VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH

Share

Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Võ Cổ Truyền Bình Định. https://www.facebook.com/vobinhdinh.net.vn/

10/01/2020

Lão võ sư Ngô Bông thị phạm bài Hùng Kê Quyền.

04/01/2020

HÙM XÁM MIỀN TRUNG – LÃO VÕ SƯ HÀ TRỌNG SƠN

Trong làng võ Bình Định đương đại, võ sư Hà Trọng Sơn là một cây đại thụ danh bất hư truyền, là "kỳ nhân" mà không "dị sĩ". Tên ông được khắc vào danh bảng cao thủ bằng những lần thượng đài bách chiến bách thắng.

Mỗi lần nhắc đến những trận thượng đài đỉnh cao, giới võ thuật ở Bình Định liền nhớ ngay đến võ sư Hà Trọng Sơn, người được mệnh danh là Hùm xám miền Trung.

Võ sư huyền thoại Hà Trọng Sơn, sinh ngày 1.6.1920, tại làng võ Phước An, Tuy Phước, Bình Định, trong một gia đình “võ nòi”. Nhà của võ sư Hà Trọng Sơn ở thôn An Hòa 1, xã Phước An, Hhuyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

ĐÁNH BẠI VÕ SĨ TÂY

Võ sư Hà Trọng Sơn đam mê võ thuật từ nhỏ. Năm 8 tuổi, ông được những người anh trong họ hàng như Hà Cảnh, Hà Tùng, Hà Để dạy võ nghệ. Sau đó, ông theo học rất nhiều võ sư khác, trong đó có võ sư Lâm Đắc Đạo và ông Beo (người gốc Hoa, sống ở vùng An Khê, Gia Lai). Năm 17 tuổi, ông Sơn được một sĩ quan người Pháp là đồn trưởng đồn Mang Cá (ở Huế) dạy đấu quyền anh...

Năm 1943, tại Đại hội quyền thuật Đông Dương tổ chức ở Nha Trang, ông Hà Trọng Sơn đã giành chiến thắng trước võ sĩ nổi tiếng của Pháp là F.Nicolai và võ sĩ Tiết Mãnh, vốn là tay đấm lừng danh của Đông Dương lúc bấy giờ. Tháng 10.1944, tại hội thi võ thuật Đông Dương tổ chức tại Đà Nẵng, ông Sơn có trận đấu chung kết với một võ sĩ người Pháp là Esperpaire, một tay đấm bất bại cho đến thời điểm đó. Võ sĩ Esperpaire cao, to, nặng hơn ông Sơn rất nhiều nên khi vào trận đấu, nhiều võ sư người VN rất lo lắng. Sau khoảng 5 phút thăm dò, võ sĩ người Pháp ra đòn tấn công rất mạnh hòng hạ gục ông Sơn. Tuy nhiên, bằng sự linh hoạt, ông Sơn né tránh hết các đòn đánh của đối phương. Khi trận đấu được hơn 20 phút thì Hà Trọng Sơn bất ngờ tung đòn hiểm, Esperpaire dính đòn, đổ gục trên sàn đấu.

ĐẤU VỚI CÁC CAO THỦ MIỀN NAM

Võ sư Trần Can (86 tuổi, ở xã Phước An, H.Tuy Phước, Bình Định), học trò của võ sư Hà Trọng Sơn, kể: Năm 1948, võ sư Hà Trọng Sơn thủ đài tại Bình Định, lần lượt đánh bại các danh thủ hàng đầu như: Trịnh Thiếu Anh, Trung Anh, Bảo Trung Phong... Thời điểm này, ở miền Nam có 3 tay đấm rất nổi tiếng là Huỳnh Tiền, Minh Cảnh, Minh Sang thì võ sư Hà Trọng Sơn đã thượng đài thi đấu với 2 người là Huỳnh Tiền và Minh Cảnh.

Năm 1950, tại hội chợ ở Đà Nẵng, ông Sơn thách đấu với võ sư Huỳnh Tiền, người được mệnh danh “Đệ nhất anh hùng miền Đông” hay còn gọi là “cáo già miền Nam”. Tuy là cao thủ nhưng võ sư Huỳnh Tiền rất mê tín, mỗi khi lên đài, ông thường ngậm thẻ có hình ông Phật để phù hộ giành chiến thắng. Trận này, ông Sơn đã hạ đo ván võ sư Huỳnh Tiền. Từ đó, Hà Trọng Sơn được báo chí ca ngợi và mệnh danh là Hùm xám miền Trung. Sau này, võ sư Hà Trọng Sơn còn đấu với võ sư Huỳnh Tiền nhiều trận, thắng bại đều có nhưng hai người đã trở thành bạn thân.

Cũng trong giai đoạn này, võ sư Minh Cảnh là nhà vô địch Đông Dương về quyền thuật, được mệnh danh là Võ vương Minh Cảnh. Võ sư Hà Trọng Sơn và võ sư Minh Cảnh nhận lời thượng đài với nhau một lần tại Phan Rí (Bình Thuận). Lúc đó, ông Sơn cao gần 1,76 m, nặng 78 kg, còn ông Cảnh thấp hơn nhiều và chỉ có 54 kg nhưng hai bên vẫn nhận lời thi đấu. “Vào trận, thầy Minh Cảnh dùng đòn tay liên tục tấn công vào mặt thầy Sơn. Sau này, thầy Sơn có nói với tôi là đòn tay mặt của thầy Cảnh mạnh như búa bổ. Còn thầy Sơn cũng đánh trúng mặt thầy Cảnh hai lần. Tuy nhiên, trận đấu này phải hoãn giữa chừng do gặp mưa”, võ sư Trần Can nhớ lại.

Võ sư Hà Trọng Sơn còn đánh hòa với võ sĩ Kid Demsey, người giữ chức vô địch Đông Dương nhiều năm liền, đánh bại võ sĩ Ku Xam Thum (người Việt, gốc Thái Lan) vào năm 1960 tại Bồng Sơn (Bình Định)... “Trận thượng đài cuối cùng của cha tôi là với võ sư Phan Huệ (ở Hà Nội). Sau năm 1975, nghe danh cha tôi, võ sư Phan Huệ tìm đến thách đấu. Trận đấu diễn ra tại Trường hát Sùng Nhơn ở Quy Nhơn. Thượng đài chưa đầy một phút, võ sư Phan Huệ dính đòn của cha tôi nên xin thua. Trước trận đấu, ban tổ chức hứa là trả tiền thi đấu rất cao nhưng sau đó họ nuốt lời, không chịu trả và nói rằng: Đánh thắng nhanh như vậy thì lấy tiền làm gì!”, bà Phi kể.

Trong sách Võ cổ truyền Bình Định (xuất bản năm 2004), tác giả Lê Thì, nguyên Giám đốc Sở Thể dục - Thể thao Bình Định, cho rằng bài roi Ngũ Môn phá trận và bài Mai Hoa kiếm pháp là hai môn gia truyền của võ sư nổi tiếng Hà Trọng Sơn. Lúc sinh thời, võ sư Hà Trọng Sơn thường hạ đối thủ bằng các đòn như: thử trước đánh sau, đánh lật sườn, gióng trảo bấu vai lật đầu tháo khớp (đề khí thiết công phục lôi hổ giáng)...

VỀ VỚI ĐỜI THƯỜNG

Những năm chiến tranh loạn lạc, nhà ông bị trúng bom. Tai họa bất ngờ này đã vĩnh viễn cướp đi sinh mạng hai cụ thân sinh của ông. Tài sản mất trắng, ông còn duy nhất mỗi chiếc quần đùi; mấy chiếc cúp minh chứng tài võ nghệ bị nóng chảy biến dạng, ông đem bán đồng nát. Vợ con từ đó đành chịu chung cảnh gian truân.

Khi đã khắc đậm tên mình giữa làng võ, “hùm xám” sống một cuộc đời dung dị, thủy chung. Dịp mừng thọ “hùm xám” tròn thất thập, thân hữu đề tặng rằng:“Nghiệp võ lừng danh gió bụi không say tâm mãnh hổ/Tài hoa nổi tiếng thủy chung vẹn giữ đức hiền nhân”.

Không còn đủ sức để tung chiêu cùng cây đại đao; khẩu quyết về bài roi Thái Sơn, Mai Hoa Kiếm gắn liền danh tiếng “hùm xám”, ông cũng không thể nhớ nổi. Chí tang bồng đã thỏa, về với đời thường, ông thanh thản sống phần đời còn lại trong cuộc hành trình nhân thế đầy giông bão. Tôi mạn phép xin được xem những tấm ảnh thời trai trẻ của ông. Xua tay, ông nói không chút tiếc nuối: “Anh em, bạn bè xin làm kỷ niệm hết trọi rồi. Vả lại, hoạn nạn rồi cuộc đời đấm đá lang bạt đây đó, đâu có ảnh gì nhiều”. Đoạn chỉ tay lên vách tường, ông trầm ngâm: “… kẻ học võ bất ly cung kiếm, nhưng tui không thể nào cưỡng lại quy luật đời người, rửa tay gác kiếm lâu lắm rồi”.

Giờ đây, gánh nặng tuổi tác đã làm nhạt nhòa hào quang từng phủ sáng thời trai trẻ. Lưng bát cơm mỗi bữa, “hùm xám” quẩn quanh trong khu vườn được bao bọc bởi hàng chè tàu xanh ngát. Ngày lại ngày, ông “làm bạn” với chiếc ti vi đen trắng cũ kỹ; chiều chiều, chăm bẵm hai chậu sứ, một gốc mai và một khóm trúc nhỏ đặt trước hiên nhà. Bà Khuê, vợ ông cho biết: “Đó là tất cả thú tiêu dao của ông”!

Dấu tích tháng năm phủ đầy những binh khí của “hùm xám”. Lão võ sư dường như không màng gì đến những kỷ vật ấy. Khi câu chuyện đã mãn, ông còn cho biết: “Mấy hôm trước, cán bộ của Sở Văn hóa – Thông tin có về thăm tôi. Thật tiếc, tôi không còn đủ sức kể lại những gì mà họ muốn biết”.

Những người con của ông gồm: Hà Thị Trinh, Hà Thị Phi, Hà Văn Mao, Hà Văn Đằng, Hà Nhất Linh, Hà Thị Minh Nguyệt đều biết võ, từng tham gia thi đấu hoặc dạy võ. Tuy nhiên, hiện các con của võ sư Hà Trọng Sơn không còn theo nghiệp võ mà đi làm ăn xa.

Võ nghiệp của một võ sư đầu đàn sắp khép lại. Đi giữa hàng chè tàu xanh trong vườn nhà vị võ sư già trong khoảng không vắng lặng, đâu đó như vọng lại câu hát ru: Mặc ai khanh tướng công hầu/Qua (mình) cầu cho hết binh đao qua về/Qua về qua gỡ bùa mê/Trọn lời em bậu hẹn thề cháo rau…

Photos from VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH's post 10/06/2016

Bài roi: Đoản Côn. Roi Thuận Truyền - Tây Sơn. Thị phạm: Võ sư Hồ Sỹ

Photos from VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH's post 09/06/2016

CỔ THƯ VÕ BÌNH ĐỊNH

16/10/2015

Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.
Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
Mải vui Hương thủy Ngự Bình
Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
Chẳng lịch bằng kinh đô
Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
Năm dòng sông chảy,
Sáu dãy non cao
Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
Muốn ăn quít, ăn hồng,
Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)

16/10/2015

Trong bài võ cổ truyền Bình Định, các bộ tay (Ngũ hành) chiếm vị trí rất quan trọng. Các bộ tay làm chủ, thể hiện đòn thế tấn công và phòng thủ.
Các bộ tay thay đổi liên tục tùy theo mục đích cấu tạo của bài võ mà thực hiện né tránh "khắc" và phát triển "sinh". Võ cổ truyền Bình Định sử dụng chủ yếu từ cẳng tay trở ra, khi đánh một đòn lật ngược. Có nghĩa là xoay người, đổi ngựa, đổi hướng bất ngờ đánh vào cổ, sườn và sau lưng đối phương bằng cánh tay lật ngửa, đòn đánh này thường kết hợp với đòn chân.
Cụ thể năm bộ tay trong Ngũ hành như sau:
a) Kim: Mãnh hổ thôi sơn - mang tính tấn công.
Hai tay nắm hờ để ngang hông. Ngựa trung bình tấn. Tay trái qua bụng gạt mạnh sang trái, không cho đối phương tấn công vào vùng bụng đỡ người sang trái, tránh quả đấm thẳng của đối phương, tay phải dùng lực đấm thẳng, xoay áp bàn tay sang đối phương, bàn tay nắm úp. Hai tay thay nhau tập đấm.
b) Mộc: Phụng hoàng triển dực.
Hai bàn tay nắm hờ ngửa để ngang hông. Tay trái qua bụng từ trên bắt xuống sang trái, tay phải dùng lực cẳng tay đánh bổ chéo ngang qua trái. Hai tay thay nhau tập đánh.
Hai bộ Kim và Mộc có quan hệ chặt chẽ với nhau và tương phản nhau: Kim bắt lên, Mộc bắt xuống, Kim đấm thẳng, Mộc đánh ngang.
c) Thủy: Cường long xuất hải.
Đánh như nước chảy từ trên xuống.
Tay trái qua bụng đưa lên cao (bàn tay nắm), ngựa trung bình tấn. Tay phải dùng lực cẳng tay đấm từ trên cao xuống và dùng lực từ dưới đánh lên. Hai tay guồng nhau như guồng nước chảy.
Tác dụng là đánh vào cằm và trung bộ của đối phương.
d) Hỏa: Bạch Hạc tầm châu
Đánh mạnh như bão táp, đánh phá vây, đánh liên tục không cho đối phương kịp né tránh và tìm ra điểm yếu của đối phương để tiêu diệt.
Hai tay nắm hờ để ngang hông. Ngựa trung bình tấn. Dùng lực hai cẳng tay bắt chéo trước mặt gạt mạnh sang hai bên. Chận đỡ đòn tấn công trên cao của đối phương.
e) Thổ: Cuồng phong tảo địa.
Gạt trên, đấm dưới.
Hai tay nắm hờ để ngang hông. Ngựa trung bình tấn. Tay trái từ bên phải gạt sang bên trái trên cao, nghiêng người sang bên trái. Tay phải đưa ra bên phải, dùng lực đấm thẳng xuống để bảo vệ bộ hạ.
2. Tấn pháp: Bộ ngựa.
Vũ trụ là một thể thống nhất gồm hai phần Âm và Dương. Âm-dương kết hợp sinh ra "Tam tài" tức là Trời, Đất và Con người, là ba lực lượng tiêu biểu trong vũ trụ. Mỗi lực lượng đều có sự kết hợp và cân bằng giữa Âm-dương và Ngũ hành. Trong Đại vũ trụ con người là tiểu vũ trụ. Con người phải nắm vững quy luật biến hóa của tự nhiên và thích ứng với sự biến hóa đó, tức là phải giữ nhịp điệu thăng bằng giữa con người và ngoại cảnh. Trong võ thuật có hai phần Cương và Nhu. Có môn võ thiên về Cương, có môn lại ngã về Nhu. Nhưng trong Cương có chứa đựng yếu tố của Nhu, trái lại trong Nhu có yếu tố của Cương.
Vận dụng thuyết "Âm-dương" vào võ thuật (từ lý luận đến thực tiễn) là cả một quá trình, rất uyển chuyển, mềm mại và linh hoạt, chú trọng di chuyển tránh né, tấn công phòng thủ phải theo đúng hành ngũ pháp và bát quái pháp. Có lúc nhẹ nhàng phản đòn, không nên nặng nề dùng sức mạnh, phải khôn khéo chọn đúng thời cơ mới ra đòn, không nên vội vã mà bị thất bại (mạnh dùng sức, yếu dùng chước), không nên chạy theo "dùng sức chọi sức", làm sao sức một người đánh được nhiều người mới là quan trọng. Cương, nhu là hai sức đối nhau, nhưng phải phối hợp được với nhau thì ra đòn mới có kết quả. Như vậy, lúc cần thiết thì lấy cương làm chính (khi tấn công), nhu đóng vai trò kết hợp, nhằm vào chỗ yếu của đối phương mà tiêu diệt. Có lúc tạm thời phải né tránh di chuyển. Khi lấy nhu làm chính, cương khôn khéo phối hợp để chuyển thế tấn công.
Tấn pháp là phương pháp luyện tập đôi chân và di chuyển theo hướng của nguyên lý bát quái. Bát quái tượng trưng cho tám quẻ, theo tám hướng và tám con vật.
Trong tấn pháp gồm có 9 bộ là:
- Long tấn: Ngựa con rồng (Tấn Rồng vàng)
- Xà tấn: Ngựa con rắn (Tấn Rắn xanh)
- Kim kê tấn: Ngựa Kim Kê (Tấn Gà vàng)
- Hồi phụng tấn: Ngựa con phụng (Tấn Phụng về)
- Hồng Hổ tấn: Ngựa con Cọp (Tấn Cọp hồng)
- Bạch Hạc tấn: Ngựa con Hạc (Tấn Hạc trắng)
- Hắc Hầu tấn: Ngựa con Khỉ (Tấn Khỉ đen)
- Lạc Nhạn tấn: Ngựa lạc Nhạn (Tấn Nhạn đáp)
- Và trung bình tấn.
Mỗi bộ tấn mang một cách thức khác nhau và tác dụng của nó cũng khác nhau. Trong các phần công, thủ, phản biến của các thế võ, tất nhiên là phải hội đủ ba điều kiện: Nhanh, mạnh và chính xác. Muốn đạt được điều đó, luyện tấn pháp sẽ tạo ba ưu điểm bổ ích sau:
- Tạo được sức mạnh cho đôi chân (rất có lợi cho phần thế đá).
- Từ một bộ tấn có quy cách sẽ chiếm được ưu thế thượng phong và dễ dàng triển khai được mọi sở trường khi giao đấu.
- Muốn ra đòn chính xác vào mục tiêu, tấn pháp là phương tiện tạo ra cự ly tốt nhất giữa ta và đối phương. Tạo sự di chuyển nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, phản công kịp thời, chính xác vào mục tiêu đã chọn.
- Từ vị trí các bộ trong hình bát quái, lấy trung bình tấn làm trung tâm như sau:
+ Long tấn:
Càn tam liên, Tây bắc hùng long: có bài huỳnh long quyền:
Tượng trưng ba gạch liền với bài thiệu là:
Huỳnh long quyển địa thích thông thiên
Luyện diệp liên hoa đả diện tiền.
Hạ địa tầm châu trung ấn chưởng.
Thanh Long xuất hải tấn long Quyền.
Tạm dịch nghĩa:
Rồng vàng cuốn đất, đâm thẳng lên trời
Chọn lá liền hoa, đánh ở phía trước mặt
Xuống đất tìm ngọc, đánh bằng lòng bàn tay
Rồng xanh ra biển, tiến đánh hai quyền tay.
Hướng Càn ba gạch nguyên, hướng tây bắc tấn Rồng vàng (Long tấn)
Tư thế chuẩn bị: hai tay nắm chặt (ngửa) để hai bên hông. Ngựa trung bình tấn nghiêng.
Động tác: Xoay vai trái hướng trước, dạng chân phải ra sau, chân trái thẳng, đổ nghiêng người theo hướng chân phải, mặt quay về phía trái, đồng thời tay phải đỡ vòng từ hạ bộ lên gần vành tai phải. Tay trái gạt vòng xuống hạ bộ đến bắp đùi trái trọng tâm dồn về chân phải.
+ Xà tấn
Khảm trung mãn, chính bắc Thanh xà.
Hướng khảm gạch giữa nguyên, chính bắc tấn rắn xanh.
Bài tấn xà quyền.
Thanh xà đảo mã - Tả tảo tung phong.
Cường Long xuất hải - Tấn đả song khai
Ngọc trản Ngân Đài - Hắc ngưu khai giác
Hồi mã tướng quân - Chuyển thân nghịch cước.
Tạm dịch nghĩa:
Rắn xanh trả ngựa - Theo gió quét hướng trái.
Rồngmạnh ra biển - Tiến đánh hai lần
Chénngọc đài bạc - Trâu đen mở sừng
Ngựa về vị tướng - Nghiêng mình đá nghịch
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai phải về hướng trước, hạ người thấp xuống. Đưa bàn chân trái ra phía sau chân phải, tạo thành hai chân chéo nhau (ngựa chảo mã) trọng lượng thân thể dồn về chân phải. Hai tay giữ nguyên thế ban đầu. Mắt nhìn về phía tay trái.

23/06/2015

Bình Định luôn gợi trong trí mỗi người dân Việt Nam ấn tượng sâu sắc về một vùng đất giàu truyền thống thượng võ, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên khí chất anh hùng bất khuất, làm nên bao sự tích oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử vàng của dân tộc. Trên mảnh đất này, từ lâu, võ cổ truyền đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng tham gia luyện tập.
* Trường tồn cùng thời gian
Người Bình Định vốn mộc mạc, cần cù, giản dị, sáng tạo, nhân ái, kiên cường, dũng cảm và đặc biệt rất khảng khái, hào hiệp. Chính phẩm chất tuyệt vời đó đã hun đúc nên tinh thần thượng võ. Võ cổ truyền Bình Định xuất hiện từ rất lâu. Nhưng trước thời Tây Sơn (khoảng năm 1600), môn võ này còn ở dạng sơ khai. Chỉ đến thời Tây Sơn, võ cổ truyền Bình Định mới phát huy được những tinh hoa. Cùng với sự hưng thịnh của triều đại Tây Sơn, nó đã được xây dựng thành hệ thống võ học, đưa vào hệ thống thi cử, đào tạo tướng sĩ. Đặc biệt, được nghiên cứu và áp dụng triệt để, sáng tạo trong quân sự phục vụ chiến trường. Thời ấy, ở Bình Định, nơi đâu cũng thấy xuất hiện những trường dạy võ. Võ cổ truyền Bình Định thời Tây Sơn hội tụ những tinh hoa giữa các dòng võ, môn phái khác nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp, chắt lọc tìm ra cái tinh túy nhất để bồi đắp, bổ sung vào kho tàng võ học chân truyền của dân tộc. Đó là kết quả của sự giao lưu, hòa nhập giữa các dòng võ và quy tụ nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều võ quan, võ sư nổi tiếng.
Võ cổ truyền Bình Định luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Chính sức mạnh bất diệt đó đã giúp cho võ cổ truyền Bình Định trường tồn cùng với thời gian. Mặc dù, sau khi Tây Sơn suy thoái, Nguyễn Ánh đã tìm mọi cách để tiêu diệt mọi thành quả của nhà Tây Sơn, nhưng với sức mạnh lâu đời, võ cổ truyền vẫn sống mãi trong lòng nhân dân. Nó vẫn được bí mật truyền dạy trong các nhà chùa hoặc các bìa rừng. Đặc biệt, vẫn được nhiều người tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm, lưu truyền sử sách cho con cháu mai sau. Nửa đầu thế kỷ XIX, sự du nhập mạnh mẽ các dòng võ nước ngoài vào Việt Nam vẫn không làm mai một những tinh hoa vốn có của võ cổ truyền Bình Định. Trải qua bao biến cố thăng trầm, ngày nay, võ cổ truyền vẫn giữ được những nét đẹp độc đáo riêng.
* Hội tụ những tinh hoa
Ngày nay, võ cổ truyền đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định. Luyện tập võ nghệ đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng. Không chỉ có nam nhi; mà cả phái yếu cũng tham gia rèn luyện. Mỗi năm một lần, Sở TDTT Bình Định đều tổ chức giải vô địch các CLB võ cổ truyền trong toàn tỉnh. Giải vô địch hàng năm, đã thực sự trở thành ngày hội tôn vinh những võ sĩ, võ đường nổi tiếng. Người dân Bình Định hăng say luyện tập, bởi võ cổ truyền không chỉ là môn thể thao nâng cao sức khỏe, khai thông tinh thần, mà còn vì nó là "vật gia bảo truyền quý giá" của ông cha để lại.
Người Việt Nam dù đi đâu xa vẫn nhớ về cội nguồn, tổ tiên, tự hào về một dân tộc anh hùng với bao võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống thượng võ hào hùng chống giặc ngoại xâm. Với bốn nội dung cơ bản: Luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần, võ cổ truyền Bình Định đã thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu giữa bên trong với bên ngoài.
Tinh thần nhân bản của võ cổ truyền Bình Định được thể hiện rõ nét ở truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa. Đó là truyền thống quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân đất võ. Ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi gặp gian nguy. Người có võ công càng cao, thì đức lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo.
Luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp phát triển nền võ học chân truyền, cả quá khứ, hiện tại và tương lai là bản chất cốt lõi của võ cổ truyền Bình Định. Chính mục đích cao cả đó, đã góp phần làm nên nét đẹp toàn diện của con người, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Sở TDTT Bình Định đã có cả một công trình khoa học nghiên cứu về nguồn gốc và đặc trưng của võ cổ truyền, nhằm gìn giữ, tôn vinh, phát huy những thế mạnh vốn có của một môn thể thao giàu truyền thống dân tộc.

23/06/2015

Trong các bộ môn về quyền thuật của võ cổ truyền Bình Định, không thể không đề cập đến bài quyền "Ngọc Trản" bởi lẽ đây là "bài ruột" mang đầy đủ các yếu tố cơ bản và là một trong những bài chính thống, tiêu biểu, được tất cả các môn phái trong tỉnh truyền dạy và phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ xưa đến nay.

Bài quyền Ngọc Trản có lối đánh công phu, toàn diện, kín đáo, chắc đòn, kết hợp nhu cương đúng lúc, đúng chỗ. Lại có những thế né tránh, phản đòn rất lợi hại. Di chuyển nhẹ nhàng, nhanh nhạy, linh hoạt, khi trụ ngựa và ra đòn thì vững chắc và mạnh.
Bộ tay ra đòn mạnh, nhanh, chính xác, có lúc vờ như thủ để đánh lừa đối phương, hay dụ đối phương với thế vây hãm để tiêu diệt theo dạng "Hư hư thực thực".
Đặc biệt vừa qua, Ban nghiên cứu (Sở TDTT Bình Định) cũng đã phát hiện một số tư liệu cổ đều có ghi tên bài thiệu về quyền "Ngọc Trản". Để góp phần làm sáng tỏ và đi đến thống nhất tên gọi, lời thiệu với từng động tác một cách chuẩn xác hơn, chúng tôi xin giới thiệu cụ thể bài quyền Ngọc Trản.
Qua bài thiệu cổ mới phát hiện của bài Ngọc Trản, ta nhận thấy tính liên hoàn âm-dương được xuyên suốt.
Ví dụ như: Hoành Tả, Tọa, Bạch xà lan hổ.
Thì: Hữu hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy
Và: Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ,
Thì: Tả hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy.
So sánh các bài thiệu cổ mới phát hiện với bài thiệu đã lưu hành hiện nay có một vài chỗ khác biệt. Có lẽ người đời sau đã ghi nhầm, hay tam sao thất bổn.
Ví dụ: Hoành Tả, Tọa, bạch xà lan lộ.
Thì lại: Tả hoành sát, Thanh long biên giang.
"Hoành Tả" và "Tả Hoành" không mang tính âm-dương, ngũ hành của người xưa về cách cấu trúc một bài võ trong võ cổ truyền Bình Định.
Qua thời gian, bài quyền Ngọc Trản vẫn sáng chói như một chén ngọc. Số vốn quý võ công đã được gói ghém trong đó cũng được lưu truyền cho những người có đạo đức tốt, có tấm lòng vì con người, vì nền võ học của dân tộc.

Ngọc Trản còn có nghĩa: "Ngọc" là sự trong sáng, trung thực, phản chiếu sự vật được thể hiện ý niệm, trí tuệ. "Trản" là san bằng mọi chướng ngại mang tính đối phó ở giai đoạn đầu, tức hóa giải và có hài hòa ở giai đoạn cuối được thể hiện ở tay, chân và thân mình. Trong đó dĩ nhiên cần phải tính đến công sức luyện tập tinh nhuệ của thể chất, ý thức được thống nhất thành một ý niệm duy nhất. Ý niệm đó chuyển toàn bộ như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó là một bí quyết luyện tập của lối quyền âm-dương trong Ngọc Trản công.
a) Nội dung bài thiệu cổ về quyền "Ngọc Trản" được trích trong tập tư liệu Hán-Nôm được phát hiện tại từ đường dòng họ Trương ở xã Mỹ Hòa-Phù Mỹ do ông Trương Đức Hồng cung cấp, ông Phạm Đình Phong sưu tầm.
* Phần Phiên âm:
1. Ngọc Trản ngân đài.
2. Tả, hữu tấn khai thập tự.
3. Luyện diệp liên hoa.
4. Đả sát túc, tọa, hồi mai phục.
5. Tấn đả tam chiến
6. Thoái thủ nhị linh.
7. Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ.
8. Hữu hoành sát thanh long biên giang.
9. Phụ tử tương tùy.
10. Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ.
11. Tả hoành sát thanh long biên giang.
12. Phụ tử tương tùy.
13. Hồi tàng địa hổ.
14. Song phi, quyển dực.
15. Hạ bàn đoản đả.
16. Hồi, tiểu tọa khai cung.
17. Huỳnh long quyển địa.
18. Tấn, đả song quyền.
19. Hoành tả, phục hạc khai linh.
20. Trực tiền quyển địa.
21. Tấn, đả song quyền.
22. Hoành hữu, phục hạc khai linh.
23. Trực tiền quyển địa.
24. Tấn, đả song quyền.
25. Hướng, hậu đả thập tự.
26. Diện tý.
27. Hồi, tẩu mã giang tiên.
28. Bái tổ, lập như tiền.
* Dịch nghĩa:
1. Chén ngọc đài vàng.
2. Tiến, mở thế chữ thập bên trái và bên phải.
3. Chọn lá liền hoa.
4. Đánh sít chân, tọa thế "hồi mai phục".
5. Tiến, đánh ba bận.
6. Lui, hai tay sắc sảo.
7. Xoay trái, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
8. Chém ngang bên phải bằng thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
9. Thế cha con nương tựa nhau.
10. Hoành bên phải, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
11. Hoành bên trái quét thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
12. Thế cha con nương tựa nhau.
13. Trở về thế rắn hổ đất núp.
14. Đá song phi (hai chân bay) rồi thế chim cuốn cánh.
15. Đánh vắt mâm dưới.
16. Về, tọa, xổm mở cánh cung.
17. Thế rồng vàng cuốn đất.
18. Tiến đánh hai đấm.
19. Xoay trái, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
20.Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
21. Tiến đánh hai đấm.
22. Xoay phải, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
23. Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
24. Tiến đánh hai đấm.
25. Chuyển phía sau đánh thế chữ thập.
26. Mặt nhìn hướng tý (hướng Bắc).
27. Trở về thế "tẩu mã giang tiên" (ông tiên ruổi ngựa trên sông).
28. Vái tổ, đứng như trước.
b) Những động tác trong bài quyền Ngọc Trản:
- Đứng theo tư thế dịch cân, thủ môn hiệu theo võ Bình Định, lễ tổ, mắt nhìn thẳng ra phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.1), trụ ngựa theo tư thế ngựa tứ bình. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.2), dương quyền ở hai tay trái và phải ở bộ vị, xòe hai chưởng, sau đó tay phải theo dương chưởng, tay trái theo âm chưởng, áp sát vào nhau thủ sát nơi chấn thủy. Bái tổ. Hai mắt nhìn thẳng.

23/06/2015

Thảo gồm bảy bộ giống nhau, được phân ra để đánh: Mặt trước ba bộ, mặt sau ba bộ, về mặt trước đánh thêm một bộ; mỗi bộ gồm bốn ngọn: Chần, Đâm, Móc, Hắt Giật.
a) Những động tác "bái tổ"

Những động tác "bái tổ" ở "thảo thất bộ" có kèm theo cách hít thở khởi đầu của môn nội công. Cần chú ý luyện tập hít thở cho đều:
- Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ ngửa ngang hông. Mắt nhìn thẳng ra phía trước
- Kẹp sát hai nách, từ từ đưa hai nắm quyền lên, vừa đưa lên mũi vừa hít vào (chú ý: răng hàm cắn sát, môi khép lại, đầu lưỡi tựa vào chân răng hàm trên, hít vào thở đều bằng mũi) và dừng lại khi hai nắm quyền tới hai chân mày (xem ảnh H.2)

- Bây giờ cong hai mu bàn tay đổi lại, từ từ đâm thẳng hai nắm quyền xuống đất và từ từ thở ra, dừng lại khi hai nắm quyền tới hạ bộ (xem ảnh H.3).
- Tay tới hạ bộ, xoay đầu hai nắm quyền vào bụng đẩy ngược lên, vừa đẩy lên, vừa hít vào, ta dừng lại khi hai tay thẳng ở trước.
- Hai cánh tay ép sát lại, từ từ rút về, thủ quyền ngang hông, vừa rút quyền về, vừa thở ra.
b) Ba bộ mặt trước:
- Bộ một: Ở tư thế "Ngựa Tứ Bình", bàn chân trái xoay ngang theo chiều vai trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "ngựa kim kê", tay phải chần từ trái sang phải.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải lại giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Bây giờ tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay phải tì sát với cổ tay trái.
Ở tư thế này phải bắt nắm quyền tới phía trước, tay trái giật chỏ về sau và thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải chuồi về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống từ mặt chân trái, tay phải rút về thủ ngang hông.
Tiếp đến tay phải lại đâm "ngọn kim" ra, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến tay trái móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay trái ép sát cổ tay phải.
Ở tư thế đó, tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái và bàn chân trái lui về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời chân phải "chần" xuống từ trái sang phải, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, chéo quyền với tay trái.
Tiếp đến tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba, ta xoay người về phía sau theo chiều vai trái. Hai tay quyền vẫn thủ theo, ta chỉnh lại, đứng theo "ngựa kim kê".
c) Ba bộ mặt sau:
- Bộ một: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời, tay phải "chần" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Bây giờ tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, chân phải rút về thế chỗ chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại đâm thẳng quyền ra, tay trái lại giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay phải.
Bây giờ tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba ở mặt sau, ta xoay người sau theo chiều vai trái trở lại mặt trước, tay vẫn thủ quyền, chỉnh lại tư thế đứng theo "ngựa kim kê".
d) Bộ thứ bảy ở mặt trước:
Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Sau đó, tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ:
Chân phải rút ngựa về sau, theo ngựa kim kê, tay trái thủ ra trước, tay phải rút về thủ ngang hông, hạ ngựa xuống, vế ngang gối, mắt nhìn về trước, bái tổ.

Want your school to be the top-listed School/college in Quy Nhon?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Đường Nguyễn Huệ, Phường Hải Cảng, Thành Phố Quy Nhơn
Quy Nhon