Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến

Share

Thông tin tuyên truyền- lời hay ý đẹp, lấy cái đẹp, dep cái xấu.

22/01/2026

Quy trình bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Ngay sau khi được Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản bầu, Ban Chấp hành Trung ương khóa mới sẽ tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Liên quan đến công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng, tại các Hội nghị Trung ương 13, 14, 15 khóa XIII, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất giới thiệu nhân sự (tái cử và tham gia lần đầu; chính thức và dự khuyết) vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, đồng thời thông qua Báo cáo và danh sách đề cử nhân sự giới thiệu để trình Đại hội XIV xem xét, bầu cử theo quy định.

Theo quy định, Đại hội sẽ tiến hành bầu Ủy viên Trung ương Đảng khóa mới. Danh sách trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa mới sẽ được công bố tại Đại hội.

Sau khi Đại hội Đảng toàn quốc bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa mới, Trung ương sẽ tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, để bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương khóa mới sau đó sẽ ra mắt tại Đại hội.

Quyết định 190/2024 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về quy chế bầu cử trong Đảng. Theo đó, việc bầu cử ở đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng do đại hội quyết định.

Đối với việc bầu Bộ Chính trị, quy trình bầu được quy định theo các bước sau:

1. Phiên họp thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Tổng Bí thư khóa trước (tái cử hoặc không tái cử) làm triệu tập viên khai mạc và chủ trì cho đến khi bầu xong Đoàn Chủ tịch hội nghị. Trường hợp Tổng Bí thư khóa trước không thể làm triệu tập viên thì Đoàn Chủ tịch Đại hội cử triệu tập viên.

2. Đoàn Chủ tịch Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng báo cáo về đề án và đề nghị số lượng Ủy viên Bộ Chính trị cần bầu.

3. Hội nghị thảo luận, biểu quyết về số lượng Ủy viên Bộ Chính trị.

4. Đoàn Chủ tịch báo cáo danh sách những đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá trước đề cử vào Bộ Chính trị.

5. Tiến hành ứng cử, đề cử.

6. Họp tổ để thảo luận.

7. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định.

Lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với những người ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

8. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử Bộ Chính trị.

9. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

Quy trình bầu Tổng Bí thư

Quyết định 190 nêu rõ quy trình bầu Tổng Bí thư gồm 5 bước:

1. Đoàn Chủ tịch báo cáo về yêu cầu, tiêu chuẩn Tổng Bí thư và dự kiến nhân sự Tổng Bí thư được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa trước giới thiệu, ý kiến giới thiệu của Bộ Chính trị khóa mới, kết quả giới thiệu nhân sự Tổng Bí thư của đại hội để hội nghị tham khảo.

2. Họp tổ để thảo luận và tiến hành ứng cử, đề cử.

3. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định; lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với những người ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

4. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử.

5. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

Điều 25 Quyết định 190 quy định về các bước bầu Ban Bí thư, gồm:

1. Tổng Bí thư thay mặt Đoàn Chủ tịch Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng báo cáo về đề án và đề nghị số lượng Ủy viên Ban Bí thư cần bầu.

2. Hội nghị thảo luận, biểu quyết về số lượng Ủy viên Ban Bí thư.

3. Đoàn Chủ tịch báo cáo danh sách những đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa trước đề cử vào Ban Bí thư.

4. Tiến hành ứng cử, đề cử.

5. Họp tổ để thảo luận.

6. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định.

Lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với những người tự ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

7. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử Ban Bí thư.

8. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

Quy trình bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Quyết định 190 quy định quy trình bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 5 bước.

1. Đoàn Chủ tịch báo cáo về yêu cầu, tiêu chuẩn Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; nhân sự được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa trước dự kiến giới thiệu (nếu có) và ý kiến giới thiệu của Bộ Chính trị khóa mới.

2. Tiến hành ứng cử, đề cử.

3. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định.

Lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với các trường hợp tự ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

4. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử.

5. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

22/01/2026

Hôm nay, Đại hội XIV của Đảng tiến hành các bước công tác nhân sự, bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa mới

Ngày 22-1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục bước sang nội dung ngày làm việc thứ ba.

Sau một ngày thảo luận tập trung sôi nổi, dân chủ, thẳng thắn, chất lượng tại hội trường, theo chương trình kế hoạch, hôm nay, Đại hội sẽ tiến hành các bước thuộc nội dung công tác nhân sự. Trong đó, nội dung đặc biệt quan trọng trong ngày làm việc là các đại biểu sẽ bỏ phiếu kín bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Theo Quy định số 365-QĐ/TW ngày 30-8-2025 của Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng cần đáp ứng được các tiêu chuẩn như: Tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tính tiền phong, gương mẫu, tính xây dựng, tính chiến đấu, tính hành động, tính kỷ luật, tính nhân văn, năng lực, uy tín về mọi mặt.

Là những cán bộ được đào tạo cơ bản, có kiến thức toàn diện, được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, tâm huyết, trách nhiệm, tích cực tham gia thảo luận, đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Có thành tích nổi trội, có kết quả, "sản phẩm" cụ thể trong quá trình công tác; có khả năng quy tụ, đoàn kết, thống nhất và huy động sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công quản lý, phụ trách.

Cùng với đó, có năng lực dự báo, xử lý, ứng phó kịp thời, hiệu quả những tình huống đột xuất, bất ngờ; có khả năng làm việc độc lập. Có tố chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược; có hoài bão, khát vọng đổi mới vì nước, vì dân. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, lợi ích nhóm. Đồng thời, đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp dưới trực tiếp và tương đương. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định.

Đối với Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, theo Quy định 365-QĐ/TW, phải đáp ứng các tiêu chuẩn như: Là những cán bộ trẻ; cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quyết liệt, hiệu quả trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; hiểu biết tình hình trong nước, khu vực và thế giới; có khả năng tham gia, đóng góp ý kiến và đề xuất những vấn đề thực tiễn đặt ra để Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận, quyết định.

Qua thực tiễn công tác thể hiện có năng lực, tố chất lãnh đạo, quản trị, quản lý, hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ đã kinh qua, có triển vọng phát triển và có khả năng đáp ứng ngay khi có yêu cầu phân công, bố trí đảm nhiệm chức danh lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị có cơ cấu Ủy viên Trung ương Đảng. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định.

Về số lượng Ủy viên Trung ương Đảng, theo Điều lệ Đảng hiện nay, số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc quyết định.

22/01/2026

Đại hội Đảng XIV: Ngày làm việc chính thức thứ ba

Tại đại hội lần này, công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV là một trong những nội dung được người dân, cử tri cả nước đặc biệt quan tâm.

Hôm nay, 22/1/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV của Đảng) bước vào ngày làm việc chính thức thứ ba.

Tại đại hội lần này, công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV là một trong những nội dung được người dân, cử tri cả nước đặc biệt quan tâm.

Thực tiễn cho thấy trong tiến trình phát triển của dân tộc, con người luôn được xác định là trung tâm, là chủ thể và cũng là động lực quyết định sự thành công của mọi chiến lược. Trong đó, công tác nhân sự chính là yếu tố then chốt của then chốt. Bởi lẽ, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực kinh tế hay khoa học - công nghệ, mà trước hết và trên hết được quyết định bởi chất lượng đội ngũ nhân sự, những người hoạch định đường lối, tổ chức thực hiện và dẫn dắt sự phát triển.

Bước vào kỷ nguyên vươn mình mới, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra ngày càng cao, công tác nhân sự càng mang ý nghĩa chiến lược quan trọng. Vì vậy, xây dựng đội ngũ nhân sự đủ tâm, đủ tầm, đủ bản lĩnh và khát vọng cống hiến chính là nền tảng cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng và khẳng định vị thế Việt Nam trong thời đại mới.

Chia sẻ với báo chí bên lề phiên họp trù bị (ngày 19/1) tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại biểu Nguyễn Thị Hà - Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Ninh chia sẻ: “Chúng tôi rất kỳ vọng Đại hội lần này, đặc biệt là các nội dung liên quan đến các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050. Chúng tôi mong muốn tại Đại hội này sẽ bầu ra những người có đủ đức, đủ tài để lãnh đạo đất nước ta phát triển như một cường quốc năm châu, xứng đáng với niềm tin của Đảng bộ và nhân dân toàn quốc.”

Trước đó, thông tin về chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, tại Họp báo quốc tế về Đại hội XIV của Đảng, diễn ra vào chiều 14/1, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú cho biết Trung ương Đảng khóa XIII, Tiểu ban Nhân sự đã tiến hành theo đúng quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định pháp luật một cách đồng bộ, khoa học, bài bản, chặt chẽ, dân chủ, khách quan và minh bạch, phát huy dân chủ trí tuệ.

Theo Thường trực Ban Bí thư, công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đảm bảo sự hài hòa hợp lý giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa kế thừa và ổn định, giữa đổi mới và phát triển, giữa chuyên môn đào tạo với sở trường năng lực thực tiễn, cũng như giữa uy tín, kinh nghiệm công tác với chiều hướng phát triển.

Đặc biệt, quy trình này đề cao phẩm chất, lấy chất lượng, hiệu quả sản phẩm công tác thực tế và sự cống hiến của cán bộ để làm thước đo đánh giá./.

22/01/2026

Đại hội XIV của Đảng: Kiến tạo bước đột phá phát triển

Đại hội XIV của Đảng không chỉ là sự tiếp nối những thành công to lớn trong suốt 40 năm Đổi mới, mà còn là dấu mốc quan trọng khẳng định bước đột phá, đưa đất nước phát triển giàu mạnh.

Với sự chuẩn bị chu đáo, sự đồng thuận cao giữa ý Đảng và lòng dân, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đưa ra những quyết sách quan trọng mang tính thời đại, lãnh đạo đất nước tiến lên mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc.

Đây là lời khẳng định trong bài xã luận “Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, dấu mốc 40 năm Đổi mới” trên trang điện tử của báo Pasaxon, cơ quan ngôn luận của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, số ra ngày 21/1.

Bài viết khẳng định Đại hội XIV là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, không chỉ là ngày hội lớn của hơn 5,6 triệu đảng viên trên cả nước, mà còn là biểu tượng của sự tin tưởng và kỳ vọng của toàn dân tộc Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường đã qua, Đại hội diễn ra sau gần 40 năm Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới, với những thành công to lớn, toàn diện và có ý nghĩa quan trọng lịch sử, là nền tảng vững chắc để đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Công cuộc Đổi mới được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 là sự lựa chọn quan trọng có ý nghĩa lịch sử, phù hợp với thực tế của Việt Nam và xu hướng của thời đại. Từ một đất nước nghèo khó, bị chiến tranh tàn phá và từng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, với tỷ lệ lạm phát trong một số giai đoạn lên tới 774,7%, Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kinh ngạc.

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt mức ấn tượng khoảng 6,55%/năm trong suốt giai đoạn từ năm 1986-2023. Hiện Việt Nam tự hào nằm trong nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và thuộc top 20 thế giới về quy mô thương mại. Mức sống người dân được cải thiện rõ ràng, thu nhập bình quân đầu người trong năm 2025 tăng gần 25 lần so với giai đoạn đầu công cuộc Đổi mới.

Ngành nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mà còn đưa Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản. Trong khi ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, khẳng định sự dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa.

Cùng với sự phát triển về kinh tế, các lĩnh vực văn hóa-xã hội cũng đạt bước tiến dài, phản ánh sâu sắc giá trị nhân văn. Chỉ số Phát triển con người (HDI) và chỉ số hạnh phúc của Việt Nam liên tục được cải thiện; tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã tăng từ 62 tuổi trong năm 1990 lên gần 75 tuổi trong năm 2025. Việt Nam đã trở thành hình mẫu nổi bật của Liên hợp quốc khi đạt được nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) trước thời hạn, từ việc mở rộng giáo dục toàn dân, giảm nghèo đến kiểm soát dịch bệnh.

Cùng với đó, năng lực về quốc phòng-an ninh được duy trì ổn định, nền tảng đoàn kết thống nhất trong nhân dân được phát huy, tạo môi trường hòa bình và ổn định để phát triển. Trên trường quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được củng cố, Việt Nam có quan hệ ngoại giao rộng khắp với 194 nước và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều cường quốc trên thế giới.

Bài xã luận khẳng định những thành công nổi bật của Việt Nam đã trở thành yếu tố quan trọng tạo dựng lòng tin và sức mạnh tinh thần lan tỏa đến mọi tầng lớp nhân dân. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XIV, dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, quá trình chuẩn bị được tiến hành nghiêm túc và có hệ thống. Điểm nổi bật là sự đóng góp trí tuệ của người dân cả nước cho các dự thảo văn kiện.

Với gần 14 triệu lượt ý kiến đóng góp của nhân dân, các văn kiện trình Đại hội không chỉ tổng kết, rà soát một cách sâu sắc chặng đường 40 năm đổi mới, mà còn đề ra tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 và xa hơn nữa.

Công tác nhân sự cũng được thực hiện công khai, minh bạch, lấy chất lượng và hiệu quả cống hiến trong thực tiễn làm thước đo, để lựa chọn Ban Chấp hành Trung ương khóa mới có kiến thức, năng lực lãnh đạo đất nước vững bước tiến lên.

Bài viết kết luận, với 1.586 đại biểu ưu tú cùng hàng trăm phóng viên trong và ngoài nước tham dự và đưa tin về Đại hội XIV, người dân cả nước Việt Nam cũng chung sức đồng lòng hướng về thủ đô. Các hoạt động văn hóa, sự kiện và hình ảnh bộ tem chào mừng Đại hội XIV càng làm tăng thêm niềm tự hào về con đường vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là sự tiếp nối những thành công to lớn trong suốt 40 năm Đổi mới, mà còn là dấu mốc quan trọng khẳng định bước đột phá, lãnh đạo đất nước phát triển giàu mạnh và thịnh vượng./.

22/01/2026

Điểm mới về chủ đề, kết cấu của dự thảo Văn kiện

1. Về chủ đề Đại hội

Chủ đề của Đại hội lần thứ XIV của Đảng là: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Việc xác định chủ đề Đại hội nêu trên thể hiện sự thống nhất tư tưởng và hành động, củng cố niềm tin, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng và sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục khơi dậy khát vọng xây dựng và phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới. Việc xác định chủ đề Đại hội dựa trên một số căn cứ, yêu cầu chủ yếu như sau:

(1) Chủ đề Đại hội phải thể hiện được vị trí, vai trò Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển đất nước. Đại hội diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chủ trương, đường lối, nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; gắn với tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đánh giá tổng quát tiến trình đổi mới, quyết định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo; đất nước đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức rất lớn và nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết; cán bộ, đảng viên và Nhân dân đặt kỳ vọng vào Đại hội XIV với những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ của Đảng để đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.

(2) Chủ đề Đại hội phải là thông điệp thể hiện sự hiệu triệu, cổ vũ, động viên, định hướng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, sâu rộng công cuộc đổi mới, tận dụng mọi thời cơ, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hướng tới hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

(3) Chủ đề Đại hội phải ngắn gọn, thể hiện được mục tiêu tổng quát, những nội dung tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt, rõ các thành tố quan trọng nhất, bao gồm: Sự lãnh đạo của Đảng; vai trò của Nhân dân và sức mạnh toàn dân tộc; về công cuộc tiếp tục đổi mới và mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; kế thừa, phát triển chủ đề trong các kỳ Đại hội trước đó, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng.

2. Về kết cấu Báo cáo chính trị

So với các kỳ Đại hội gần đây, điểm mới của Báo cáo chính trị lần này là sự tích hợp nội dung 3 văn kiện, gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng. Việc tích hợp này thể hiện tinh thần tiếp tục đổi mới về cách xây dựng văn kiện, xuất phát từ thực tiễn mới của đất nước, sự phát triển nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện của Đảng, bảo đảm sự nhất quán về nội dung; ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Về kết cấu và cách trình bày của Báo cáo chính trị có sự kế thừa và phát triển, cụ thể:

- Báo cáo chính trị Đại hội XIV tiếp thu kết cấu và cách trình bày nội dung văn kiện theo vấn đề như các đại hội gần đây với 15 vấn đề. Kết cấu và tên của các vấn đề được sắp xếp, điều chỉnh, bổ sung phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển, phản ánh đúng thực tiễn và định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước của nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng và tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện rõ các thông điệp mang tính cách mạng, hành động, tính khả thi cao; toàn diện nhưng rõ trọng tâm, trọng điểm.

- Điểm mới về nội dung tổng thể, xuyên suốt trong Báo cáo là nhấn mạnh các quan điểm, mục tiêu, định hướng, phương thức phát triển, các nguồn lực, động lực phát triển mới, bao gồm: (1) Xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính; xác định đây là nội dung trung tâm của mô hình phát triển đất nước; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khai thác hiệu quả lợi thế của hội nhập quốc tế sâu rộng. (2) Khẳng định vai trò then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường kiểm soát quyền lực; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; nâng cao năng lực quản trị phát triển quốc gia và điều hành hoạt động của tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, tạo nền tảng giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cũng như bảo đảm đồng thuận, đồng bộ, thống nhất trong hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển đất nước.

- Điểm mới nổi bật nhất là về cách thức thiết kế Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV ở chỗ lần đầu tiên xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV là bộ phận cấu thành của Dự thảo Báo cáo. Chương trình hành động chỉ rõ các chương trình, đề án, dự án cụ thể thực hiện trong nhiệm kỳ 5 năm, phân công trách nhiệm cụ thể của các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến địa phương, chỉ rõ tiến độ, nguồn lực và điều kiện cần thiết để thực hiện, làm căn cứ để các cấp, các ngành thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Chủ trương này nhằm khắc phục tình trạng sau Đại hội toàn quốc phải chờ đợi cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội (thường là khoảng nửa đầu của nhiệm kỳ); đề cao tính hành động, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng ngay trước thềm Đại hội; chủ động rà soát, sửa đổi, tháo gỡ ngay các điểm nghẽn, khắc phục những hạn chế, bất cập, mâu thuẫn; bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược để tổ chức thực hiện ngay sau Đại hội.

22/01/2026

“Dân là gốc” trong Báo cáo trình Đại hội XIV: Điểm tựa bền vững nhất, “hạ tầng mềm” quan trọng nhất

Trong Báo cáo trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh "Dân là gốc" không chỉ như một tư tưởng xuyên suốt, mà còn đặt trực tiếp trong nhóm các bài học lớn có ý nghĩa phương pháp luận đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo, cầm quyền. Việc đưa "Dân là gốc" vào phần bài học- chứ không chỉ ở phần định hướng hay kết luận- cho thấy đây không phải là một khẩu hiệu giá trị, mà là một nguyên tắc chỉ đạo hành động.

Bài học ấy được diễn đạt với nội hàm rất cụ thể: quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc"; phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân; củng cố và phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hành đầy đủ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Đặc biệt, Báo cáo nhấn mạnh việc lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.

Cách đặt vấn đề này cho thấy "Dân là gốc" đã được nâng lên thành một bài học về phương pháp lãnh đạo, chi phối cách tổ chức quyền lực, cách vận hành bộ máy và cách tự đánh giá năng lực lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Từ đạo lý lịch sử đến phương pháp lãnh đạo hiện đại
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, "Dân là gốc" trước hết là một chân lý đạo lý, một nguyên tắc nền tảng giúp Đảng quy tụ, tổ chức và phát huy sức mạnh Nhân dân trong đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, điều cốt yếu không chỉ là khẳng định tư tưởng đúng, mà là chuyển hóa tư tưởng ấy thành phương pháp lãnh đạo hiệu quả.

Báo cáo của Tổng Bí thư cho thấy một bước chuyển rất rõ: "Dân là gốc" không còn dừng ở tinh thần "vì dân", mà được cụ thể hóa thành cách thức tổ chức mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chuỗi thực hành "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" phản ánh một tư duy quản trị hiện đại, trong đó Nhân dân tham gia thực chất vào toàn bộ vòng đời của chính sách công, từ hình thành đến thực thi và đánh giá.

Chính ở đây, "Dân là gốc" được nâng cấp từ một giá trị đạo lý thành một thiết kế vận hành của hệ thống chính trị, gắn trực tiếp với hiệu quả thực tế và chất lượng quản trị quốc gia.

"Dân là gốc" như nền tảng của kiểm soát quyền lực và xây dựng Đảng
Một nội dung có ý nghĩa tư tưởng rất sâu sắc trong Báo cáo là mệnh đề: dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Mệnh đề này hàm chứa một nhận thức rất sâu sắc: Quyền lực không thể tự kiểm soát hoàn toàn từ bên trong, mà cần được đặt trong mối quan hệ thường trực với Nhân dân.

Ở đây, "Dân là gốc" trở thành nền tảng tư tưởng của kiểm soát quyền lực từ xã hội. Sự giám sát của Nhân dân không chỉ giúp phát hiện sai lệch, mà còn tạo ra động lực để Đảng tự chỉnh đốn, tự đổi mới và giữ vững mối liên hệ máu thịt với dân. Đây là một bước phát triển quan trọng trong tư duy xây dựng Đảng cầm quyền: từ nhấn mạnh kỷ luật nội bộ sang kết hợp chặt chẽ giữa kỷ luật nội bộ và giám sát xã hội.

Lấy sự hài lòng của Nhân dân làm chuẩn mực đánh giá quyền lực
Một điểm mới có giá trị lý luận và thực tiễn nổi bật là yêu cầu lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ. Đây là sự nâng cấp rất rõ của tư tưởng "Dân là gốc".

Khi tiêu chí đánh giá cán bộ được gắn với sự hài lòng của Nhân dân, quyền lực được tái định nghĩa theo hướng quyền lực phục vụ. Chức vụ, thẩm quyền hay quy trình không còn là thước đo chủ yếu; thay vào đó, kết quả tạo ra cho xã hội và cho người dân trở thành chuẩn mực quyết định. Điều này đánh dấu sự chuyển dịch từ tư duy "đúng quy trình" sang tư duy "đúng với cuộc sống", cần cho cuộc sống, từ chú trọng ban hành chính sách sang chú trọng tác động thực chất của chính sách.

Ở tầm hệ tư tưởng, đây là bước tiến quan trọng trong việc xác lập chuẩn mực chính danh mới của quyền lực chính trị trong điều kiện phát triển hiện nay.

"Dân là gốc" trong tầm nhìn chiến lược: Nền tảng của thế trận lòng dân và phát triển bền vững

Trên nền tảng bài học và phương pháp lãnh đạo được đổi mới , Báo cáo tiếp tục khẳng định ở tầm nhìn chiến lược: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Tư tưởng này hoàn chỉnh bức tranh được nâng cấp "Dân là gốc" từ phương pháp lãnh đạo đến triết lý phát triển.

Đồng thời, Báo cáo đặt "Dân là gốc" trong mối liên hệ trực tiếp với thế trận lòng dân. Lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng; lòng dân vững thì những khó khăn, thách thức lớn cũng có thể vượt qua. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh và cạnh tranh chiến lược gay gắt, "thế trận lòng dân" chính là hạ tầng mềm quan trọng nhất của quốc gia, là điểm tựa để triển khai thành công mọi chiến lược lớn.

Nền tảng tư tưởng cho kỷ nguyên mới
Nhìn tổng thể, có thể thấy Báo cáo của Tổng Bí thư đã thực hiện một bước nâng cấp toàn diện tư tưởng "Dân là gốc": Từ chân lý đạo lý của lịch sử, thành phương pháp lãnh đạo chỉ đạo hiện đại; từ nguyên tắc chính trị chung, thành cơ chế kiểm soát quyền lực; từ mục tiêu phát triển, thành chuẩn mực đánh giá hiệu quả lãnh đạo.

Khi "Dân là gốc" trở thành hệ tư tưởng hành động, chi phối cách Đảng nhìn nhận phát triển, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo và tự đánh giá mình, đó cũng là lúc Đảng bước vào kỷ nguyên mới với niềm tin chiến lược lớn hơn, nhưng đồng thời với trách nhiệm trước Nhân dân cao hơn bao giờ hết. Nói giản dị, như chính phát biểu của Tổng Bí thư: "Mỗi cán bộ, đảng viên phải biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói". Chính điều ấy tạo nên điểm tựa bền vững nhất cho con đường phát triển lâu dài, bền vững của đất nước.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng

22/01/2026

Công bố các Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV

Ngày 22/1, Văn phòng Quốc hội có công văn gửi các cơ quan báo, đài về việc đăng tải các Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV. Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu toàn văn các nghị quyết:

1. Nghị quyết số 255/2025/QH15 của Quốc hội khóa XV về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Vinh-Thanh Thủy.

2. Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội khóa XV về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

3. Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

4. Nghị quyết số 116/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định về tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

5. Nghị quyết số 117/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chế độ cấp phát và sử dụng trang phục, phù hiệu, cấp hiệu của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra và Giấy chứng minh Kiểm sát viên.

6. Nghị quyết số 118/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định về số lượng, cơ cấu tỷ lệ các ngạch Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự.

Photos from Hương Sen Việt's post 22/01/2026
17/01/2026
Want your school to be the top-listed School/college in Quận 10?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


Đường Thành Thái
Quận 10