08/08/2026
Một trong những vị "ân sư" ảnh hưởng đặc biệt đến cuộc đời thánh của Đấng Đáng Kính Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận:
CHA MARIE CRESSONNIER (CỐ BÁU)
Năm 1941, khi lên 13 tuổi, cậu Nguyễn Văn Thuận gia nhập Tiểu Chủng viện An Ninh tại Cửa Tùng, Quảng Trị. Trong những năm tháng ấy, dù hoàn cảnh kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của Đệ nhị Thế chiến khiến đời sống chủng sinh có phần kham khổ, cậu Thuận, vốn quen với một cuộc sống đầy đủ trong một gia đình khá giả, vẫn vui vẻ đón nhận mọi thiếu thốn vật chất và hòa đồng với anh em một cách tự nhiên, như những người con trong một gia đình nông dân. Chính tại Tiểu Chủng viện An Ninh, cậu đã tìm thấy một niềm hạnh phúc sâu xa trong đời sống thánh hiến.
Ở đó, cậu được sống và học hỏi những linh mục vừa đạo đức, thánh thiện, vừa uyên thâm về học vấn và tận tâm với việc giáo dục. Trong số những vị ân sư ấy có Đức cha Jean-Baptiste Urrutia và các linh mục Anrê Bùi Quang Tịch, Giuse Maria Nguyễn Văn Thích, Marie Cressonnier (Cố Báu), Pierre Richard (Cố Phan), Phaolô Lê Văn Đẩu, Giuse Lê Văn Hộ, Phêrô Trần Hữu Tôn và Micae Nguyễn Văn Tường.
Nhưng trong số rất nhiều người đã góp phần đào tạo cậu Thuận, có bốn vị đặc biệt để lại những dấu ấn sâu đậm trên hành trình hình thành nhân cách và đời sống thiêng liêng của ngài. Mỗi người trao cho cậu một điều gì đó: một cách sống, một nhân đức, một cảm thức về Thiên Chúa, về con người và về ơn gọi linh mục. Những hạt giống được gieo xuống từ những năm tháng rất sớm ấy đã âm thầm lớn lên, để rồi nhiều thập niên sau trở thành những nét nổi bật trong con người Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Trong số những ân sư ấy, cha Marie Cressonnier – Cố Báu – là người đã để lại nơi cậu Thuận một dấu ấn đặc biệt: một linh đạo của sự khó nghèo, lòng yêu mến Đức Maria, đời sống cầu nguyện và nghệ thuật sống hoàn toàn thuộc về Chúa trong những điều rất bình thường của mỗi ngày.
Muốn hiểu vì sao Đức cha Thuận sau này có thể sống đơn sơ giữa những điều kiện thiếu thốn, bình thản trước đau khổ, luôn mang trong mình tràng chuỗi Mân Côi và giữ được một đời sống nội tâm sâu thẳm giữa những thử thách khắc nghiệt nhất, có lẽ phải trở về với những năm tháng tại Tiểu Chủng viện An Ninh – nơi cậu bé Nguyễn Văn Thuận đã gặp người cha linh hướng mang tên Marie Cressonnier, Cố Báu.
Cha Marie Cressonnier (Cố Báu) sinh ngày 07-10-1908 tại Neuville-sur-Auneuil (Oise), thuộc giáo phận Beauvais, Pháp quốc. Ngài vào Tiểu Chủng viện Saint-Lucien de Beauvais, rồi gia nhập Đại Chủng viện Thừa sai Hải ngoại Paris ngày 08-09-1928. Ngài được thụ phong linh mục ngày 01-07-1934 và đến tháng 9 cùng năm được cử đi truyền giáo tại giáo phận Huế. Ngài đến Huế ngày 20-10-1934 và được Đức cha Chabanon đặt tên là Báu, cử đến Cổ Vưu (Trí Bưu) làm phó xứ cho Cố Châu để học tiếng Việt. Tháng 9-1935, ngài được bổ nhiệm làm cha sở An Do Đông, Cửa Tùng, Quảng Trị.
Tháng 7-1936, Đức cha cử ngài đến Tiểu Chủng viện An Ninh làm giáo sư. Ngài dạy học rất tận tâm và thiết lập một thư viện nhỏ gồm nhiều sách báo tiếng Pháp cho các chủng sinh đọc để trau dồi thêm sinh ngữ và kiến thức. Ngoài các giờ dạy Latinh và tiếng Pháp, ngài còn phụ trách việc dạy thể dục cho các chú. Mùa hè năm 1938, ngài xin Đức cha cho đến phục vụ tại giáo xứ Bác Vọng để được làm quen với việc mục vụ tại xứ truyền giáo. Sau hè năm 1939, ngài trở lại dạy học tại Tiểu Chủng viện như cũ.
Tháng 9-1941, ngài gặp chủng sinh Nguyễn Văn Thuận, vừa mới vào chủng viện. Trong sáu năm học Tiểu Chủng viện, từ năm 1941 đến năm 1947, chú Thuận được ở gần cha Cressonnier trong năm năm (1941-1946) và chọn ngài làm cha linh hướng.
Xuất thân trong một gia đình khá giả, giàu có, nhưng từ ăn mặc cho đến các vật dụng cá nhân, cha Cressonnier sống rất khó nghèo. Chính cuộc sống giản đơn như một thầy dòng khổ tu của cha linh hướng Marie Cressonnier (Cố Báu) đã ảnh hưởng rất sâu đậm đến việc phát triển nhân đức khó nghèo nơi chú Thuận.
Tại Tòa Giám mục Nha Trang, Đức cha Thuận nằm ngủ trên một giường sắt trải chiếc chiếu lác trên tấm nệm rơm, với chiếc mùng muỗi rẻ tiền. Đồ dùng hằng ngày rất tầm thường. Có thể vì nhờ vậy mà trong những năm tháng về sau, ngài đã chịu đựng được cuộc sống tù đày rất kham khổ trong nhiều năm trời.
Theo lời kể của Đức ông Phan Văn Hiền, nghĩa tử của ngài, thì trong những năm ở làm Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình tại Vatican, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê “sống bình dân và nghèo khó. Nghèo từ áo quần, đồ dùng và ngay cả ăn uống. Ngài chỉ có một bộ đồ vét xem ra tươm tất, may từ trước thời 1975, để mặc trong những lễ lạc quan trọng. Còn tất cả áo quần còn lại, được ngài đặt cho một tên rất ‘kiêu’: ‘thuộc loại năm cha bảy mẹ’, nghĩa là mỗi thứ mỗi kiểu không giống ai. Ai cho gì cũng nhận. Ai may gì cũng mặc. Đến nỗi hai chiếc quần màu xám tro được Bà Nhất Huy may cho theo kiểu nhà quê Việt Nam – lưng quần bằng dây thun – bị cha Sinh chê là ‘hai cái quần cháo lòng’, cũng được ngài mặc đi ra ngoài một cách vui vẻ tự nhiên. Ngài thường nhắc nhở: ‘Mình phải biết sống nghèo. Tiết kiệm thêm một chút, mình sẽ giúp được nhiều người nghèo khổ ở Việt Nam’” (37).
Dạng người ốm yếu, lại thường xuyên yếu mệt, bệnh này tiếp theo bệnh khác cứ thay nhau hành hạ thân xác mảnh mai của ngài, lại phải giải phẫu liên tục, nhưng cha Cressonnier luôn tươi vui, chẳng ai thấy ngài nhăn nhó than van bao giờ cả.
Chính cha linh hướng Cressonnier đã hướng dẫn chú Thuận đọc những tác phẩm của cha Dom Columba Marmion, một tu sĩ dòng Biển Đức người Ireland, viết về những mầu nhiệm của Kinh Mân Côi và diễn tả vai trò đặc thù của Đức Maria trong sự Nhập thể của Đức Kitô. Những tác phẩm của Dom Columba Marmion đã biến đổi hoàn toàn linh đạo của chú Thuận. Nhiều năm sau, vào ngày 03-09-2000, Đức Hồng y có dịp tham dự lễ tuyên phong Chân phước cho cha Dom Marmion do Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II chủ sự tại Rôma, chắc cũng là một dịp để ngài đọc lại những tác phẩm mà cha linh hướng đã hướng dẫn ngài nghiền ngẫm năm xưa.
Cha Cressonnier đã làm tăng trưởng nơi chú Thuận lòng sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt. Đức Hồng y nói rằng chưa bao giờ thấy cha linh hướng của mình rời tràng chuỗi Mân Côi. Và về phần mình, trọn đời Đức Hồng y thường xuyên mang theo tràng chuỗi bên mình và lần hạt luôn.
Ở Tiểu Chủng viện An Ninh, nếu theo con đường từ cổng chính đi vào độ 150 thước, thì thấy có hai nguyện đường nhỏ cách hàng rào chè tàu của đường khoảng 10 thước; bên phải là “nhà thờ” Đức Mẹ, bên trái là “nhà thờ” Thánh An Tôn. Các chủng sinh quen gọi như vậy, nhưng thực sự mỗi nguyện đường chỉ có bề ngang 4 thước, bề dài 8 thước, không chứa hết 100 người đứng chen chúc nhau. Chú Thuận rất thích giúp lễ và tập đánh đàn dương cầm tại “nhà thờ Đức Mẹ”. Chú cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi ở tại nơi này, phảng phất hương thơm của những bông hoa táo hoang được trồng gần đó.
Ngày quân Nhật đảo chính Pháp, 09-03-1945, cha Cressonnier bị bệnh, đang nằm điều trị tại bệnh viện Huế. Sau đó, ngài cũng như các linh mục thừa sai khác bị tập trung quản thúc tại Huế. Tháng 4-1946, vì bị sưng màng phổi khá nặng, ngài về Pháp chữa trị. Sau một năm, sức khỏe phục hồi dần, ngài được cử làm giáo sư Văn chương tại Tiểu Chủng viện Beaupréau.
Đến năm 1952, sau mấy năm bồi dưỡng, sức khỏe được hồi phục như xưa, nên ngài khẩn thiết xin Bề trên Hội Thừa sai Hải ngoại Paris cho trở lại miền truyền giáo. Thỉnh cầu được chấp thuận. Đến Huế, ngài được Đức cha Urrutia cử làm giáo sư tại trường Thiên Hựu trong vài tháng. Cuối năm 1952, ngài được trao phó trách nhiệm làm cha sở giáo xứ An Định, tức Mỹ Định, ở vùng cực bắc tỉnh Quảng Bình.
Vào ngày đình chiến tháng 7-1954, ngài đang làm cha sở Sáo Cát, một làng chài lưới cũng ở Quảng Bình, nên đi theo giáo dân di cư vào định cư tại Lăng Cô, nằm dưới chân đèo Hải Vân ở cực nam giáo phận Huế. Họ đạo Sáo Cát, tuy ở vùng đất mới, vẫn giữ tên gọi cũ và sinh sống bằng nghề đánh cá biển như xưa. Theo tư liệu của Giáo phận Huế, cha Cressonnier đã đồng hành với toàn bộ cộng đoàn Sáo Cát trong cuộc di cư vào Lăng Cô và giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức đời sống của cộng đoàn mới.
Cha Cressonnier tận tụy lăn xả vào trong mọi công việc để giúp đỡ cho bà con được an cư lạc nghiệp, từ việc cắm cọc giăng dây, phân lô, làm đường, dựng nhà, đào giếng, đến việc tu bổ, sửa sang, sắm mới thuyền bè lớn hơn và gắn máy mạnh hơn để tiếp tục đánh bắt hải sản xa bờ. Tất tật mọi thứ, không việc gì ngài không lăn mình vào để phục vụ dân chúng, giáo cũng như lương.
Việc tạo dựng các cơ sở công cộng như trường học, trạm y tế, nhà thờ, phòng học giáo lý và nhà các nữ tu, nhà xứ, ngôi chợ, ngài cũng quan tâm đôn đốc thực hiện. Nhà thờ giáo xứ Sáo Cát được xây dựng theo kiểu thức nhà nguyện của trường Thiên Hựu, vách bằng đá hoa cương, rất đẹp, đã làm cho toàn thể giáo dân hết sức vui mừng. Tư liệu của Giáo phận Huế ghi nhận nhà thờ Sáo Cát tại Lăng Cô được khởi công năm 1956 và hoàn tất vào đầu mùa thu năm 1958; công trình được xây bằng đá granite địa phương và trở thành một điểm tựa quan trọng của cộng đoàn.
Đồng thời, hội đồng giáo xứ và các hội đoàn đạo đức như Thiếu nhi Thánh Thể, Đạo binh Đức Mẹ, v.v. được ngài quan tâm tổ chức và hết lòng hỗ trợ trong các sinh hoạt. Curia Đạo binh Đức Mẹ giáo xứ Sáo Cát dưới thời cha linh hướng Cressonnier đã tìm kiếm và đưa trở về Giáo Hội hơn 300 con cháu của những người bỏ đạo qua các thời kỳ trước.
Năm 1962, sức khỏe sút giảm, ngài được về Pháp nghỉ phép một thời gian ngắn. Năm 1963, trở lại Việt Nam, Đức Giám mục giáo phận đổi ngài đến phụ trách giáo xứ Lại An, ở quận Gio Linh (Quảng Trị), cách vĩ tuyến 17 không xa. Tại đây, người Công giáo sống rải rác, mỗi nơi một ít gia đình. Cha Cressonnier đã xây nhà xứ Lại An.
Năm 1965, ngài vào Huế. Các linh mục thừa sai MEP vừa thuê một căn nhà ở đường Phan Đình Phùng, gần cầu Kho Rèn, làm trụ sở, và ngài được giao nhiệm vụ quản lý ngôi nhà đó. Hằng ngày, ngài đi bộ qua Tiểu Chủng viện Hoan Thiện gần đó để dạy Pháp văn cho các chủng sinh. Các tư liệu của MEP cũng ghi nhận vào giai đoạn cuối đời, ngài vừa phụ trách cơ sở cộng đồng của các thừa sai tại Huế vừa tiếp tục công việc giảng dạy.
Là con của một gia đình khá giả, có cơ sở đất đai lớn ở vùng Oise, cách Paris khoảng 30 km về phía bắc, thu hoạch nhiều hoa lợi, nên cha Cressonnier đã giúp nhiều người khó nghèo ở Việt Nam, nhất là những nạn nhân chiến cuộc. Trong biến cố Mậu Thân, ngài đón nhận nhiều gia đình ở chung quanh đến trú ngụ tại trụ sở Hội Truyền giáo cùng với ngài và cha Pierre Poncet, cha sở Khe Sanh.
Trước khi xảy ra biến cố, hằng ngày ngài đến dâng lễ tại nhà Bêtania của các nữ tu Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm. Nhà này ở gần nhà của gia đình Đức Hồng y Phanxicô Xaviê.
Ngày 13-02-1968, cuộc chiến xảy ra dữ dội, tiếng súng đang nổ khắp nơi trong thành phố Huế, nhưng hai cha Cressonnier và Pierre Poncet đã bất chấp nguy hiểm, rời trụ sở Hội Truyền giáo, qua cầu Kho Rèn, đi lên nhà Bêtania. Có một người bạn Pháp cùng đi theo hai ngài. Vào được nhà, không thấy nữ tu nào, lại không có chìa khóa mở cửa nhà tạm nhỏ để lấy Mình Thánh Chúa, nên hai ngài đã quyết định bưng nhà tạm nhỏ về trụ sở. Cha Poncet ôm nhà tạm vào người, ba người đi trở về hướng cầu Kho Rèn.
Nhưng lúc đi gần đường xe lửa, hai cha bị một loạt súng từ phía sau bắn xối xả vào người. Các ngài ngã quỵ và chết bên vệ đường. Người bạn Pháp bị thương ở tay và chạy thoát.
Ngày 25-02-1968, người ta tìm thấy xác hai cha tại nơi bị bắn. Nhà tạm bể vụn, bình thánh trống trơn. Có thể sau khi ngã xuống, hai ngài đã cố rước hết Mình Thánh Chúa…
Cha Mary-Georges Cressonnier qua đời ngày 13-02-1968 tại Phủ Cam, Huế, ở tuổi 59. Hồ sơ của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris ghi nhận ngài là một nhà truyền giáo đã phục vụ tại Huế trong hai giai đoạn 1934-1945 và 1953-1968, và cái chết của ngài được xếp vào trường hợp “mort violente” – tử vong do bạo lực.
-----------
Trích: Đấng Đáng Kính Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, Gia Đình Cựu Chủng Sinh Huế, 2017,
Theo chú thích (38) Linh mục Nguyễn Đức Vệ. 101 vị Thừa sai MEP đã phục vụ Giáo phận Huế (1850-1975) tập II, trang 167-176.
-----------
Chúng con xin tạ ơn Chúa muôn đời, vì Người đã thương ban cho chúng con một vị thánh gần gũi trên quê hương Việt Nam chúng con. Chúng con nguyện xin Chúa tiếp tục thương yêu Giáo hội quê hương chúng con, cho gia đình và mỗi chúng con, có được tinh thần sống thánh thiện trong mọi hoàn cảnh như Đấng Đáng Kính Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, mà chúng con rất yêu kính, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ và của ngài. Amen.
Phai Lam Gi?