình Định mà người ta thường gọi là "ngũ hành pháp".
Thuyết âm-dương áp dụng vào võ thuật rất lợi hại, nếu biết vận dụng và kết hợp hài hòa thì phát huy cao độ tác dụng của đòn thế võ. Chúng ta hãy quan sát bước đi của con người thì thấy rõ: Động tác tay chân luôn luôn có sự tương phản. Ví dụ: Khi chân trái bước tới trước thì chân phải bước ra sau và ngược lại. Đồng thời, lúc này tay phải đánh ra trước thì tay trái phải đưa ra sau và ngược lại. Không bao giờ có sự trùng lặp chân trái và tay trái cùng đưa ra trước một lần. Tại sao vậy? Đó là hiện tượng âm-dương tương phản để tạo thế cân bằng cho cơ thể.
Trong võ thuật, người võ sĩ cần nắm vững và áp dụng thuyết âm-dương vào cách di chuyển bộ ngựa trong luyện tập và thi đấu. Ví dụ: Khi đứng ngựa trung bình tấn thì trọng tâm có thể rơi vào giữa hai chân. Phía trước mặt là dương, phía sau lưng là âm. Như vậy bộ tay ra đòn tấn công và phòng thủ ở phía trước mặt là tốt nhất, rất hạn chế ra đòn về phía bên trái (hướng âm), phía bên phải"hướng dương", vì phải xoay người về hai hướng đó không tiện. Khi ta di chuyển chân trái về phía trước mặt, chân phải lùi về phía sau để tạo thành ngựa chữ Đinh (J). Lúc này đã thay đổi hướng, phía bên phải là hướng "dương", phía bên trái là hướng "âm", tức là mở rộng đường vòng của hướng "dương". Như vậy các đòn thế đều tung về phía bên phải (hướng dương) rất lợi. Đặc biệt, có thể sử dụng đòn đánh lật lưng để thuận tiện. Ngược lại, nếu di chuyển chân trái về phía bên trái, chân phải về phía bên phải tạo thành ngựa chữ Đinh (J), bên trái (hướng âm). Lúc này, bộ tay ra đòn đều đánh theo hướng trước mặt và bên phải (hướng dương), hầu như không được ra đòn về hướng âm vì tư thế con người và kỹ thuật chuyên môn của võ thuật không cho phép.
Người xưa đã dạy rằng: Học võ không phải để biết một hai bài võ, hay biết một số đòn thế là đủ. Mục đích của học võ là phải nắm vững võ lý, võ đạo, võ thuật và cả võ y. Phải luyện tập thường xuyên, khắc khổ, chịu khó, kiên trì tập luyện theo đúng phương pháp, dưới sự chỉ dẫn của võ sư. Quá trình luyện tập là quá trình tiêu hao năng lượng, đồng thời cũng là quá trình tích tụ tăng cường thể lực, nâng cao sức đề kháng và sức khỏe. Cơ thể có khỏe mạnh thì tinh thần mới minh mẫn, thì mới xử lý nhanh chóng, kịp thời các tình huống xảy đến. Thân thể tráng kiện mới đủ sức lục tung ra những thế đòn sắc bén và quyết định.
Đối với con nhà võ, đôi chân, bộ tay là vũ khí chủ lực để tập luyện và đánh trả đối phương, biết vận dụng, biết dựa vào sự hóa sinh của thuyết "âm-dương". Đó là: Tấn pháp trong bát quái, thủ pháp trong Ngũ hành. Luyện được thuần thục hai phương pháp này là tạo cơ sở tốt để phát triển bộ chân và bộ tay (lưỡng chi). Vì trong tấn pháp (bát quái) và thủ pháp (ngũ hành) có sự cấu tạo của hai phương diện ngoại công và nội công.
Tập ngoại công là tập thao tác của từng thế võ, tập sức chịu đựng bên ngoài, tập thể hình cường tráng. Tập nội công là tập cách phối hợp, điều hơi vận khí, nhuyễn khớp, tăng cơ tạo sức mạnh từ bên trong cơ thể.

19/07/2017

Võ cổ truyền Bình Định hình thành dựa vào thao tác lao động của con người và tính năng vận động của các loài vật.
* Võ cổ truyền Bình Định hình thành dựa vào thao tác lao động của con người:
Bình Định xưa kia là một vùng núi rừng trùng điệp, đời sống của người dân muôn vàn khó khăn. Nguồn sống chính dựa vào lao động săn bắt thú rừng, chọt lỗ trên sườn đồi để trồng trỉa lúa, ngô, cày, cuốc, khai phá núi rừng để làm nương, làm ruộng. Người miền biển đôi tay chèo chống, buông lưới, kéo neo. Do yêu cầu thao tác lao động, từ đó tự nhiên hình thành một số động tác võ tay không đơn giản. Theo sự phát triển của cuộc sống, thao tác lao động dần dần được cải tiến, sức lao động của con người cũng được hợp lý hóa, dẫn đến năng suất lao động được nâng cao từng bước, các động tác võ tay được vận dụng ngày càng thuần thục hơn.
Người miền núi thường leo trèo vượt núi qua đèo, khai phá núi rừng để làm nương làm rẫy, có đôi chân rắn chắc, khỏe, chạy nhanh. Người miền xuôi đi bộ, chạy nhảy. Từ thao tác lao động đơn giản của đôi chân cũng đã hình thành động tác võ đơn giản như: di chuyển, đá, trụ rồi chuyển dần thành bộ ngựa ngày càng linh hoạt hơn.
* Từ những tính năng vận động của những loài động vật mà hình thành các động tác võ cổ truyền Bình Định:
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhiều lần quan sát các động tác, sự di chuyển linh hoạt của các loài động vật. Mỗi một loài có những đặc điểm riêng của chúng.
Ví dụ: Các loài chim thường bay nhảy trên những cành cây, bay từ nơi này sang nơi khác. Cũng có những loại chân cao như: cò, hạc thường đi lẫm đẫm trên đồng ruộng hoặc sông ngòi để săn tìm tôm, cá. Có những loài bò sát trên mặt đất như: trăn, rắn... Cũng có loài dùng sức mạnh thường núp bóng để săn bắt mồi như: hổ, báo, chó sói... Từ những động tác đó, người ta đã hệ thống hóa, chọn lọc, đúc kết, biên soạn ra một số bài quyền như: Long, xà, hầu, phụng, kê, quyền... theo phương pháp mô phỏng.
Võ cổ truyền Bình Định cũng theo cách đó biên soạn ra một số thế võ, bài võ để tự vệ và chiến đấu, từ đó được lưu truyền rộng rãi ở Bình Định từ đời này sang đời khác. Cụ thể như bài "Hùng Kê quyền" của Nguyễn Lữ. Tương truyền ông đã nghiên cứu, hình thành bài "Hùng Kê quyền":
Lưỡng kê giao nạp thủy tranh hùng
Song túc tề phi trảo thượng xung
Trấn ải kim thượng như bạch hổ
Thủ quan ngân kiếm tự Thanh Long
Xuyên hầu độc tiễn tàng ư trát
Hồi thủ đơn câu thủ tự hung
Khiêu, tẩu, dược, trầm, thiên sở tứ
Nhu, cương, cường, nhược, tận trung kỳ.
Qua bài võ tiêu biểu nói trên cho thấy võ cổ truyền Bình Định đã chú trọng, nghiên cứu, quan sát những động tác của các loài vật và đưa vào kết cấu các bài võ của mình.
Ví dụ một trường hợp khác: Bài roi Thái Sơn có lời thiệu:
Thái Sơn trích thủy địa Xà liên
Thương thượng Lộng ky, lân thoái bạch Viên
Huy ky độc giác trung bình hạ
Thượng thích đại đăng tấn thừa Thiên
Hồi đầu trực chỉ liên tam thích
Đồng tân thuận thế giáng vân biên
Tẩu độc thố, Trưng sơn hoành gián kiếm.
Linh miêu mai phục tấn thích ngưu
Thừa châu bố địa khai côn thích
Hồi tiểu kim kê đả trung lan
Phi phong tẩu vũ khai ngưu giác
Tiểu tử tam phiền giá mã an
Bái Tổ sư, lập như tiền.
Một bài roi được cấu tạo từ động tác của tám con vật: rắn, lân, tê giác, thỏ, mèo, trâu, gà và ngựa là một hiện tượng độc đáo, hiếm thấy. Thông thường, người ta dùng tên một con vật để cấu tạo thành một bài quyền như: xà quyền, long quyền, hổ quyền, hầu quyền... chứ ít khi vận dụng kết hợp nhiều con vật để cấu tạo một bài quyền như bài roi Thái Sơn.

19/07/2017

Người xưa nói rằng: Học võ không phải để biết bài quyền, ngọn roi, thế đá là đủ, mà mục đích của học võ là nắm vững phương pháp luyện tập, tập đúng phương pháp theo chỉ dẫn của võ sư. Học võ không những chỉ để biết mà quan trọng là biết để sử dụng nó vào đúng mục đích đã chọn.
Đối với người học võ, đôi tay và bộ chân là vũ khí chủ lực và cực kỳ lợi hại để tự vệ và đánh trả đối phương. Nếu luyện tập công phu, có khoa học, có phương pháp đúng sẽ tạo ra sự hoàn thiện của đôi tay và đôi chân, làm cho nó tự chủ và biến hóa khôn lường.
* Phương pháp luyện tập về chân
- Tập ngựa: "Ngựa" là phần căn bản trọng yếu trong việc luyện tập võ công. Bởi vì "ngựa" phải mang thân thể của ta trong xê dịch, tránh né, lúc sang phải, khi qua trái, lúc tấn, lúc thối hoặc bám trụ để sử dụng thân pháp hay xuất phát khí lực... Các thế tấn (tức ngựa) là phần căn bản của chân. Do đó, ta cần chú tâm luyện tập công phu.
Ngựa trong võ có nhiều loại, ở đây ta chỉ tập một số loại cơ bản.
1. Ngựa Tứ Bình: Một loại ngựa cơ bản quan trọng. Ngựa Tứ Bình có thể gọi là "ngựa" cốt lõi, vì những "ngựa" này sau này là sự biến dạng của "Ngựa Tứ Bình".
- Lúc tập: Người đứng thẳng, hai bàn chân đặt sát nhau và song song. Ta dịch chuyển bốn lần như sau:
+ Lần 1: Tì hai góc chân vào mặt đất, xoay hai đầu bàn chân ngang với chiều vai.
+ Lần 2: Bấm hai đầu ngón chân cái vào mặt đất, banh hai gót chân ra ngoài và dừng lại ở vị trí hai bàn chân song song.
+ Lần 3: Tì hai gót chân vào mặt đất, xoay hai đầu bàn chân ngang với chiều hai vai lần nữa.
+ Lần 4: Bấm hai đầu ngón chân cái vào mặt đất, banh hai gót chân ra ngoài và dừng lại ở vị trí hai bàn chân song song.
+ Lần 5: Bây giờ ta ngồi xuống và dừng lại ở vị trí hai bắp vế ngang với gối.
CHÚ Ý: Trong lúc tập Ngựa Tứ Bình, xương sống phải giữ thẳng. Hai vai không nhúc nhích. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Hai tay nắm cú chặt thủ vào hai bên hông. Răng hàm cắn chặt. Môi khép lại. Đầu lưỡi tì vào chân hàm răng trên. Chỉ thở bằng mũi. Khi tập, chú ý dồn trọng lượng vào chân bằng lối song trọng và đơn trọng.
2. Ngựa Kim Kê:
Bàn chân phải ở sau đặt nằm ngang, gối chân phải rùn thấp, trọng lượng toàn thân dồn về chân phải. Bàn chân trái ở trước duỗi xuôi và chấm đầu ngón chân cái xuống đất. Hai tay nắm cú thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Nên nhớ phải tập đều phía trái và phía phải và khi chuyển ngựa sang phía trái, phải chỉnh ngựa đúng với tư thế "Ngựa Kim Kê".
3. Ngựa Chữ Đinh:
Cách đứng ngược với "Ngựa Kim Kê". Bàn chân trái ở trước đặt nằm ngang (mũi bàn chân hướng về phía tay phải), gối trái rùn thấp xuống, chân phải ở sau chõi thẳng, đầu các ngón chân phải hướng thẳng giữa cạnh trong bàn chân trái ở vị trí trực giao.
Trọng lượng toàn thân, lúc đầu dồn về chân trái, lúc dồn về chân phải. Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
4. Ngựa Bát Quái:
Một biến dạng của "Ngựa Tứ Bình". Ta trụ "Ngựa Tứ Bình", sau đó xê dịch đầu bàn chân trái sang trái và vai trái cũng chuyển dịch theo. Trọng lượng toàn thân dồn vào chân phải sau nhiều hơn (khoảng bảy phần). Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Tập phía trái xong, ta chuyển sang tập phía chân bên phải.
5. Ngựa Định Thân:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Sau đó, bấm giữ đầu hai ngón chân cái vào mặt đất, chuyển dịch hai gót chân vào phía trong và đưa dần ra phía trước mặt đến khi hai gót chân và hai đầu ngón chân cái thẳng hàng nhau (nằm trên một đường thẳng). Nghĩa là hai bàn chân nằm ngang theo chiều hai vai và ngực. Hai cú tay thủ vào hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
6. Tọa ngựa:
Trụ "Ngựa Tứ Bình", sau đó ép sát hai gối lại, đầu hai ngón chân cái xê dịch ra phía ngoài, ngồi sát xuống đất, hai mông đít hơi kề sát vào hai gót chân. Hai đầu gối phải sát mặt đất.
Trọng lượng toàn thân dồn vào hai ngón chân cái. Nhớ phải tập theo cách "đơn trọng" và "song trọng". Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
7. Ngựa Độc Cước:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Một chân co lên, gối ngang với vế, bàn chân dưới thẳng và đặt song song với vế chân trụ. Trọng lượng toàn thân dồn về chân trụ. Hai cú tay thủ ngang hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
Chú ý: Tập đều hai bên trái và phải.
8. Ngựa đôi:
Một kiểu "ngựa" dùng để di chuyển. Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Đứng chân trái trước, chân phải sau hay ngược lại. Khi tập luyện, đưa chân sau đến sát chân trước, đồng thời rút chân trước rút về phía trước. Khi lui ra, rút chân trước về sát chân sau, đồng thời chân sau xê dịch về sau. Tương tự khi sang trái hay phải. Bỏ chân trước qua thì kéo chân sau theo, hoặc tránh chân sau qua phải thì kéo chân trước theo. Trong luyện tập nên nhớ "Đi như lá", "Đứng như đá". Hai tay thủ quyền kín, chỉnh "ngựa" cho thích hợp với tư thế "ngựa" mới.
9. Ngựa Âm-Dương:
Đứng như "Ngựa Định Thân" sau đó đưa bàn chân trái đặt trước bàn chân phải. Khoảng cách giữa hai bàn chân khoảng 30 cm. Hai tay vẫn thủ ngang hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

19/07/2017

Tập về tay là cách tập luyện đôi cánh tay và đôi bàn tay trong đánh võ. Luyện tập để có đôi bàn tay nhanh nhẹn, biến hóa linh động, rắn chắc... Muốn được như vậy, cần phải ra công luyện tập đúng phương pháp và khoa học. Có đôi bàn tay làm khí giới đa dạng thì trong tự vệ, chiến đấu phần chủ động có thể thuộc về ta.
* Tập phần bàn tay:
Đôi bàn tay là một khí giới đa dạng trong đánh võ vì lúc dùng quyền, khi dùng trảo, lúc đánh chưởng, khi dùng chỉ..., người có võ công cơ bản biết phối hợp, tập luyện và sử dụng đôi bàn tay thì thật là đáng sợ.
1. Tập quyền:
"Quyền" là nắm tay, tập hai nắm quyền, ta phải nắm bàn tay thật chặt, ngón cái ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ và ngón giữa.
Trong tập luyện, ta nên xòe bàn tay ra rồi nắm cú lại thật chặt. Ta tập nhiều lần trong mỗi bài tập. Những lần sau nắm chặt hơn những lần trước. Khi tập, ta nên tì hai chỏ vào hông để luyện tập nắm quyền.
2. Tập Cương Đao:
Bàn tay xòe thẳng, ngón cái cong, ép vào lòng bàn tay, bốn ngón tay kia xếp kín lại. Lúc luyện tập, ta nắm chặt, đấm, xỉa vào các vật mềm rồi dần dần đến vật cứng.
Nên nhớ không gây chấn động nhiều ở các đầu ngón tay.
3. Tập Trảo:
Bàn tay xòe ra, năm ngón tay hơi cong, vươn tới trước. Bàn tay có 5 ngón nên gọi là "Ngũ Trảo". Khi tập ta nên dồn lực vào đầu năm ngón tay.
4. Tập Chưởng:
Bàn tay xòe ra, lòng bàn tay hướng về trước, ngón cái tách riêng hướng thẳng lên trên, bốn ngón khép kín, hơi cong. Lực phát ra dồn ở lòng bàn tay.
5. Tập Chỉ:
Chỉ là cách luyện tập và sử dụng các ngón tay. Ta thường dùng "đơn chỉ" và "hợp chỉ".
a) Tập Đơn chỉ: Tập "Đơn chỉ" là tập ngón cái và ngón trỏ.
- Luyện tập ngón cái: Nắm cú tay thật chặt. Ngón cái chỉ thẳng tới trước và ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ. Lực phát ra dồn ở đầu ngón tay cái.
- Luyện tập ngón trỏ: Ngón trỏ chỉ thẳng tới trước, ba ngón: giữa, đeo nhẫn và út nắm lại, ngón cái ép sát vào đốt tay ngón giữa và nắm chặt lại. Lực phát ra dồn vào đầu ngón tay trỏ. Đơn chỉ thường gây chấn thương ở các chỗ nhỏ, hẹp và mềm...
b) Tập hợp chỉ:
"Hợp chỉ" là cách tập phối hợp để tạo lực ở các ngón tay hay một vài nơi trên bàn tay. Hợp chỉ có nhiều cách, ở đây ta chỉ tập một số "Chỉ" cơ bản thường dùng.
- Tập Xà thao: Bốn ngón: trỏ, giữa, đeo nhẫn và út khép kín, hơi cong "Chỉ" ra trước, ngón cái chỉ thẳng ra trước, mặt trong ngón cái hướng vào lòng bàn tay như miệng con rắn đang há. Lực phát ra, lúc dồn vào ngón cái, lúc dồn vào đầu bốn ngón, lúc phân đều ở các ngón để chụp, kẹp, giữ.
- Tập Long giác: Ngón đeo nhẫn, ngón út và ngón cái gập lại, ép chặt. Hai ngón trỏ và giữa tách thành hình chữ V. Lực dồn ở hai ngón trỏ và giữa.
- Tập Hố trảo: Năm ngón tay cong đều, hơi hở ra như năm móng cọp. Lực phát ra dồn đều ở năm đầu ngón tay, chỉ này dùng để chụp, cấu, xé...
Hoặc ngón cái cong lại, ép sát vào lòng bàn tay, bốn ngón kia khép kín cong lại, tì bốn đầu ngón tay vào ngón cái, siết chặt lại hoặc đôi khi nhô đốt thứ nhất của ngón giữa cao hơn. Chỉ này, lực phát ra dồn ở đầu đốt thứ nhất của ngón giữa.
- Tập Hạc chỉ: Năm ngón tay chúm lại, các đầu ngón tay bằng nhau duỗi thẳng ra trước. Lực phát ra dồn ở điểm chúm của năm đầu ngón tay hay phần đốt xương nhô lên ở mu bàn tay của ngón trỏ.
- Tập Hầu chỉ: Bàn tay dựng đứng thẳng góc với đầu xương trụ và xương quay, năm ngón tay khép kín và cong lại.
Hoặc bàn tay để nhô phần cổ tay và mu bàn tay. Lực phát ra ở chưởng này là phần tiếp giáp ở cổ tay và hai gò bàn tay hay phần cổ tay và mu bàn tay, sau mới dồn đến các "Chỉ".
* Tập đôi cánh tay:
1. Tay Bắt, Chần căn bản:
Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai cú quyền thủ ngửa vào hông. Sau đứng ngựa thủ quyền tập Bắt, Chần.
- Tập Bắt - Chần thượng bộ:
Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ quyền vào hông, tay phải thủ yên nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang tai bên phải rồi vặn ngửa tay ra hắt đến ngang tai bên trái thì dừng lại. Bàn tay có thể nắm quyền hay dùng chỉ, cạnh xương trụ ở ngoài (BẮT).
Tiếp đến, úp ngón tay lại, đưa qua tai bên phải. Lúc va chạm nơi cạnh bàn tay hay cạnh xương trụ (CHẦN). Tiếp đến, thủ tay trái lại nơi hông rồi tập tay phải BẮT, CHẦN như tay trái. Sau đó, đứng "Ngựa Kim Kê" thủ quyền tập BẮT, CHẦN.
BẮT CHẦN trung bộ:
Vẫn tư thế "ngựa" như trên, tay phải thủ nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang vai bên phải rồi lật ngược lại đến khỏi hông trái thì dừng lại, bàn tay dùng Hổ trảo (BẮT)
Giữ nguyên tư thế BẮT, đưa úp tay qua hông bên phải. Điểm va chạm là mu bàn tay phần mặt trên của xương trụ và xương quay.
2. Tập Ngũ Hành Tay:
a) Tập Ngọn Kim Đâm: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai tay thủ ngửa ở hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua bên tai phải. Bấy giờ tay trái đưa xoáy ra trước, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Tay trái lại tiếp tục bắt lên và dừng lại ngang tai bên trái, tay phải lại đâm xoáy ra trước, tay trái giật chõ về sau. Thủ quyền ngang hông.

19/07/2017

Bình Định luôn gợi trong trí mỗi người dân Việt Nam ấn tượng sâu sắc về một vùng đất giàu truyền thống thượng võ, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên khí chất anh hùng bất khuất, làm nên bao sự tích oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử vàng của dân tộc. Trên mảnh đất này, từ lâu, võ cổ truyền đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng tham gia luyện tập.
* Trường tồn cùng thời gian
Người Bình Định vốn mộc mạc, cần cù, giản dị, sáng tạo, nhân ái, kiên cường, dũng cảm và đặc biệt rất khảng khái, hào hiệp. Chính phẩm chất tuyệt vời đó đã hun đúc nên tinh thần thượng võ. Võ cổ truyền Bình Định xuất hiện từ rất lâu. Nhưng trước thời Tây Sơn (khoảng năm 1600), môn võ này còn ở dạng sơ khai. Chỉ đến thời Tây Sơn, võ cổ truyền Bình Định mới phát huy được những tinh hoa. Cùng với sự hưng thịnh của triều đại Tây Sơn, nó đã được xây dựng thành hệ thống võ học, đưa vào hệ thống thi cử, đào tạo tướng sĩ. Đặc biệt, được nghiên cứu và áp dụng triệt để, sáng tạo trong quân sự phục vụ chiến trường. Thời ấy, ở Bình Định, nơi đâu cũng thấy xuất hiện những trường dạy võ. Võ cổ truyền Bình Định thời Tây Sơn hội tụ những tinh hoa giữa các dòng võ, môn phái khác nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp, chắt lọc tìm ra cái tinh túy nhất để bồi đắp, bổ sung vào kho tàng võ học chân truyền của dân tộc. Đó là kết quả của sự giao lưu, hòa nhập giữa các dòng võ và quy tụ nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều võ quan, võ sư nổi tiếng.
Võ cổ truyền Bình Định luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Chính sức mạnh bất diệt đó đã giúp cho võ cổ truyền Bình Định trường tồn cùng với thời gian. Mặc dù, sau khi Tây Sơn suy thoái, Nguyễn Ánh đã tìm mọi cách để tiêu diệt mọi thành quả của nhà Tây Sơn, nhưng với sức mạnh lâu đời, võ cổ truyền vẫn sống mãi trong lòng nhân dân. Nó vẫn được bí mật truyền dạy trong các nhà chùa hoặc các bìa rừng. Đặc biệt, vẫn được nhiều người tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm, lưu truyền sử sách cho con cháu mai sau. Nửa đầu thế kỷ XIX, sự du nhập mạnh mẽ các dòng võ nước ngoài vào Việt Nam vẫn không làm mai một những tinh hoa vốn có của võ cổ truyền Bình Định. Trải qua bao biến cố thăng trầm, ngày nay, võ cổ truyền vẫn giữ được những nét đẹp độc đáo riêng.
* Hội tụ những tinh hoa
Ngày nay, võ cổ truyền đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định. Luyện tập võ nghệ đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng. Không chỉ có nam nhi; mà cả phái yếu cũng tham gia rèn luyện. Mỗi năm một lần, Sở TDTT Bình Định đều tổ chức giải vô địch các CLB võ cổ truyền trong toàn tỉnh. Giải vô địch hàng năm, đã thực sự trở thành ngày hội tôn vinh những võ sĩ, võ đường nổi tiếng. Người dân Bình Định hăng say luyện tập, bởi võ cổ truyền không chỉ là môn thể thao nâng cao sức khỏe, khai thông tinh thần, mà còn vì nó là "vật gia bảo truyền quý giá" của ông cha để lại.
Người Việt Nam dù đi đâu xa vẫn nhớ về cội nguồn, tổ tiên, tự hào về một dân tộc anh hùng với bao võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống thượng võ hào hùng chống giặc ngoại xâm. Với bốn nội dung cơ bản: Luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần, võ cổ truyền Bình Định đã thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu giữa bên trong với bên ngoài.
Tinh thần nhân bản của võ cổ truyền Bình Định được thể hiện rõ nét ở truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa. Đó là truyền thống quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân đất võ. Ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi gặp gian nguy. Người có võ công càng cao, thì đức lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo.
Luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp phát triển nền võ học chân truyền, cả quá khứ, hiện tại và tương lai là bản chất cốt lõi của võ cổ truyền Bình Định. Chính mục đích cao cả đó, đã góp phần làm nên nét đẹp toàn diện của con người, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Sở TDTT Bình Định đã có cả một công trình khoa học nghiên cứu về nguồn gốc và đặc trưng của võ cổ truyền, nhằm gìn giữ, tôn vinh, phát huy những thế mạnh vốn có của một môn thể thao giàu truyền thống dân tộc.

Want your school to be the top-listed School/college in Quy Nhon?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address


Tây Sơn, Phường Quang Trung
Quy Nhon