Phai Lam Gi?

Phai Lam Gi? https://www.youtube.com/
phailamgi.com

22/09/2026

Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận truyền cảm hứng cho Giới Trẻ Công Giáo. CĐ San José 2001 | Full ở bình luận

Kỷ niệm 24 năm Đấng Đáng Kính, Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận về với Chúa (16/9/2002-16/9/2026)Hiệp lòng ...
16/09/2026

Kỷ niệm 24 năm Đấng Đáng Kính, Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận về với Chúa (16/9/2002-16/9/2026)

Hiệp lòng cầu nguyện cho tiến trình phong Chân phước của ngài sớm thành sự.

Lịch sử tượng Đức Mẹ Tà Paobắt đầu từ Năm Thánh Đức Mẹ 1959, kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, theo hồi ký của ...
09/09/2026

Lịch sử tượng Đức Mẹ Tà Pao
bắt đầu từ Năm Thánh Đức Mẹ 1959, kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, theo hồi ký của linh mục Antôn Trần Văn Kiệm, cố vấn tôn giáo của Tổng thống Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm, trong dịp này, Tổng thống đã trao đổi với ngài về việc xây dựng một linh đài Đức Mẹ để cầu bình an cho đất nước. Chính ông đưa ra ý tưởng về pho tượng cao 3 mét, đặt trên bệ cao 2 mét, đồng thời chọn ngọn đồi tại Tà Pao, thuộc tỉnh Bình Tuy khi ấy, làm nơi đặt tượng.

Công trình được giao cho kiến trúc sư Ngô Viết Thụ quy hoạch và thiết kế. Linh mục Antôn Nguyễn Văn Kiệm trực tiếp giám sát việc thi công và lắp đặt. Tượng được giao cho một chuyên viên làm tượng gốc Phát Diệm tên Hải thực hiện tại khu xóm tượng Phát Diệm ở Phú Nhuận, Sài Gòn. Tượng được đúc bằng xi măng trắng, chia thành nhiều phần rỗng ruột để thuận tiện vận chuyển. Sau khi hoàn thành, tượng được đưa bằng tàu lửa từ Sài Gòn ra Phan Thiết, rồi tiếp tục được vận chuyển bằng xe tải lên Tà Pao.

Tại Tà Pao, các phần tượng được ghép lại trên một nền móng có cột sắt ở giữa, sau đó đổ xi măng vào bên trong để tạo thành một khối vững chắc. Ngày 8 tháng 12 năm 1959, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức cha Marcel Piquet Lợi, Giám mục Giáo phận Nha Trang, đã cử hành nghi thức làm phép tượng Đức Mẹ Tà Pao. Từ đó, nơi đây trở thành điểm quy tụ của các tín hữu đến cầu nguyện và kính viếng Đức Mẹ.

Nhưng rồi chiến tranh và những biến động của lịch sử khiến Tà Pao dần trở nên hoang vắng. Sau năm 1975, tượng Đức Mẹ bị hư hại nặng, nhiều phần bị phá vỡ. Khoảng tháng 10 năm 1980, một số giáo dân vùng Đức Tân và Huy Khiêm bắt đầu tìm kiếm lại tượng. Đến mùa Phục Sinh năm 1989, giáo dân các giáo xứ Nghị Đức và Huy Khiêm phát hiện phần đầu, tay và chân tượng đã bị bể nát.

Cuối tháng 6 năm 1991, với sự cho phép và khích lệ của Đức cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Giáo phận Phan Thiết, cùng sự động viên của linh mục Phanxicô Xaviê Đinh Tân Thời, một số giáo dân đã tìm đến nhà điêu khắc Lê Phát để đắp vá và sửa chữa lại tượng. Công việc hoàn tất ngày 30 tháng 7 năm 1991. Từ ngày 1 tháng 8 năm 1991, Thánh tượng Đức Mẹ Tà Pao lại hiện diện trên ngọn núi, và những nhóm tín hữu đầu tiên bắt đầu trở lại kính viếng, cầu nguyện.

Từ một pho tượng từng bị bỏ quên giữa núi rừng, Tà Pao dần trở thành một trung tâm hành hương lớn của Giáo phận Phan Thiết và của người Công giáo Việt Nam. Hơn sáu thập niên sau ngày tượng được làm phép, những người tìm về Tà Pao vẫn đứng dưới chân Đức Mẹ để cầu nguyện, tạ ơn và xin Mẹ chuyển cầu trước Thiên Chúa. Lịch sử của Tà Pao, vì thế, không chỉ là lịch sử của một pho tượng, mà còn là câu chuyện về một địa điểm đã nhiều lần bị lãng quên rồi lại được tìm thấy, gìn giữ và hồi sinh trong đời sống đức tin của các tín hữu.

Ảnh: Tượng đang được chế tác tại khu xóm tượng Phát Diệm, Phú Nhuận, năm 1959​
Xem: Hồi ký của linh mục Antôn Trần Văn Kiệm, Sự Thật có sức Giải phóng, TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt giới thiệu (Lưu hành nội bộ), tr. 44-47.

Phai Lam Gi?

Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam bị huyền chức toàn phầnNgày 8/9/2026, Tòa Giám mục Giáo phận Vinh công bố thông báo về việc ...
09/09/2026

Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam bị huyền chức toàn phần

Ngày 8/9/2026, Tòa Giám mục Giáo phận Vinh công bố thông báo về việc áp dụng vạ huyền chức toàn phần đối với linh mục Antôn Đặng Hữu Nam.

Theo Thông báo số 2612/TB-TGM, quyết định được ban hành sau một tiến trình hình sự ngoại tư pháp theo Điều 1720 của Bộ Giáo luật 1983. Giáo phận cho biết cha Nam bị xác định vi phạm Điều 1373 và Điều 1390 §2 của Bộ Giáo luật, liên quan đến việc kích động chống đối hoặc bất tuân đối với Đấng Bản quyền và việc làm tổn hại bất hợp pháp đến danh tiếng người khác.

Theo thông báo, cha Nam được triệu tập đến Tòa Giám mục ngày 24/7/2026, được thông báo các cáo buộc và chứng cứ, đồng thời được trao quyền bào chữa bằng văn bản. Bản biện hộ của cha được nộp ngày 4/8. Sau khi xem xét hồ sơ và các lập luận, Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long, Giám mục Giáo phận Vinh, đã ban hành quyết định, sau khi tham khảo ý kiến của các vị liên quan và các chuyên gia giáo luật.

Với hình phạt huyền chức toàn phần (suspensio), cha Antôn Đặng Hữu Nam bị đình chỉ việc thực thi các quyền và chức năng thuộc thừa tác vụ linh mục trong phạm vi hình phạt. Hình phạt này không phải là hình phạt thải hồi khỏi hàng giáo sĩ.

Thông báo cũng cho biết Giáo phận hủy bỏ lệnh trước đây buộc cha Nam cư trú tại Tòa Giám mục. Cha được lựa chọn nơi cư trú phù hợp với các điều kiện do Giáo phận quy định.

Theo Giáo phận Vinh, cha Nam có quyền yêu cầu Đức Giám mục sửa đổi sắc lệnh và có quyền thượng cầu lên Bộ Phúc Âm hóa các Dân tộc.

Nguồn: Giáo Phận Vinh, Việt Nam

*****
Trước những diễn biến đang được quan tâm trong Giáo hội Việt Nam, xin mọi người cùng thêm lời cầu nguyện cho Hội Thánh tại Việt Nam, cách riêng cho Giáo phận Vinh. Xin Chúa ban ơn khôn ngoan, bình an và lòng can đảm cho các đấng chủ chăn, các linh mục và mọi thành phần Dân Chúa, để trong mọi hoàn cảnh, tất cả luôn biết tìm kiếm sự thật, sống trong tình bác ái và hiệp nhất với nhau.

Xin đặc biệt cầu nguyện cho cha Antôn Đặng Hữu Nam, để ngài luôn được Chúa nâng đỡ, soi sáng và ban sức mạnh trong hoàn cảnh hiện tại. Xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn, để mọi quyết định và hành động đều hướng đến thiện ích của Giáo hội và phần rỗi các linh hồn.

Xin Chúa gìn giữ và chúc lành cho Giáo hội Việt Nam, cho Giáo phận Vinh và cho tất cả những người đang mang trên mình trách nhiệm phục vụ Dân Chúa.

Amen.

Phai Lam Gi?

Kỷ niệm 1 nămThánh CARLO ACUTIS được tuyên thánhMỗi ngày đều có lời chứng mới về phép lạ...Ngày 7/9/2025, tại Quảng trườ...
07/09/2026

Kỷ niệm 1 năm
Thánh CARLO ACUTIS được tuyên thánh
Mỗi ngày đều có lời chứng mới về phép lạ...

Ngày 7/9/2025, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã tuyên thánh cho Carlo Acutis cùng với Pier Giorgio Frassati. Hôm nay, đúng một năm, Aleteia có cuộc phỏng vấn với bà Antonia Salzano, mẹ của Thánh Carlo. Điều bà chia sẻ thật đáng chú ý: những lời chứng về phép lạ, chữa lành và hoán cải vẫn được gửi về gần như mỗi ngày. Theo bà, những điều này đã bắt đầu ngay từ ngày Carlo qua đời và tiếp tục cho đến hôm nay. Điều thay đổi sau lễ tuyên thánh là Giáo hội đã chính thức xác nhận sự thánh thiện của Carlo.

Carlo Acutis qua đời năm 2006, khi mới 15 tuổi. Ngài là một thiếu niên của thời đại Internet: thích máy tính, bóng đá, trò chơi điện tử và những điều rất bình thường của tuổi trẻ. Nhưng Carlo có một tình yêu đặc biệt dành cho Thánh Thể. Cậu tham dự Thánh lễ, Chầu Thánh Thể và đã sử dụng khả năng về máy tính để giới thiệu các phép lạ Thánh Thể trên khắp thế giới. Chính đời sống rất bình thường ấy, nhưng với một đức tin sâu sắc, đã khiến Carlo trở thành một hình ảnh đặc biệt đối với người trẻ hôm nay.

Mẹ Carlo cho rằng điều quan trọng nhất không phải là những câu chuyện về phép lạ, mà là điều Thiên Chúa đang thực hiện nơi con người qua Carlo. Bà nói Carlo là một khí cụ để giúp nhiều người, cả người trẻ lẫn người lớn, linh mục, chủng sinh và tu sĩ, sống đức tin trưởng thành hơn. Tất cả những gì Carlo làm, cậu đều làm cho Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu.

Có lẽ đó cũng là điều khiến Carlo gần gũi với chúng ta. Ngài không sống trong một thế giới khác. Ngài sống giữa trường học, bạn bè, bóng đá, máy tính và Internet. Nhưng giữa tất cả những điều ấy, Carlo biết điều gì phải ở vị trí trung tâm. Cậu không cần rời khỏi thế giới để tìm Chúa; cậu tìm Chúa ngay trong cuộc sống mình đang sống.

Một năm sau ngày tuyên thánh, hình ảnh Carlo tiếp tục lan rộng. Những nhà thờ, nhà nguyện, trường học, trung tâm mục vụ và các sáng kiến phục vụ người nghèo mang tên ngài tiếp tục được hình thành ở nhiều nơi. Đồng thời, những lời chứng về ơn lành, chữa lành và hoán cải vẫn tiếp tục được gửi về.

Tại Việt Nam, Carlo cũng ngày càng trở nên quen thuộc với các em Thiếu nhi Thánh Thể, giới trẻ và nhiều cộng đoàn tín hữu. Những cuộc triển lãm về các phép lạ Thánh Thể mà Carlo từng nghiên cứu và giới thiệu cũng đang được tổ chức tại một số Giáo phận, giúp nhiều người có thêm cơ hội suy niệm về mầu nhiệm Thánh Thể.

Nhưng có lẽ điều đáng để chúng ta nhớ nhất về Carlo không chỉ là một cậu bé đã được tuyên thánh, không chỉ là những câu chuyện về phép lạ. Đó là một lời mời gọi rất đơn giản: giữa một cuộc sống đầy những điều khiến chúng ta phân tâm, Chúa đang ở đâu trong đời tôi? Tôi có còn dành thời gian cho Thánh Thể, cho cầu nguyện, cho người nghèo, cho gia đình và cho những người đang cần đến mình không?

Mẹ Carlo từng nói: “Carlo đã là một vị thánh đối với chúng tôi từ trước khi Giáo hội chính thức công nhận.” Và có lẽ đây là điều đẹp nhất của ngày kỷ niệm hôm nay: Giáo hội không chỉ giới thiệu cho chúng ta một vị thánh trẻ, mà nhắc chúng ta rằng nên thánh không phải là chuyện của một thời đại khác. Một người trẻ hôm nay vẫn có thể sống cho Chúa. Một người bình thường hôm nay vẫn có thể nên thánh.

Lạy thánh Carlo Acutis, xin cầu cho chúng con. Đặc biệt xin cầu cho những bạn trẻ, để giữa thế giới này, chúng con không đánh mất Chúa Giêsu và biết dùng những gì mình có để làm điều tốt. Xin giúp chúng con biết yêu mến Thánh Thể và sống đức tin bằng chính cuộc đời của mình.

Lạy thánh Carlo Acutis, cầu cho chúng con.*🙏

Phai Lam Gi?

Tâm sự của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt  - tuổi 75Hôm nay tôi bắt đầu bước vào tuổi 75. Theo Giáo luật tuổi 75 là tuổi được ...
04/09/2026

Tâm sự của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt - tuổi 75

Hôm nay tôi bắt đầu bước vào tuổi 75. Theo Giáo luật tuổi 75 là tuổi được nghỉ mọi nhiệm vụ, mọi công việc. Mở ra một thời kỳ mới. Có nhiều người rất hăng say hoạt động. Nhưng khi nghỉ hưu thì hụt hẫng. Thậm chí có người mau chóng suy sụp và bị đột quỵ. Lời Chúa hôm nay dạy tôi cách sống thời kỳ mới trong cuộc đời.​

Thư Côrintô dạy: “Chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Chúa Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều, là phải chứng tỏ lòng trung thành”. Người ta hụt hẫng khi giã từ nhiệm vụ vì quá gắn bó với nhiệm vụ và công việc. Vì nghĩ rằng mình vẫn còn năng lực. Vì nghĩ rằng người khác vẫn cần đến mình. Nhưng thực chất là chính mình cần công việc, cần người khác, cần được công nhận. Thực ra chúng ta chỉ là người tôi tớ của Chúa. Thánh Tông đồ dạy: điều quan trọng duy nhất của người tôi tớ đó là trung thành. Nhưng ta đặt lòng trung thành sai chỗ khi quá trung thành với công việc. Trung thành chính là trung thành với Chúa là chủ nhân của ta. Và người tôi tớ trung thành thì luôn luôn sẵn sàng cho mọi nhiệm vụ được chủ trao phó. Phải sẵn sàng thay đổi theo ý chủ.

Bài Tin mừng hôm nay, thứ Sáu ngày 4/9/2026, dạy ta phải trung thành như thế nào. Trung thành không phải là khư khư với cái cũ. Nhưng là phải đổi mới theo Chúa. Chúa Giêsu đưa ra hai hình ảnh thật đẹp và ý nghĩa.

Hình ảnh thứ nhất: Tấm áo mới: “Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ”. Mặc áo cũ quen rồi nên người ta tiếc và muốn giữ lại. Đến nỗi muốn xé tấm áo mới để lấy vải vá vào áo cũ. Cuộc đời của ta, đặc biệt của người đã sống 75 năm, là manh áo cũ. Đã rách nát, tả tơi, tàn tạ. Vậy mà ta cứ gắn bó muốn duy trì con người cũ ấy mãi. Càng già càng khó thay đổi. Đến nỗi cả cái giường cái chiếu không quen cũng không ngủ được.

Chúa Giêsu là tấm áo mới. Nếu ta trung thành với Chúa thì phải cởi bỏ manh áo cũ rách nát đi. Để mặc lấy Chúa là tấm áo mới. Manh áo cũ là con người tội lỗi. Bao nhiêu năm sống ở đời là bấy nhiêu lầm lỗi. Manh áo cũ là nhiệm vụ cũ. Là nhiệm sở cũ. Là những người cũ từng gắn bó với ta và ta gắn bó với họ. Là sức khoẻ tuổi thanh xuân. Là trí khôn minh mẫn thời sung sức. Là những công trình lấp biển vá trời. Đã hư hỏng, mục nát rồi. Tấm áo mới là Chúa Kitô. Là cuộc sống mới. Là siêu thoát mọi giá trị thế gian. Như thư Côrintô dạy: “Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình…Đấng xét xử tôi chính là Chúa”.

Đừng xé áo mới để vá vào áo cũ. Đừng bắt Chúa phải làm theo ý ta. Đừng tiếc nuối manh áo cũ rách. Hãy xé toạc áo cũ là cuộc đời xưa cũ. Vất cho xa. Để mặc tấm áo mới là Chúa Kitô

Hình ảnh thứ hai: Rượu mới. Chúa Giêsu chính là rượu mới. Cuộc đời tôi là bầu da cũ. Bầu da cũ đã lỗi thời. Chỉ chứa được thứ rượu cũ. Rượu cũ là thế gian. Là cuộc đời xưa cũ. Là vinh quang trần thế. Là sướng, khổ, vinh, nhục. Là những giấc mơ danh, lợi, thú. Đã chìm vào quá khứ. Đã nhạt như nước ốc. Đã chua như giấm. Đã hết hương vị. Đã uống cạn rồi.

Chúa Giêsu là rượu mới. Tràn đầy sức sống. Toả hương thơm ngất ngây. Là hương vị thiên đàng. Là hương vị tình yêu. Là hương vị hạnh phúc. Nhưng chất rượu mới Giêsu quá mạnh. Bầu da cũ cuộc đời tôi chứa không nổi. Phải thay bầu da mới. Phải trở thành con người mới. Rượu mới thiên đàng cần bầu da từ bỏ trần gian. Rượu sức sống thiêng liêng đòi bầu da siêu thoát trần thế. Rượu tình yêu đòi bầu chứa quên mình. Rượu hạnh phúc phải chứa trong bầu da say mến.

Thay đổi là trung thành với Chúa Giêsu. Từ bỏ con người cũ là trung thành với tình yêu của Chúa. Từ bỏ cuộc sống cũ là trung thành với ơn gọi theo Chúa. Từ bỏ những nết xấu cũ là trung thành với lời mời gọi sám hối của Chúa. Từ bỏ những công việc cũ là trung thành với đức tin vào Tin Mừng.

Và khi từ bỏ manh áo cũ và bầu da cũ để mặc lấy Chúa là manh áo mới và tiếp nhận thứ rượu mới, ta sẽ tràn đầy hân hoan. Như lời Thánh vịnh Đáp ca: “Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng”.

Thời kỳ mới phải có con người mới. Hãy mạnh dạn vất bỏ manh áo cũ mục nát, bầu da cũ quá khứ. Hãy mặc lấy Chúa Kitô là tấm áo mới. Hãy chuẩn bị bầu da mới để đón nhận Chúa Kitô là chất rượu mới. Rượu tình yêu. Rượu sự sống. Rượu hạnh phúc.​

Xin mọi người cầu nguyện cho tôi được biết sống thời kỳ mới trong Chúa Kitô. Trong chiêm ngắm Chúa. Trong cầu nguyện kết hợp. Để tôi được luôn ở bên chàng rể Kitô. Được dự tiệc cưới Nước Trời. Được hân hoan trong hạnh phúc không bao giờ vơi cạn.

Phai Lam Gi?

Một trong những vị "ân sư" ảnh hưởng đặc biệt đến cuộc đời thánh của Đấng Đáng Kính Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn...
08/08/2026

Một trong những vị "ân sư" ảnh hưởng đặc biệt đến cuộc đời thánh của Đấng Đáng Kính Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận:

CHA MARIE CRESSONNIER (CỐ BÁU)

Năm 1941, khi lên 13 tuổi, cậu Nguyễn Văn Thuận gia nhập Tiểu Chủng viện An Ninh tại Cửa Tùng, Quảng Trị. Trong những năm tháng ấy, dù hoàn cảnh kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của Đệ nhị Thế chiến khiến đời sống chủng sinh có phần kham khổ, cậu Thuận, vốn quen với một cuộc sống đầy đủ trong một gia đình khá giả, vẫn vui vẻ đón nhận mọi thiếu thốn vật chất và hòa đồng với anh em một cách tự nhiên, như những người con trong một gia đình nông dân. Chính tại Tiểu Chủng viện An Ninh, cậu đã tìm thấy một niềm hạnh phúc sâu xa trong đời sống thánh hiến.

Ở đó, cậu được sống và học hỏi những linh mục vừa đạo đức, thánh thiện, vừa uyên thâm về học vấn và tận tâm với việc giáo dục. Trong số những vị ân sư ấy có Đức cha Jean-Baptiste Urrutia và các linh mục Anrê Bùi Quang Tịch, Giuse Maria Nguyễn Văn Thích, Marie Cressonnier (Cố Báu), Pierre Richard (Cố Phan), Phaolô Lê Văn Đẩu, Giuse Lê Văn Hộ, Phêrô Trần Hữu Tôn và Micae Nguyễn Văn Tường.

Nhưng trong số rất nhiều người đã góp phần đào tạo cậu Thuận, có bốn vị đặc biệt để lại những dấu ấn sâu đậm trên hành trình hình thành nhân cách và đời sống thiêng liêng của ngài. Mỗi người trao cho cậu một điều gì đó: một cách sống, một nhân đức, một cảm thức về Thiên Chúa, về con người và về ơn gọi linh mục. Những hạt giống được gieo xuống từ những năm tháng rất sớm ấy đã âm thầm lớn lên, để rồi nhiều thập niên sau trở thành những nét nổi bật trong con người Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Trong số những ân sư ấy, cha Marie Cressonnier – Cố Báu – là người đã để lại nơi cậu Thuận một dấu ấn đặc biệt: một linh đạo của sự khó nghèo, lòng yêu mến Đức Maria, đời sống cầu nguyện và nghệ thuật sống hoàn toàn thuộc về Chúa trong những điều rất bình thường của mỗi ngày.

Muốn hiểu vì sao Đức cha Thuận sau này có thể sống đơn sơ giữa những điều kiện thiếu thốn, bình thản trước đau khổ, luôn mang trong mình tràng chuỗi Mân Côi và giữ được một đời sống nội tâm sâu thẳm giữa những thử thách khắc nghiệt nhất, có lẽ phải trở về với những năm tháng tại Tiểu Chủng viện An Ninh – nơi cậu bé Nguyễn Văn Thuận đã gặp người cha linh hướng mang tên Marie Cressonnier, Cố Báu.

Cha Marie Cressonnier (Cố Báu) sinh ngày 07-10-1908 tại Neuville-sur-Auneuil (Oise), thuộc giáo phận Beauvais, Pháp quốc. Ngài vào Tiểu Chủng viện Saint-Lucien de Beauvais, rồi gia nhập Đại Chủng viện Thừa sai Hải ngoại Paris ngày 08-09-1928. Ngài được thụ phong linh mục ngày 01-07-1934 và đến tháng 9 cùng năm được cử đi truyền giáo tại giáo phận Huế. Ngài đến Huế ngày 20-10-1934 và được Đức cha Chabanon đặt tên là Báu, cử đến Cổ Vưu (Trí Bưu) làm phó xứ cho Cố Châu để học tiếng Việt. Tháng 9-1935, ngài được bổ nhiệm làm cha sở An Do Đông, Cửa Tùng, Quảng Trị.

Tháng 7-1936, Đức cha cử ngài đến Tiểu Chủng viện An Ninh làm giáo sư. Ngài dạy học rất tận tâm và thiết lập một thư viện nhỏ gồm nhiều sách báo tiếng Pháp cho các chủng sinh đọc để trau dồi thêm sinh ngữ và kiến thức. Ngoài các giờ dạy Latinh và tiếng Pháp, ngài còn phụ trách việc dạy thể dục cho các chú. Mùa hè năm 1938, ngài xin Đức cha cho đến phục vụ tại giáo xứ Bác Vọng để được làm quen với việc mục vụ tại xứ truyền giáo. Sau hè năm 1939, ngài trở lại dạy học tại Tiểu Chủng viện như cũ.

Tháng 9-1941, ngài gặp chủng sinh Nguyễn Văn Thuận, vừa mới vào chủng viện. Trong sáu năm học Tiểu Chủng viện, từ năm 1941 đến năm 1947, chú Thuận được ở gần cha Cressonnier trong năm năm (1941-1946) và chọn ngài làm cha linh hướng.

Xuất thân trong một gia đình khá giả, giàu có, nhưng từ ăn mặc cho đến các vật dụng cá nhân, cha Cressonnier sống rất khó nghèo. Chính cuộc sống giản đơn như một thầy dòng khổ tu của cha linh hướng Marie Cressonnier (Cố Báu) đã ảnh hưởng rất sâu đậm đến việc phát triển nhân đức khó nghèo nơi chú Thuận.

Tại Tòa Giám mục Nha Trang, Đức cha Thuận nằm ngủ trên một giường sắt trải chiếc chiếu lác trên tấm nệm rơm, với chiếc mùng muỗi rẻ tiền. Đồ dùng hằng ngày rất tầm thường. Có thể vì nhờ vậy mà trong những năm tháng về sau, ngài đã chịu đựng được cuộc sống tù đày rất kham khổ trong nhiều năm trời.

Theo lời kể của Đức ông Phan Văn Hiền, nghĩa tử của ngài, thì trong những năm ở làm Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình tại Vatican, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê “sống bình dân và nghèo khó. Nghèo từ áo quần, đồ dùng và ngay cả ăn uống. Ngài chỉ có một bộ đồ vét xem ra tươm tất, may từ trước thời 1975, để mặc trong những lễ lạc quan trọng. Còn tất cả áo quần còn lại, được ngài đặt cho một tên rất ‘kiêu’: ‘thuộc loại năm cha bảy mẹ’, nghĩa là mỗi thứ mỗi kiểu không giống ai. Ai cho gì cũng nhận. Ai may gì cũng mặc. Đến nỗi hai chiếc quần màu xám tro được Bà Nhất Huy may cho theo kiểu nhà quê Việt Nam – lưng quần bằng dây thun – bị cha Sinh chê là ‘hai cái quần cháo lòng’, cũng được ngài mặc đi ra ngoài một cách vui vẻ tự nhiên. Ngài thường nhắc nhở: ‘Mình phải biết sống nghèo. Tiết kiệm thêm một chút, mình sẽ giúp được nhiều người nghèo khổ ở Việt Nam’” (37).

Dạng người ốm yếu, lại thường xuyên yếu mệt, bệnh này tiếp theo bệnh khác cứ thay nhau hành hạ thân xác mảnh mai của ngài, lại phải giải phẫu liên tục, nhưng cha Cressonnier luôn tươi vui, chẳng ai thấy ngài nhăn nhó than van bao giờ cả.

Chính cha linh hướng Cressonnier đã hướng dẫn chú Thuận đọc những tác phẩm của cha Dom Columba Marmion, một tu sĩ dòng Biển Đức người Ireland, viết về những mầu nhiệm của Kinh Mân Côi và diễn tả vai trò đặc thù của Đức Maria trong sự Nhập thể của Đức Kitô. Những tác phẩm của Dom Columba Marmion đã biến đổi hoàn toàn linh đạo của chú Thuận. Nhiều năm sau, vào ngày 03-09-2000, Đức Hồng y có dịp tham dự lễ tuyên phong Chân phước cho cha Dom Marmion do Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II chủ sự tại Rôma, chắc cũng là một dịp để ngài đọc lại những tác phẩm mà cha linh hướng đã hướng dẫn ngài nghiền ngẫm năm xưa.

Cha Cressonnier đã làm tăng trưởng nơi chú Thuận lòng sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt. Đức Hồng y nói rằng chưa bao giờ thấy cha linh hướng của mình rời tràng chuỗi Mân Côi. Và về phần mình, trọn đời Đức Hồng y thường xuyên mang theo tràng chuỗi bên mình và lần hạt luôn.

Ở Tiểu Chủng viện An Ninh, nếu theo con đường từ cổng chính đi vào độ 150 thước, thì thấy có hai nguyện đường nhỏ cách hàng rào chè tàu của đường khoảng 10 thước; bên phải là “nhà thờ” Đức Mẹ, bên trái là “nhà thờ” Thánh An Tôn. Các chủng sinh quen gọi như vậy, nhưng thực sự mỗi nguyện đường chỉ có bề ngang 4 thước, bề dài 8 thước, không chứa hết 100 người đứng chen chúc nhau. Chú Thuận rất thích giúp lễ và tập đánh đàn dương cầm tại “nhà thờ Đức Mẹ”. Chú cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi ở tại nơi này, phảng phất hương thơm của những bông hoa táo hoang được trồng gần đó.

Ngày quân Nhật đảo chính Pháp, 09-03-1945, cha Cressonnier bị bệnh, đang nằm điều trị tại bệnh viện Huế. Sau đó, ngài cũng như các linh mục thừa sai khác bị tập trung quản thúc tại Huế. Tháng 4-1946, vì bị sưng màng phổi khá nặng, ngài về Pháp chữa trị. Sau một năm, sức khỏe phục hồi dần, ngài được cử làm giáo sư Văn chương tại Tiểu Chủng viện Beaupréau.

Đến năm 1952, sau mấy năm bồi dưỡng, sức khỏe được hồi phục như xưa, nên ngài khẩn thiết xin Bề trên Hội Thừa sai Hải ngoại Paris cho trở lại miền truyền giáo. Thỉnh cầu được chấp thuận. Đến Huế, ngài được Đức cha Urrutia cử làm giáo sư tại trường Thiên Hựu trong vài tháng. Cuối năm 1952, ngài được trao phó trách nhiệm làm cha sở giáo xứ An Định, tức Mỹ Định, ở vùng cực bắc tỉnh Quảng Bình.

Vào ngày đình chiến tháng 7-1954, ngài đang làm cha sở Sáo Cát, một làng chài lưới cũng ở Quảng Bình, nên đi theo giáo dân di cư vào định cư tại Lăng Cô, nằm dưới chân đèo Hải Vân ở cực nam giáo phận Huế. Họ đạo Sáo Cát, tuy ở vùng đất mới, vẫn giữ tên gọi cũ và sinh sống bằng nghề đánh cá biển như xưa. Theo tư liệu của Giáo phận Huế, cha Cressonnier đã đồng hành với toàn bộ cộng đoàn Sáo Cát trong cuộc di cư vào Lăng Cô và giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức đời sống của cộng đoàn mới.

Cha Cressonnier tận tụy lăn xả vào trong mọi công việc để giúp đỡ cho bà con được an cư lạc nghiệp, từ việc cắm cọc giăng dây, phân lô, làm đường, dựng nhà, đào giếng, đến việc tu bổ, sửa sang, sắm mới thuyền bè lớn hơn và gắn máy mạnh hơn để tiếp tục đánh bắt hải sản xa bờ. Tất tật mọi thứ, không việc gì ngài không lăn mình vào để phục vụ dân chúng, giáo cũng như lương.

Việc tạo dựng các cơ sở công cộng như trường học, trạm y tế, nhà thờ, phòng học giáo lý và nhà các nữ tu, nhà xứ, ngôi chợ, ngài cũng quan tâm đôn đốc thực hiện. Nhà thờ giáo xứ Sáo Cát được xây dựng theo kiểu thức nhà nguyện của trường Thiên Hựu, vách bằng đá hoa cương, rất đẹp, đã làm cho toàn thể giáo dân hết sức vui mừng. Tư liệu của Giáo phận Huế ghi nhận nhà thờ Sáo Cát tại Lăng Cô được khởi công năm 1956 và hoàn tất vào đầu mùa thu năm 1958; công trình được xây bằng đá granite địa phương và trở thành một điểm tựa quan trọng của cộng đoàn.

Đồng thời, hội đồng giáo xứ và các hội đoàn đạo đức như Thiếu nhi Thánh Thể, Đạo binh Đức Mẹ, v.v. được ngài quan tâm tổ chức và hết lòng hỗ trợ trong các sinh hoạt. Curia Đạo binh Đức Mẹ giáo xứ Sáo Cát dưới thời cha linh hướng Cressonnier đã tìm kiếm và đưa trở về Giáo Hội hơn 300 con cháu của những người bỏ đạo qua các thời kỳ trước.

Năm 1962, sức khỏe sút giảm, ngài được về Pháp nghỉ phép một thời gian ngắn. Năm 1963, trở lại Việt Nam, Đức Giám mục giáo phận đổi ngài đến phụ trách giáo xứ Lại An, ở quận Gio Linh (Quảng Trị), cách vĩ tuyến 17 không xa. Tại đây, người Công giáo sống rải rác, mỗi nơi một ít gia đình. Cha Cressonnier đã xây nhà xứ Lại An.

Năm 1965, ngài vào Huế. Các linh mục thừa sai MEP vừa thuê một căn nhà ở đường Phan Đình Phùng, gần cầu Kho Rèn, làm trụ sở, và ngài được giao nhiệm vụ quản lý ngôi nhà đó. Hằng ngày, ngài đi bộ qua Tiểu Chủng viện Hoan Thiện gần đó để dạy Pháp văn cho các chủng sinh. Các tư liệu của MEP cũng ghi nhận vào giai đoạn cuối đời, ngài vừa phụ trách cơ sở cộng đồng của các thừa sai tại Huế vừa tiếp tục công việc giảng dạy.

Là con của một gia đình khá giả, có cơ sở đất đai lớn ở vùng Oise, cách Paris khoảng 30 km về phía bắc, thu hoạch nhiều hoa lợi, nên cha Cressonnier đã giúp nhiều người khó nghèo ở Việt Nam, nhất là những nạn nhân chiến cuộc. Trong biến cố Mậu Thân, ngài đón nhận nhiều gia đình ở chung quanh đến trú ngụ tại trụ sở Hội Truyền giáo cùng với ngài và cha Pierre Poncet, cha sở Khe Sanh.

Trước khi xảy ra biến cố, hằng ngày ngài đến dâng lễ tại nhà Bêtania của các nữ tu Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm. Nhà này ở gần nhà của gia đình Đức Hồng y Phanxicô Xaviê.

Ngày 13-02-1968, cuộc chiến xảy ra dữ dội, tiếng súng đang nổ khắp nơi trong thành phố Huế, nhưng hai cha Cressonnier và Pierre Poncet đã bất chấp nguy hiểm, rời trụ sở Hội Truyền giáo, qua cầu Kho Rèn, đi lên nhà Bêtania. Có một người bạn Pháp cùng đi theo hai ngài. Vào được nhà, không thấy nữ tu nào, lại không có chìa khóa mở cửa nhà tạm nhỏ để lấy Mình Thánh Chúa, nên hai ngài đã quyết định bưng nhà tạm nhỏ về trụ sở. Cha Poncet ôm nhà tạm vào người, ba người đi trở về hướng cầu Kho Rèn.

Nhưng lúc đi gần đường xe lửa, hai cha bị một loạt súng từ phía sau bắn xối xả vào người. Các ngài ngã quỵ và chết bên vệ đường. Người bạn Pháp bị thương ở tay và chạy thoát.

Ngày 25-02-1968, người ta tìm thấy xác hai cha tại nơi bị bắn. Nhà tạm bể vụn, bình thánh trống trơn. Có thể sau khi ngã xuống, hai ngài đã cố rước hết Mình Thánh Chúa…

Cha Mary-Georges Cressonnier qua đời ngày 13-02-1968 tại Phủ Cam, Huế, ở tuổi 59. Hồ sơ của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris ghi nhận ngài là một nhà truyền giáo đã phục vụ tại Huế trong hai giai đoạn 1934-1945 và 1953-1968, và cái chết của ngài được xếp vào trường hợp “mort violente” – tử vong do bạo lực.

-----------

Trích: Đấng Đáng Kính Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, Gia Đình Cựu Chủng Sinh Huế, 2017,
Theo chú thích (38) Linh mục Nguyễn Đức Vệ. 101 vị Thừa sai MEP đã phục vụ Giáo phận Huế (1850-1975) tập II, trang 167-176.

-----------
Chúng con xin tạ ơn Chúa muôn đời, vì Người đã thương ban cho chúng con một vị thánh gần gũi trên quê hương Việt Nam chúng con. Chúng con nguyện xin Chúa tiếp tục thương yêu Giáo hội quê hương chúng con, cho gia đình và mỗi chúng con, có được tinh thần sống thánh thiện trong mọi hoàn cảnh như Đấng Đáng Kính Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, mà chúng con rất yêu kính, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ và của ngài. Amen.

Phai Lam Gi?

06/08/2026

ĐHY.FX. Nguyễn Văn Thuận kể chuyện rất hài hước, tinh tế.

Đây là căn phòng trong ngôi nhà cổ thuộc Nhà xứ Giang Xá (thị trấn Trạm Trôi, Hoài Đức, Hà Nội) - nơi Đức Hồng y Phanxic...
05/08/2026

Đây là căn phòng trong ngôi nhà cổ thuộc Nhà xứ Giang Xá (thị trấn Trạm Trôi, Hoài Đức, Hà Nội) - nơi Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận chịu quản thúc từ tháng 5 năm 1978 đến tháng 11 năm 1982 - ngài đã trải qua 4 năm 5 tháng 12 ngày sống cô tịch tại nơi này.

Chiếc giường tre vẫn còn chiếu cói mộc mạc. Bộ bàn ghế gỗ đơn sơ là nơi ngài đọc kinh sách, viết lách và làm việc hằng ngày dưới sự giám sát. Tủ gỗ đựng các đồ đạc cá nhân ít ỏi của ngài.

Một trong những câu chuyện thú vị và cảm động nhất về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong thời gian bị quản thúc ở đây là câu chuyện về "ông Quản Trọng và chiếc bóng trong nhà thờ".

Khi ngài bị quản thúc, chính quyền đã bố trí một người tên là ông Quản Trọng đến để ở cùng và canh giữ ngài ngay tại nhà xứ. Người bạn đồng hành đặc biệt.

Thay vì giữ khoảng cách hay tỏ ra phòng bị, Đức Hồng y đã đối xử với ông Quản Trọng bằng một sự hiền hậu, mộc mạc và tôn trọng tuyệt đối. Ngài xem ông như một người bạn đồng hành trong cuộc sống thường nhật đầy thiếu thốn.

Muốn tìm "Cụ Thuận" ở đâu thì tìm cách nào?
Ông Quản Trọng sau này từng chia sẻ chân thành với giáo dân: "Tìm Cụ Thuận thì chỉ có hai chỗ này. Nếu không tìm thấy Cụ ở trong phòng thì chắc chắn Cụ đang đọc kinh cầu nguyện ở trong nhà thờ. Và Cụ thường cầu nguyện lâu giờ ở trong đó."

Chính lối sống cầu nguyện liên lỉ, không oán hận và tràn đầy tình yêu thương của ngài đã làm cảm hóa những người xung quanh. Cũng trong thời gian âm thầm tại Giang Xá này, Đức Hồng y đã viết tiếp các tác phẩm nổi tiếng:
Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công đồng Vatican II, và cuốn Những người lữ hành trên Đường Hy Vọng là cuốn sách mang tính chất hướng dẫn, đồng hành và khích lệ người tín hữu kiên tâm vững bước trong cuộc lữ hành trần thế đầy thử thách.

"Người lữ hành không đi một mình để lý luận, họ dùng chính bước chân yêu thương để mở đường."
- ĐHY FX. Nguyễn Văn Thuận

Phai Lam Gi?

01/08/2026

ĐHY Thuận: Yêu người như thế nào?

Address

Quận 3

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phai Lam Gi? posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category