HỌC VÕ - HỌC ĐẠO LÀM NGƯỜI
1. Quyền cước chỉ là cái tay
Nhân nghĩa mới là cái tâm
Mất tâm rồi, võ chỉ còn là đánh lộn
2. Võ mà không đức
Thầy không nhận
Mạnh mà không hiền
Sớm muộn cũng tự hại mình
3. Thắng người ngoài sàn dể lắm
Thắng cái nóng trong lòng mới khó
4. Chưa biết cuối đầu
Chưa xứng học võ
Vô lễ trái lời thầy
Học bao nhiêu cũng thành hư
5. Con học võ để che chở kẻ yếu
Không phải để hiếp đáp người hiền
Nhớ cho kỹ
6. Đòn thế luyện dăm ba bữa cũng nhớ
Nhưng làm người tử tế phải rèn cả một đời
7. Đánh thắng thiên hạ chưa chắc là anh hùng
Thắng được cái kiêu trong lòng mới đáng mặt anh tài
8. Trong võ đường rèn thân phải cứng rắn
Bước ra đời giữ đạo phải nhu hòa
9. Học võ đâu phải để đi hơn thua với đời
Mà để cho đi ngay thẳng giữa đời
10. Tâm loạn thì quyền loạn
Tâm vững thì không cần nhiều đòn vẫn thắng
Nguồn : Võ Cổ Truyền
Y Võ Khí Công
Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Y Võ Khí Công, Martial Arts School, Tổ 2 Ấp Bến Tràm, Xã Cửa Dương, Tp Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang, Phu Quoc.
Vén mây - Vuốt tóc
Bế tinh - Dưỡng khí - Tồn thần
Thanh tâm - Quả dục - Thủ Chân - Luyện hình
16/12/2024
Nhật ký trong tù - Chủ tịch Hồ Chí Minh
20/10/2024
VĂN TƯ TU thì GIỚI ĐỊNH TUỆ
THAM SÂN SI thì BUỒN SẦU KHỔ
02/10/2024
LIÊN MINH HUYNH ĐỆ
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất phát từ sự tôn trọng, tin tưởng vào sức mạnh to lớn của bản thân con người, Người cho rằng sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc phải dựa vào chính tiềm nǎng, sức mạnh to lớn của con người, của dân tộc.
Đoàn kết tôn giáo là đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; và đoàn kết giữa các đồng bào trong nội bộ mỗi tôn giáo vào khối đại đoàn kết dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.
Mục tiêu của đoàn kết tôn giáo là hướng tới đại đoàn kết dân tộc. Tư tưởng này của người đã được Đảng, Nhà nước Việt Nam vận dụng không khéo, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được cụ thể bằng hành động thực tiễn và trong các văn bản của Đảng, Nhà nước.
Nguồn : Tạp chí Tuyên Giáo - Ban Tuyên Giáo Trung Ương
25/09/2024
Tuệ Tĩnh Thiền sư (1330 – 1400) là một lang y sống ở giai đoạn cuối thời Trần. Ông được hậu thế suy tôn là tiên thánh của ngành thuốc Nam với câu nói nỗi tiếng " Nam dược trị Nam nhân". Tại Hải Dương còn có các đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ ( Đền Bia, Đền Xưa), ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương.
Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.
Năm 55 tuổi (1385), với trí tuệ uyên bác trong ngành y thuật của mình, Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư. Ông qua đời tại Giang Nam, Trung Quốc.
Tuệ Tĩnh xót thương cho số phận của mình và luôn đau đáu nỗi niềm một ngày được quay lại quê hương, thoát khỏi cảnh đất khách quê người thể hiện qua việc ông đã khóc trong lễ nhậm chức của mình tại triều đình nhà Minh và cho tới ngày nay, trên bia mộ của ông vẫn còn dòng chữ “Ai về nước Nam cho tôi về với”.
Năm 1690 tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Hoa, tình cờ thấy mộ Tuệ Tĩnh, nhận ra là người cùng làng. Cảm động với lời nhắn gửi thiết tha của vị danh y, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã sao chép bia mộ và tạc khắc bia đá mang về quê Hải Dương bây giờ.
Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:
Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình
1. Bế Tinh
Tinh: tức chất tinh túy được cơ thể chắt lọc từ thức ăn, từ các chất bổ dưỡng nhất. Tinh đầy đủ thì sức khỏe khang kiện, tính tình vui vẻ, hăng hái, yêu đời. Tinh thiếu thốn thì thường bệnh hoạn, ốm đau, bi quan, buồn chán. Tinh bị mất nhiều nhất trong quan hệ vơ chồng, nam nữ. Nam giới thường bị mất mát nhiều hơn nữ giới, nhưng không có nghĩa là nữ giới không bị tổn hại nếu lạm dùng tình dục.
Ở đây, chúng ta chỉ muốn đề cập đại đa số phàm nhân sống bình thường nhưng biết cách giữ gìn chất tinh túy trong cơ thể. Chữ bế tinh mà danh y Tuệ Tĩnh muốn nói đến có ý khuyên chúng ta nên hạn chế tình dục, không nên hoang phí quá độ. Biết khi nào tiêu dùng và khi nào nên lưu trữ. Tiêu dùng với ai, tiêu dùng thế nào là điều luôn luôn phải được nghĩ đến.
2. Dưỡng Khí
Tinh và khí liên quan mật thiết. Có tinh thì dưỡng khí mới có kết quả. Người xưa thường nói “Tinh hóa khí”. Dưỡng khí là đem năng lượng khí trời trong sạch vào hạ đan điền để biến thành tinh khí, thành năng lực luân lưu khắp châu thân để bảo toàn sự sống.Vì thế muốn dưỡng khí hữu hiệu thì phải bế tinh, tức phải biết tiết dục. Tiết dục chứ không phải diệt dục. Tiết dục dễ hơn diệt dục nhiều. Khi tinh và khí đầy đủ, sung mãn thì bệnh tật rất khó xâm nhập, mà bệnh tật không xâm nhập được thì có phải là ta đã có được một cơ thể quý báu không?
3. Tồn thần
Tinh khí đầy đủ chẳng những giúp cho cơ thể khỏe mạnh mà còn giúp cho tinh thần sáng suốt, tinh nhanh. Thần là sắc khí của một con người thường hiện ra trên sắc mặt, trong cặp mắt. Khí và tinh hợp lại biến thành thần khí hay thần sắc. Nhìn sắc diện một người, chúng ta có thể nhận ra được ngay họ có thần sắc hay không. Thần sắc đầy đủ thể hiện một sự lạc quan yêu đời, một cuộc sống sung mãn, thánh thiện. Con người có thể chất và tinh thần, cả hai liên quan chặt chẽ với nhau. Không thể có một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể bệnh hoạn được.
Tinh – Khí – Thần liên quan chặt chẽ với nhau, vì thế phải giữ tinh để hóa khí và từ tinh khí sẽ biến thành thần sắc. Nhưng chữ “tồn thần” cũng phải được hiểu là “giữ thần“, tồn thần là còn, là giữ gìn cho còn. Thần sắc được tinh khí tạo ra, nhưng phải được bảo tồn, nếu hoang phí thần thì cũng giống như hoang phí tinh và khí. Tồn thần hay dưỡng thần cũng giống như ta sử dụng điện năng. Được cung cấp nhiều thì khả năng tồn giữ không mất, lại dồi dào thêm. Ngược lại, tiêu dùng nhiều, tiêu phí nhiều thì khả năng tồn giữ bị tiêu hao.Thần bị tán, bị mất khi ta suy nghĩ, làm việc nhiều bằng trí não, nói chuyện nhiều hoặc chăm chú xem hay nghe, kể cả xem truyền hình và nghe đài phát thanh, làm việc nhiều bằng máy tính. Thần cũng bị tán khi ta có quá nhiều cảm xúc dễ giận hờn, thù oán, nhiều tham vọng hay tự cao, tự đại. Thần được lưu giữ nhờ sự bình an trong tâm hồn, nhờ giấc ngủ yên lành không mộng mị. Tóm lại, ta phải tập cho mình một phong thái sống, nếp sống, một thời khóa biểu cho sự làm việc và nghỉ ngơi. Chúng ta cần thuộc lòng câu nói sau đây: Tinh túc thì ít bệnh. Khí túc thì ít ăn. Thần túc thì ít ngủ.
Chúng ta vừa tìm hiểu ba ý niệm: Bế Tinh, Dưỡng Khí, Tồn Thần. Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu bốn ý niệm của câu thứ hai: “Thanh Tâm, Quả Dục, Thủ Chân, Luyện Hình”.
4. Thanh tâm
Tâm nghĩa hẹp là lòng, là tấm lòng, rộng hơn là phần tinh thần cũng gọi là tâm hồn, tức là phần điều khiển tất cả mọi sinh hoạt của thể xác. Mà phần tinh thần của con người thì bao gồm rất nhiều thứ, từ tình cảm, lý trí, khả năng suy tưởng, khả năng sáng tác và các khả năng đặc biệt khác. Chính nhờ phần “tâm” này mà loài người mới có tiến bộ và có cuộc sống khác hơn loài vật, mới được gọi là “linh ư vạn vật“.Còn chữ “thanh” được hiểu là sự trong sạch, thanh khiết không bị vướng bất cứ một thứ cặn bã nào. Sự hướng thượng, lòng khoan dung, sự tha thứ, sẵn sàng làm điều tốt, điều thiện mưu cầu lợi ích cho người khác thuộc thanh. Người luôn luôn thanh tâm là người luôn có cuộc sống an lành nhờ tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những tình cảm, tư tưởng thanh cao, tốt đẹp. Vì thế, họ luôn luôn được an vui, hạnh phúc. Chính nguồn vui, hạnh phúc này giúp họ có đời sống rất khỏe mạnh và an lạc.
5. Quả dục
Dục là ham muốn, đòi hỏi, thèm khát. Quả dục là giảm thiểu sự ham muốn, sự đòi hỏi, sự thèm khát. Tham vọng càng nhiều, thất vọng càng lớn. Chính vì lòng ham muốn này đã dẫn dắt không biết bao nhiêu người đi vào vực sâu, mất an vui, hạnh phúc và gần nhất là sức khỏe bị suy mòn, tinh thần bị lụn bại. Vì thế, nếu muốn khỏe mạnh và sống lâu thì phải biết chế ngự lòng ham muốn, tính tham lam, thèm khát.Lòng ham muốn vô bờ bến giống như những cơn sóng to làm chìm đắm tất cả mọi sự bình an. Phải biết sống an vui với những gì mình đang có, biết “tri túc” thì cuộc sống sẽ tốt đẹp và có ý nghĩa. Người xưa thường khuyên ta: “Tri túc thường lạc” hoặc “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc“. Nghĩa là biết đủ thì sẽ luôn được an vui, hoặc biết đủ, an hưởng cái đủ, còn chờ đủ thì không bao giờ đủ cả…
6. Thủ chân
Thủ là giữ. Chân là chân lý. Thủ chân tức là luôn luôn theo đuổi một điều gì mình cho là chân lý, là lý tưởng. Đời người phải hướng về một mục đích nào đó để phục vụ, để thờ phượng thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Thật là tội nghiệp cho bất cứ ai cứ tưởng phương tiện là mục đích. Nếu biến phương tiện thành mục đích thì con người sẽ trở thành nô lệ cho những đối tượng tầm thường. Rất nhiều người coi tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, danh vọng, sắc đẹp là mục đích trong khi chúng chỉ là phương tiện, nên cả đời họ chỉ lo chạy theo những thứ vật chất mau đổi thay, mau tan rã, không tồn tại lâu dài này. Tự biến mình thành nô lệ mà mình không bao giờ tỉnh thức.Người biết sống, người sáng suốt lúc nào cũng phân biệt rõ được phương tiện và mục đích. Họ luôn luôn làm chủ đời sống chứ không bao giờ trở thành nô lệ. Mục đích của họ có thể có nhiều nhưng mục đích cùng tột cao cả nhất là sự giải thoát khỏi những ưu phiền của thể sự, những hạn hẹp của kiếp người. Người “thủ chân” thường là người biết sống, có một ước mơ cao cả đề tìm cầu, để thực hiện trong suốt cuộc đời của mình. Họ sống thanh thoát và ra đi an lành. Họ sống giản dị và biết vượt qua những ưu phiền.
7. Luyện hình
Luyện hình được hiểu là rèn luyện cơ thể. Nói một cách thật dễ hiểu là tập luyện cho thân hình luôn luôn khỏe mạnh, cường tráng. Tục ngữ Pháp có câu: “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể cường tráng” (Une âme saine dans un corps sain). Tập luyện cho cơ thể khỏe mạnh có rất nhiều cách. Từ tập thể dục thông thường đến đi bộ, bơi lội, đi xe đạp v.v… đều là những cách đơn giản và thông dụng. Nhưng luyện hình mà danh y Tuệ Tĩnh muốn nói, không đơn giản chỉ là những động tác thể dục bình thường mà là những cách tập luyện toàn diện giúp cho nội lực luôn sung túc và đả thông được các huyệt đạo trong lục phủ, ngũ tạng. Cách luyện hình của người xưa tại Á Đông được truyền bá là các môn phái Khí Công.
Nguồn : cainghientinhduc.net
27/07/2024
🙏🍁AN TRÚ TINH KHÍ THẦN
TINH LÀ TINH CHẤT, TINH HOA, TINH NGUYÊN CỦA CƠ THỂ. HAY TA NÓI TRẮNG RA LÀ TINH TRÙNG, TINH HUYẾT. CHẤT LIỆU TẠO NÊN SỰ SỐNG, TẠO NÊN KHOÁI CẢM. TINH CHẤT CỦA XƯƠNG LÀ TỦY, TINH CHẤT CỦA TIM LÀ MÁU,... NGƯỜI CAO LỚN VÌ TINH TỦY ƯU VIỆT PHÁT TRIỂN, NGƯỜI KHỎE MẠNH VÌ TINH HUYẾT SUNG MÃN. CÁI GÌ QUYẾT ĐỊNH NÊN TINH?
KHÍ LÀ ÁP SUẤT, LUỒNG KHÍ, KHÍ LỰC VÔ HÌNH RA VÀO, CHẠY KHẮP CƠ THỂ. NHƯ KHÍ CỦA PHỔI LÀ OXY, NHƯ KHÍ CỦA TIM là huyết áp, như khí của hệ thần kinh là sự vận hành của các noron thần kinh. Nền tảng của khí là Tinh. Tinh là sự hội tựu của nhựa sống cơ thể, hội tựu nhiều dưỡng chất mà thành tinh.
Thần là thần thái, thần sắc, thần lực... Thần là cái tự nhiên toát ra phản ánh Tinh và Khí trong một con người. Người khí lực kém thì diện mạo ủ rũ mệt mỏi. Người hành dâm nhiều hao tổn tinh khí thì thường trầm cảm, sầu khổ vô cớ, thần sắc u sầu. Người thành công thì thần thái tuơi sáng, an vui. Người thánh thiện thì thần thái đĩnh đạc, cuống hút bởi uy lực. Thần không giấu được. Và Thần thay đổi liên tục.
Nếu không an trú tinh hay gọi là bế tinh tiết dục mà phóng thích bừa bãi thì cái gốc sự sống sẽ sớm sụp đỗ. Người hay hành dâm vô độ sẽ đoản mệnh hoặc dần mắc các bệnh độc vì tinh chất cơ thể khô kiệt.
Tinh cạn => Thận suy => Xương khớp rục rã đau mỏi => Cơ thể uể oải, rụng tọc, dễ cảm mạo....
Tinh đầy => Thận khang kiện => Sức lực căn tràn, xương khớp linh hoạt => Cơ thể khỏe mạnh, ngũ quan quang minh ( Diện mạo tươi sáng )
Cơ thể tự nhiên thì đã có cơ chế phóng thích tinh dịch, đó là bản năng rất tự nhiên của mọi loài. Nếu không hành dâm thì thế nào cũng mộng tinh để đào thải tinh dịch thừa. Nó tự nhiên và cũng gây ra nghiện. Chính vì biết kiềm chế, còn luân thường đạo lý nên con người văn minh ráng giữ nó ở mức vừa phải. Vì hễ buông lung là nó sẽ xuất ra vô tội vạ. Còn những Bậc Thánh Triết thì ráng tinh tấn tu tập để vượt thắng nó luôn. Vì coi vậy, ái dục mang đến niềm vui chống tàn, loạn động không tương ứng với niềm vui ý vị của nội tâm thanh tịnh, thông tuệ của Bậc Thánh Nhân. Nên khi đạt đến một level tâm linh nhất định, hành giả sẽ khước từ ái dục ở mọi hình thức.
Mỗi lần tái sinh trở lại một kiếp, cơ thể một người sẽ phát triển theo kịch bản là gen đã quy định. Người đó sẽ cao cỡ này, sẽ đẹp cỡ này, tinh chất sẽ ở mức này, ưu việt bộ phận này... Và cái gen đó được quy định bởi nghiệp báo của người đó từ kiếp xưa mang theo ( nhìn gần thì gen của con được phối hợp từ gen của cha và mẹ nhưng nhìn xa hơn thì gen của người đó cũng chính là nghiệp của người đó từ kiếp xưa mang theo trở lại ). Người nào kiếp trước hay hà hiếp, đánh đập kẻ khác thì kiếp này thể chất suy yếu, dễ bệnh tật. Người nào kiếp xưa hay tử tế, nghĩa hiệp, khiêm tốn, gánh vác xung phong thì kiếp này cao ráo, lực lưỡng...
An Trú Tinh tức là hạn chế việc xuất tinh bừa bãi, động dâm tâm bừa bãi mà làm tổn hại đến tinh thần, thể chất và đạo đức. Người nào hay xuất tinh nhiều thì chắc chắn tinh thần dễ kích động, khó kiềm chế các tính xấu khác, kém thông minh, thể chất mệt mỏi, bạc nhược và đạo đức suy giảm. Muốn An Trú được Tinh thì phải huân tập tâm từ bi, tâm hiền lành và tâm khiêm tốn cho thật sâu dày. Đồng thời, tránh xa các nguồn gây ô nhiễm tâm hồn, có lịch trình hiệu quả cho cuộc sống như rèn luyện thể dục thể thao, làm các việc từ thiện, tu tập tâm linh, có lối sống lành mạnh. Người nhàn rỗi, người mất định hướng trong cuộc sống, người kiêu mạn cũng dễ trở thành người động dục.
An Trú Khí tức là lắng lực xuống phía dưới cơ thể, làm cho khí lực sung mãn, vì khí lực sung mãn nên tâm thanh tịnh, thông tuệ và sức khỏe căng tràn. Khi ta nóng giận, khí lực dồn lên não làm ta trở nên ngu si và có các hành động tiêu cực khi thỏa cơn giận rồi khí lực tan đi thì não phải hứng chịu những cảm xúc đau khổ, hối hận, bất an. Người nào gặp việc đáng giận, đáng tức mà vẫn không giận không tức vẫn lắng được khí lực xuống là người rất bản lĩnh. Khí lực càng dồn lên não, não càng căng thì sức khỏe càng giảm, trí thông minh biến mất. Khí lực càng chìm sâu bên dưới thì não càng tỉnh sáng, sức khỏe được cải thiện. Muốn lắng được khí cần vài yếu tố:
+ Quan điểm đạo đức cho tốt, biết cách buông bỏ kiềm chế.
+ Tập luyện võ thuật và khí công đúng phương pháp để lắng khí xuống huyệt đan điền.
+ Tập luyện thể thao cho phần chân và mông to và săn chắc ( Gốc dày thì ngọn khỏe - Chân mông vững thì sức khỏe vững ).
+ Tránh dùng các thiết bị điện tử quá thời gian làm căng não, tránh dùng chất kích thích làm căng não.
+ Suy nghĩ, tư duy, bận tâm vì những việc thiện.
+ Tĩnh tâm thiền định.
An Trú Thần tức là giấu bớt đi cái thần thái của mình, tránh dùng cái thần thái của mình áp tải người khác. Người nào mà cứ cố tỏ ra cho người khác phải sợ, phải kiêng nể mình thì người này tổn Thần cũng là tổn phước đức và khi ta ở gần người này ta cảm thấy không yên tâm, bị ngộp và khó chịu. Còn người nào dù cao sang, đĩnh đạc, có uy lực nhưng vẫn hiền lành, khiêm tốn, tôn trọng mọi người thì là người biết An Trú Thần, sẽ có được thần thái lâu dài, thần thái vững vàng, ít khi rơi vào cảnh bị coi thường, bị khinh miệt. Người mẫu đi catwalk có thần thái tốt và duy trì được phong độ thời trang cũng là một cái phước. Vị Tướng quân đội có đôi mắt uy lực để dân quân vâng lời, mà đi tìm chính nghĩa cũng là một cái phước lớn. Khi cần hiện Thần thì hiện Thần, khi cần giấu Thần thì An Trú Thần.
Người giỏi An Trú Thần cũng là người giỏi giấu bớt thân phận mình để tránh cho người khác phải tốn sức quá nhiều khi tiếp xúc, đối đãi với mình. Như có những vị đại gia rất bình dân, giản dị, giỏi giấu thân phận, không hiện tướng đại gia khi chưa cần thiết nên đi đâu, làm gì ai cũng dễ chịu và cảm thấy gần gũi. Còn ai làm tổn Thần nhiều quá thì đến khi cần thì Thần đã hết, cũng là lúc phước hết và sẽ thất bại. Như người diễn viên nhập vai làm vua chúa, sau vở diễn vẫn ảo tưởng rằng mình là vua chúa, coi thường mọi người thì sau này sẽ mất vai, mất tài và thất bại vì hết Thần rồi. Tinh tế lắm mới giữ gìn được cái Thần và dùng cho đúng.
Người giàu sang, người có đạo đức, người có phước lớn thì nhìn vào khuôn mặt rất sáng như có hào quang, có chính khí vì thần tỏa ra rực rỡ. Người nghèo khổ, người sắp chết, người kém phước, người tâm xấu ác thì nhìn vào khuôn mặt, đôi mắt tối sầm vì thiếu thần, thiếu hào quang, thiếu chính khí.
Cốt lõi của mọi thành bại, của mọi vấn đề vẫn là đạo đức, quan điểm sống, thái độ sống.
Nguồn: KIỂM SOÁT ÁI DỤC
06/05/2024
SỐNG THUẬN THIÊN
SỐNG TÙY KỲ TỰ NHIÊN
Hôm nay chúng ta sẽ nói về vận động nhiều và vận động ít
# Đầu tiên là về vận động nhiều :
- Nhìn nhiều tổn thương huyết
- Nằm nhiều tổn thương khí
- Ngồi nhiều tổn thương thịt
- Đứng nhiều tổn thương xương
- Đi nhiều tổn thương gân
Thất tình lục dục tổn thương nguyên khí
Dân công sở văn phòng thì thường nhìn nhiều vào màn hình máy tính và ngồi nhiều trên ghế suốt 8 tiếng đi làm
Làm phục vụ nhà hàng hay làm nhân viên pha chế, bếp chảo thì thường đứng nhiều suốt 8 tiếng
Những người bán vé số là đi nhiều mà tổn thương gân
Ta nên có các khoảng nghỉ ngơi hoặc vận động thích hợp trong quá trình làm việc để có sức khỏe tốt
# Tiếp theo là vận động ít
Một vị trung y có câu :
Linh cơ nhất động
Kế thượng tâm lai
Dịch nghĩa là :
Nhạy bén hệ động
Nảy ra sáng kiến
Câu này nên là áp dụng cho các em học sinh, sinh viên
Vì đối tượng học sinh, sinh viên thương phải vận dụng đầu óc học hành rất nhiều, khí bốc lên đầu lâu dần gây căng thẳng dẫn đến lừ đừ rồi dẫn đến bệnh trầm cảm.
Giải pháp là ta nên tập khí công, tập ngồi thiền, giữ tâm ý ở phần bụng dưới để đưa khí lực chạy xuống dưới, cân bằng lại với khí lực bốc lên lúc vận dụng đầu óc học bài.
Tập khí công và thiền định là hàm dưỡng lại khí lực
Nên người xưa có câu :
Hạ sỹ dưỡng thân
Trung sỹ dưỡng khí
Thượng sỹ dưỡng tâm
Cảnh giới cao nhất của Trung Y là dưỡng sinh.
Dưỡng tâm là cao nhất trong dưỡng sinh.
Hỏi : Vậy dưỡng tâm bằng cách nào ?
Đáp : đó là suy nghĩ những điều thiện
Hỏi : Có phải trong mọi tình huống của cuộc sống ta đều hành xử thiện.
Đáp : Để xử lý tình huống ta áp dụng Trung đạo:
Có khi là lui lại
Nhường người tốt tiến lên
Có khi là bước lên
Gánh lấy điều nặng nhọc
Cũng chính nhờ cái lý Trung đạo này mà giúp Đức Phật Thích Ca giác ngộ.
Trong một ngôi chùa thì thường có 2 ông Hộ Pháp
Ồng hiền là ông Hộ Pháp khuyến thiện thường hay thưởng thiện
Ông ác là ông Tiêu Diện trừng ác thường hay phạt ác
Tùy người thiện ác mà 2 ông Tiêu Diện Hộ Pháp sẽ xử trí
Hỏi : Vậy Trung đạo là gì ?
Đáp : Trung đạo là không hưởng thụ thái quá
không hành xác cực đoan
Trung đạo là hài hòa giữa khí công và thiền định
Trung đạo là sống tùy kỳ tự nhiên
Biểu hiện của người sống tùy kỳ tự nhiên là :
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Nên tự biết khi nào nên cương, khi nào nên nhu
Trong võ học thì :
NHÂN LỄ NGHĨA TRÍ TÍN
CƯƠNG NHU DŨNG TRÍ TỊN
Trong đạo Phật thì :
THAM SÂN SI thì BUỒN SẦU KHỔ
VĂN TƯ TU thì GIỚI ĐỊNH TUỆ
Kiến thức biên tập lại từ một vị trung y.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Culinary Team
Attire
Contact the school
Telephone
Address
Tổ 2 Ấp Bến Tràm, Xã Cửa Dương, Tp Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang
Phu Quoc
02973