Tự kỷ hưng yên

Tự kỷ hưng yên

Share

kênh thông tin giáo dục, học hỏi, trao đổi kiến thức về trẻ tự kỷ và những vấn đề liên quan đến trẻ tự kỷ

Photos from Tự kỷ hưng yên's post 19/08/2020

🔑TẬP LUYỆN GIÚP BÉ LUYỆN KHẨU HÌNH VÀ ÂM NGỮ

👄GIÚP CON TẬP PHÁT ÂM - LUYỆN CƠ HÀM VÀ MÔI
----
📍TẬP CƠ HÀM
Để nói được trước tiên cơ hàm của con phải hoạt động đúng cách, có chủ đích.

📍Cập răng:
Cha mẹ dạy con phải biết cập răng (nhấc hai hàm răng cập vào nhau). Mẹ ngồi trước mặt con rồi làm mẫu cho con. Yêu cầu con nhìn vào mẹ để bắt chước hoặc cùng làm trước gương để con nhìn và làm theo.

📍Đẩy hàm dưới qua lại hai bên:

Trước tiên, yêu cầu con há miệng rồi từ từ đưa hàm dưới qua hai bên. Hãy làm thật chậm rồi nhanh dần để con chú ý và làm theo

📍Cắn môi dưới:
Hàm trên cắn nhẹ vào môi dưới rồi nhanh chóng bật môi dưới ra khỏi hàm răng giống như khi phát âm âm “v”.

📍TẬP CƠ MÔI:
Môi cần phải được chuyển động đúng cách để bật được âm chuẩn, tránh trường hợp nói ngọng, nói không rõ từ.

📍Chu môi:
Các cha mẹ hãy luôn làm mẫu cho con trước: dạy con cách chu môi lên như khi phát âm âm.

Ví dụ: “u” hoặc “su su”, máy bay kêu “vù vù”. Mẹ có thể làm máy bay hoặc chơi máy bay – luôn có vật, tranh ảnh để con tương tác.

📍Tròn môi:
Rất nhiều bạn nói không rõ từ do không biết làm tròn môi, môi lúc nào cũng chỉ trong một trạng thái “rộng vành”. Vì vậy trước tiên mẹ dạy con cách làm tròn môi như âm “o” hoặc làm con gà gáy “ò ó o” để trẻ làm theo và bật âm ra.

📍Mím môi:
Trẻ phải biết mím môi để uống nước, hút sữa… Trước tiên mẹ dạy con mím môi vào tờ giấy, thìa… rồi mở môi để tờ giấy, thìa rơi xuống hoặc có thể cùng con hút, thổi ống nước để con thích thú học theo. Mẹ làm động tác gọi gà “bập bập” để con làm theo.

📍Phồng má:
Dạy con phồng má để lấy hơi.
--------
🔑GIÚP CON TẬP PHÁT ÂM - KHUYẾN KHÍCH PHÁT ÂM

Để giúp con nói cũng như rèn luyện để con nói rõ, các bậc phụ huynh không chỉ giúp con luyện cơ môi – hàm mà còn cần có một số các bài tập cũng như phương pháp phù hợp khuyến khích trẻ phát âm.

📍TẬP CƠ LƯỠI:
Khi lưỡi hoạt động tốt thì trẻ mới có thể nói tốt. Vì vậy, gợi ý các phụ huynh một số các trò chơi giúp trẻ luyện cơ lưỡi.

📍Thò – thụt lưỡi:
Mẹ ngồi trước con rồi làm động tác thò thụt lưỡi từ chậm đến nhanh dần. Mẹ có thể “dụ” con làm bằng cách thò lưỡi ra và sau đó đặt lên lưỡi thứ mà con thích ăn nhất đề con học theo mẹ và làm theo để được cái mà con đang muốn.

📍Đá lưỡi sang hai bên:

Tương tự như các cách làm trên, mẹ đá lưỡi sang hai bên từ chậm đến nhanh để con làm và học theo.

📍Liếm môi trên/dưới:
Mẹ có thể bôi ngọt hoặc cái gì đó dính lên hai môi để con liếm môi.

📍Dạy phát âm đơn giản
Cha mẹ nên dạy con bắt đầu từ 5 nguyên âm O, E, A, U, I cả khẩu hình và âm để con dễ bật âm hơn:

O: tròn môi

E: lưỡi đè nhẹ lên phần trong môi trên

U: chu môi

A: há rộng miệng

------
👉Khuyến khích phát âm

Khi tương tác với con mẹ tạo tình huống để phát ra các âm thanh quen thuộc giúp con có cơ hội bật được âm nhanh hơn như đưa tay lên miệng “oa oa”, gọi gà “bập bập”, “lêu lêu”, “ê ê”, tặc lưỡi…

• Bắt đầu các âm dễ với con như “và”, “vi vu”, “bơ”, “mơ”, “bà”, “ba”…

• Cho con đọc thơ, hát vuốt đuôi theo bài hát. Khi đến các từ cuối của câu thơ, câu hát mẹ nói to, rõ các âm đó dần dần mẹ nên chừa một khoảng trống (3-5s) ra để con nói vuốt đuôi từ đó theo mẹ vd: “hai vây xinh xinh” thì từ “xinh xinh” mẹ hát to, rõ từ rồi một thời gian sau khi hát đến từ đó mẹ chừa một khoảng trống ra để con nối từ vào. Mẹ nên nhớ rằng khi đọc thơ hay hát mà chú trọng bật âm cho trẻ thì ở những từ cuối của câu me phải nhìn vào mắt con để con giao tiếp mắt và để con bắt chước khẩu hình của mẹ để bật âm. Khi tương tác với con ở các động từ, các danh từ các mẹ nên nhấn mạnh vào từ cần truyền đạt một phần là để con hiểu rõ yêu cầu một phần là để con nghe rõ và bắt chước theo các từ đó (từ khóa). Hãy bắt đầu bằng các từ đơn giản, gần gũi và không có dấu, những từ có 1, 2 âm tiết để con dễ bật âm hơn.

Ngoài các kỹ thuật luyện âm trên thì các bài tập phục hồi chức năng áp dụng cho phần cơ môi, lưỡi, hàm cũng cần phải được thực hiện đồng thời và kiên trì hàng ngày. Đó là:

* Chườm nóng – lạnh vùng cằm; hàm; góc hàm: nhất là vói những bé xúc giác nhiễu loạn( cắn môi, thích cọ mặt, môi vào các vật cứng, thô ráp; cơ mặt thỉnh thoảng bị giật..) việc chườm nóng (70 đến 80oC) từ 3-6 lần trong ngày sẽ giúp con nhanh chóng giảm và hết những hành vi này.

* Mát xa xoay tròn theo chiều kim đồng hồ xuôi từ gốc hàm xuống tới cằm sau khi chườm nóng-lạnh sẽ giúp con vận động hàm tốt hơn, dễ bật âm hơn.

‼‼Lưu ý: Có một số trẻ rất muốn nói, hợp tác đưa khẩu hình khi được dạy nói nhưng không thể phát âm được thì có thể nghĩ tới việc con bị thiếu (hụt) hơi hay thắng lưỡi có vấn đề. Khi đó ngoài việc tích cực luyện tập với hàm, môi, lưỡi thì nhả phanh lưỡi hay tập thêm các bài luyện đẩy hơi (ép hơi, xiết đai…).
Ngoài ra ba mẹ hãy đưa trẻ đến gặp các chuyên gia âm ngữ trụ liệu để được thăm khám và tư vấn kịp thời nhé.
Nguồn: Internet

31/07/2020

🔰CHUẨN BỊ KỸ NĂNG ĐỂ BÉ CÓ LỜI NÓI

Nếu bé chưa đạt được các “Kỹ năng của tiền lời nói” thì khả năng nói sẽ rất khó khăn, cho dù trẻ có nói được thì đó chỉ là những âm thanh vô nghĩa, không đúng với ngữ cảnh và độ hiểu ngôn ngữ sẽ không đạt.Khi trẻ đã hiểu, đã được dạy các “Kỹ năng của tiền lời nói” thì trẻ có thể nói đúng theo ngữ cảnh, hiểu được ngôn ngữ và phát ra âm đúng.

“6 Kỹ năng của tiền lời nói”:

- Giao tiếp mắt.

- Chú ý liên kết.

- Sử dụng ngón trỏ.

- Kiểm soát hơi thở.

- Bắt chước.

- Sự luân phiên.

- Vui chơi – tương tác – tạo cảm xúc – xúc giác.
-----
👉Một số bài tập, trò chơi áp dụng các “Kỹ năng của tiền lời nói”.

I. Giao tiếp bằng mắt:

1. Đáp lại khi gọi tên: ngồi trên ghế ngang với bé, gọi tên bé => đưa đồ chơi ngang tầm mắt mình, gọi tên bé=> bé nhìn vào mắt mình mới cho bé đồ chơi. Làm nhiều lần với nhiều đồ chơi khác nhau.

2. Trong 5 giây, nhắc lại bước 1 nhưng kéo dài thời gian trong 5 giây rồi mới đưa đồ chơi cho bé.

3. Vỗ mũi bé rồi vỗ mũi mình => để bé nhìn minh, tư tương tự vỗ miệng, vỗ trán.

4. Khi bé có sự giao tiếp từ 1=>5 giây, hãy gợi ý cho bé bằng lời “nhìn”.

5. Chơi trò chơi mặt hề trong gương-> bé có thể thiết lập tiếp xúc mặt với bạn trong gương.

II. Bài tập - Chú ý liên kết mắt:

1. Chỉ vào đồ chơi mà bé thích và nói “nhìn” có thể quay đầu bé về phía đồ chơi cho bé nhìn-> cho bé chơi đồ chơi-> làm nhiều lần cho bé nhìn xuống đồ chơi.

2. Cầm 1 đồ chơi và nói “nhìn”-> bé phải nhìn bạn rồi nhìn đồ chơi. Yêu cầu bé nhìn mình rồi nhìn xuống đồ chơi.

3. Thổi b**g bóng xà bông rồi nói “nhìn” để bé nhìn theo b**g bóng. Thổi b**g bóng nửa khi bé nhìn mình, lặp lại từ “nhìn” và chỉ.

4. Thổi b**g bóng và thả b**g bóng bay, nói bé “nhìn” cho bé nhìn theo bóng bay.

5. Khi một người nào đó bước và phòng, chỉ và nói bé “nhìn”.

III. Sử dụng ngón tay trỏ:

1. Trò chơi chi chi chành chành.

2. Trò chơi ấn phím đàn.

3. Dùng ngón tay trỏ chỉ vào các hình ảnh con vật, đồ dùng, sơ đồ cơ thể…

-> đồng thời cung cấp từ cho trẻ.

=> Dấu hiệu để trẻ nói được là sử dụng ngón tay trỏ, tuy trẻ chưa nói được nhưng đã có biểu hiện hiểu ngôn ngữ không lời.

VD: Hỏi ba đâu?

Trẻ : (không nói) nhưng chỉ vào ba -> trẻ đã hiểu được ba và thể hiện được ngôn ngữ không lời là hành vi chỉ ngón tay trỏ => thì giai đoạn để trẻ phát ra được âm “ba” là rất gần.

Tương tự cho tất cả các danh từ đồ vật quen thuộc trong nhà.

IV. Kiểm soát hơn thở:

1. Thổi b**g bóng bằng nước xà phòng.

2. Thổi bông gòn bay.

3. Thổi con hạc giấy treo lơ lửng.

4. Thổi con tàu bằng giấy trên nước.

5. Thổi còi, kèn…

V. Bắt chước:

1. Bắt chước các khuôn mặt và âm thanh: làm những mặt vui vẻ trước gương và phát ra những âm vui nhộn: Aaaa, Uuuu, Maaama, Baaaa.

2. Tiếng kêu của các con vật: mèo: meomeo, gà gáy ooo, bò kêu: um bò, gà con chíp chíp=> nếu bé có phát ra tiếng nào dù không đúng nhưng ta cũng phải bắt chước bé làm theo=> tạo sự bắt chước và hợp tác

3. Bắt chước tác động với đồ vật: để 3 vật: 2 xe lửa, 2 ca nhựa, 2 cây lược=> nên để bé làm trước rồi mình bắc chước bé làm.

4. Bắt chước động tác với đồ vật có ý thức phân biệt.

Cái muỗng bỏ vào cái chén . Bút màu bỏ vào hộp

5. Bắt chước các động tác bằng bàn tay: vỗ tay, vỗ đầu, vỗ tay lên bàn.

VI. Sự luân phiên:

1. Thay đồ chơi khác nhau: đưa 1 đồ chơi, để cho bé chơi trong chốc lát. Sau đó hãy tỏ ý muốn đưa cho bé đồ chơi kia. Đưa đồ chơi cho bé khi bé trả lại đồ chơi ban đầu=> giú bé học cách đưa và nhận.

2. Banh và túi cát: ngồi đối diện với bé và ném banh, túi cát=> trẻ ném lại.

3.Những chiếc xe lửa:luôn phiên lăn xe lửa về phía người đói diện.

4. Dùng xe hơi và cầu trượt nói để gợi ý cho bé “sẵn sàn, chuẩn bị, chạy”-> và nói: tới phiên con, tới phiên cô.

5. Chơi đồ chơi khối xây dựng-> nhớ nói tới phiên con, tới phiên mẹ…

->xây cao rồi cho bé làm sụp đổ.

6. Nhặt sỏi bỏ vào chai nước-> nhớ nói tới phiên con, tới phiên mẹ…

7. Chơi luân phiên xếp chồng- xếp nối tiếp, trên những khối gỗ.

VII. Vui chơi- Tương tác- Tạo cảm xúc, xúc giác

Dành thời gian chơi cùng bé, chơi những trò chơi tương tác tiếp xúc với da , cảm giác xúc giác, giao tiếp mắt, cường độ lời nói trong từng trò chơi. Những yều tố này sẽ góp phần làm cho trẻ chú ý và là cầu nối cho sự tương tác giữa bé và gia đình.

Vd: Trò chơi ú à, kéo cưa lừa sẻ, tung hứng, các trò chơi vận động, các trò chơi thư giãn.
Nguồn: coppy

Photos from Tự kỷ hưng yên's post 30/07/2020

🐝TRÒ CHƠI TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO BÓNG HÌNH VỚI ĐÔI BÀN TAY KHÉO LÉO
👉 GIÚP BÉ THÔNG MINH SÁNG TẠO
-----
THẾ NÀO LÀ MỘT SHADOW VÀ NÓ ĐƯỢC DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?

Một cái bóng được tạo ra khi một vật thể, thực vật, động vật, hoặc người chặn ánh sáng. Vật thể chặn đèn phải kém hoặc mờ ám trong một shadow để hình thành vì ánh sáng có thể xuyên qua các vật thể trong suốt.

Ánh sáng đi xa nguồn trong những đường thẳng. Khi nguồn ánh sáng bị một vật thể khác chặn lại, nó sẽ tạo ra một cái bóng. Bóng tối rơi ra khỏi ánh sáng và hình thức theo hướng ngược lại của bất cứ điều gì đang chặn nguồn sáng.

Điều này có nghĩa là ba thứ phải có mặt để tạo nên một cái bóng. Một nguồn ánh sáng, một vật thể để chặn nó, và một bề mặt phía sau vật thể để bóng tối rơi xuống. mặt trời là nguồn ánh sáng tự nhiên, trong khi một đèn đèn hoặc đèn pin là một nguồn sáng nhân tạo.

Kích thước và hình dạng của bóng tùy thuộc vào kích thước và vị trí của nguồn sáng so với kích thước và góc độ tương đối của vật thể chặn ánh sáng.

Các hoạt động và thử nghiệm bóng tối có thể giúp trẻ em biết được bóng tối là gì, và, hình bóng được hình thành như thế nào bằng cách trải nghiệm.
Bạn hãy CÙNG BÉ TRẢI NGHIỆM NHÉ 🐥
---
Nguồn: coppy

16/07/2020

🔻DẤU HIỆU NHẬN BIẾT TRẺ CÓ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG – KÉM CHÚ Ý🔻

Hiện nay, chúng ta thường thấy nhiều trẻ bị mất tập trung, không chịu ngồi yên một chỗ hay nói quá nhiều. Thế nhưng những trẻ đó lại rất thông minh khiến chúng ta bỏ qua những dấu hiệu không bình thường mà không biết rằng những dấu hiệu đó có thể là biểu hiện sớm của “Rối loạn tăng động kém chú ý” (ADHD). Đây là một rối loạn phát triển thần kinh, nếu không phát hiện sớm, ADHD có thể ảnh hưởng đến quá trình học tập và các quan hệ xã hội của trẻ. Vì vậy, cha mẹ cần nhận biết được những dấu hiệu của ADHD để có những phương pháp điều trị và can thiệp kịp thời cho con. Cha mẹ có thể tham khảo một số dấu hiệu ADHD thường gặp A365 chia sẻ ngay sau đây nhé!

🔸 Hay mơ màng: Trẻ ADHD không hề kém thông minh so với các bạn. Tuy nhiên, trẻ hay gặp khó khăn trong việc lắng nghe hướng dẫn từ thầy cô, từ đó thường xuyên mơ màng, không kịp nắm bắt lời giảng hoặc những yêu cầu trong việc làm bài tập.

🔸 Thường quên hoặc làm mất nhiều thứ: Trẻ hay quên các hoạt động hằng ngày, quên công việc nhà, một nhiệm vụ nào đó. Khi đi học, trẻ có thể quên sách, vở, bút, thậm chí có thể là quên cả ba lô ở nhà. Mặc dù đã được cha mẹ hay thầy cô nhắc nhở nhưng tình trạng đó vẫn thường xuyên xảy ra

🔸Ngồi không yên, thích cựa quậy: Trẻ rất khó ngồi yên, không thể chơi hay tham gia vào các hoạt động giải trí một cách yên lặng, thường bồn chồn, đập tay hay chân hay ngọ nguậy trên chỗ ngồi.

🔸 Nói quá nhiều: Ngoài chạy, nhảy hay hoạt động chân tay thì trẻ còn nói nhiều. Trẻ có thể nói chuyện hay đặt rất nhiều câu hỏi với chủ đề khác nhau cho những người xung quanh khiến mọi người cảm thấy khó chịu khi bên cạnh trẻ.

🔸Gặp khó khăn khi thực hiện theo lần lượt: Trẻ có thể không thực hiện được theo những hướng dẫn,hay bỏ lỡ chi tiết quan trọng, không hoàn thành công việc. Trẻ thường chen lấn, tranh giành để lấy đồ mà không chờ tới lượt.

🔸 Gặp khó khăn để hòa hợp với người khác: Trẻ có ADHD khó kiềm chế cảm xúc, dễ nổi nóng, tức giận và dùng hành động để giải quyết vấn đề, chẳng hạn như cào cấu, đánh bạn, đập vỡ đồ chơi... nếu không vừa ý. Do vậy trẻ ADHD thường khó kết bạn và duy trì mối quan hệ nào đó lâu dài.

Những dấu hiệu của ADHD rất dễ nhầm sang những rối loạn phát triển khác. Đừng ngại khi con có những dấu hiệu phát triển không bình thường, hãy yêu thương con như những trẻ khác và luôn theo dõi sự phát triển của con để có phương pháp điều trị và can thiệp kịp thời mang một tương lai tươi sáng hơn đến cho trẻ cha mẹ nhé!
Nguồn. A365

Photos from Tự kỷ hưng yên's post 16/07/2020

CÁCH_CHỌN_ĐỒ_CHƠI CHO BÉ theo từng giai đoạn phát triển.
-----
👉Đối với trẻ mầm non thì vui chơi có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ, cụ thể là:
✔Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính chủ định của các quá trình tâm lý ở trẻ.
✔Trong trò chơi trẻ bắt đầu hình thành chú ý có chủ định và ghi nhớ có chủ định. ✔Chơi giúp trẻ tập trung chú ý và ghi nhớ:
Bản thân trò chơi buộc trẻ phải tập trung vào một số đối tượng được đưa vào trò chơi và nội dung của chủ đề chơi. Nếu trẻ nào không chú ý và không nhớ được những điều kiện của trò chơi thì nó sẽ hành động lung tung và không được bạn cùng chơi chấp nhận. Cho nên để trò chơi được thành công buộc trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ có mục đích.
✔Chơi giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng:
Tình huống chơi và những hành động chơi ảnh hưởng thường xuyên đến sự phát triển của hoạt động trí tuệ đặc biệt là tư duy và trí tưởng tượng của trẻ. Trong hoạt động vui chơi đứa trẻ học thay thế đồ vật này bằng đồ vật khác hoặc hóa thân thành các nhân vật khác nhau. Đó chính là cơ sở để trẻ phát triển trí tưởng tượng.
✔Vui chơi cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Tình huống chơi đòi hỏi mọi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nếu đứa trẻ không diễn đạt được mạch lạc nguyện vọng, ý kiến của mình, không hiểu được lời chỉ dẫn hay bàn bạc của bạn cùng chơi thì sẽ không thể tham gia vào trò chơi được.
Bên cạnh đó, vui chơi tác động rất mạnh đến đời sống tình cảm của trẻ. Đứa trẻ lao vào trò chơi với tất cả tinh thần say mê của nó.
✔Chơi giúp trẻ phát huy quan hệ xã hội:
Trong khi chơi trẻ tỏ ra rất sung sướng và nhiệt tình. Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người với người và nhập vào những mối quan hệ đó thì những biểu hiện cảm xúc của con người sẽ được gợi lên ở trẻ. Trò chơi tác động mạnh đến trẻ em trước hết là vì nó thâm nhập một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của chúng mà tình cảm đối với trẻ lại là động cơ hành động mạnh mẽ nhất.
✔Hoạt động vui chơi không chỉ ảnh hưởng đến sự hình thành tính chủ định, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ, tâm lý cũng như đời sống tình cảm mà thông qua trò chơi thì những phẩm chất ý chí của trẻ cũng được hình thành như: Tính mục đích, tính kỷ luật, tính dũng cảm…
👉Như vậy hoạt động vui chơi ở trẻ mầm non thực sự đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ. Thông qua vui chơi, hành động chơi với những mối quan hệ bạn bè cùng chơi giúp trẻ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội, và mở ra một chặng đường phát triển mới về chất. Đó là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách, là phương tiện để phát triển toàn diện nhân cách. Vì thế chúng ta cần thấy được việc tổ chức các trò chơi cho trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa giáo dục to lớn. Tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ, trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người.
Nguồn: Kidsup

10/07/2020

🌿 NGUYÊN NHÂN RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG - KÉM CHÚ Ý🌿

Rối loạn Tăng động - Kém chú ý (ADHD) là một trong những rối loạn phát triển thần kinh phổ biến nhất ở trẻ em, thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu và thường kéo dài đến tuổi trưởng thành. Trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý có thể gặp khó khăn về khả năng chú ý, kiểm soát các hành vi hiếu động quá mức.

Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể nào tìm ra nguyên nhân gây bệnh, nhưng thời gian gần đây, các nhà khoa học đã đưa ra một số giả thuyết về nguyên nhân gây ra bệnh ADHD. Trong Hội thảo về "Chứng Tăng động - Kém chú ý và các rối loạn khác đi kèm",Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang đã chỉ ra một số nguyên nhân và yếu tố nguy cơ có thể gây nên ADHD.

🌻Di truyền: Di truyền đóng vai trò quan trọng trong ADHD. Những kết quả từ nghiên cứu ở trẻ sinh đôi cho thấy tỷ lệ từ 75% đến 97% trẻ đều có ADHD, đặc biệt là những trẻ cùng trứng thì tỉ lệ cả hai cùng có ADHD lại càng cao. Hơn nữa, ở những gia đình có con ADHD, khi điều tra lại tuổi ấu thơ của cha mẹ thì một số cha mẹ cũng có xuất hiện triệu chứng của ADHD.

🌻Tổn thương não: Khoảng 50 năm trước, các nhà khoa học cho rằng ADHD là do não bị tổn thương. Sau một vài nghiên cứu, họ cũng thấy rằng các vấn đề về chú ý là một hậu quả của tổn thương não sau chấn thương (ví dụ ở trẻ bị chấn thương đầu do tai nạn giao thông hay do té ngã…). Những nghiên cứu sau này cho thấy rằng chỉ có 5% trẻ ADHD là có những tổn thương thần kinh hay động kinh.

🌻 Chế độ ăn: Đường và các chất phụ gia trong thực phẩm như màu nhân tạo cũng được cho là một trong những yếu tố nguy cơ có thể gây ra ADHD. Ngoài ra, nồng độ chì trong máu cao cũng được cho là nguyên nhân gây ra ADHD. Tuy nhiên các nghiên cứu chứng minh những yếu tô này lại có những kết quả khác nhau. Dù sao thì cha mẹ cũng nên chú ý xây dựng một chế độ ăn hợp lý cho con
Nguồn :a365

05/07/2020

tuyển giáo viên
- Tốt nghiệp: ngành sư phạm mầm non, công tác xã hội, tâm lý, giáo dục đặc biệt, giáo dục tiểu học...
Ưu tiên các em mới ra trường, chưa có kn sẽ được đào tạo
- Công việc: giáo dục trẻ cac tre ( tự kỷ, tăng động giảm chú ý, chậm nói, khó khăn về học,...)
-dạy nhóm, cá nhân.
Thời gian dậy: t2-t7
- Chế độ lương: thỏa thuận
-ưu tiên các bạn có ý muốn làm việc lâu dài ( đặc biệt là các bạn quê ninh bình).
- Địa chỉ làm việc: yên mỹ- ihưng yên
Liên hệ: 0382567438 ( ngát 1992)
Để trao đổi cụ thể
Ps: mọi ngươi chia sẻ giúp em cho những ng có nhu cầu đi làm ạ

24/06/2020

TẠI SAO TRẺ TỰ KỶ THÍCH NÓI TIẾNG ANH?
Để hiểu thêm về vấn đề này, mời các bạn tham khảo những chia sẻ của bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang, chuyên gia tâm lý thần kinh đã tại hội thảo về giáo dục đặc biệt tại Perth, Australia, tháng 6/2017 về việc tại sao trẻ tự kỷ lại thích nói tiếng Anh:
1) Do hệ thần kinh có những khó khăn trong việc đáp ứng với khuôn mặt và giọng nói của con người mà lại dễ đáp ứng với các đồ vật như máy móc điện tử hay các đồ chơi kích thích cảm giác khác nhau.
2) Chính sự không đáp ứng trong tương tác với con người mà lại dễ đáp ứng với các công cụ điện tử như TV, iPhone, Ipad nên phụ huynh cảm thấy dễ dàng hơn khi cho trẻ chơi với các công cụ này, khi chơi với các công cụ này lâu dài trẻ trở nên quen thuộc và bám dính vào, khó bỏ đi. Điều này lại càng làm cho trẻ khó khăn trong tương tác và giao tiếp với con người, càng làm trẻ chậm hơn về ngôn ngữ và giao tiếp. Nhiều phụ huynh hiểu lầm là cho con xem TV, Ipad... nhiều gây ra tự kỷ, thực ra là do trẻ đã vốn có khó khăn trước rồi, ông bà cha mẹ không biết cách nên để cho trẻ chơi với công cụ điện tử để dễ dàng hơn trong sinh hoạt hàng ngày. Có nhiều phụ huynh ngộ nhận rằng trẻ biết nói tiếng Anh nên không có vấn đề gì và còn tỏ ra thích thú cho rằng trẻ giỏi.
Giao tiếp và tương tác không chỉ đơn giản là nói lập lại một số từ hay rập khuôn cả câu. Đây là một quá trình phức tạp bao gồm sự chú ý đến đối tượng giao tiếp, chủ động, khởi xướng, thể hiện nhu cầu, trao đổi thông qua hệ thống không có lời ( cử chỉ, điệu bộ) và hệ thống có lời, sự phối hợp đồng bộ cả hai hệ thống giao tiếp không lời và có lời một cách nhịp nhàng, phù hợp.
3) Việc xử lý ngôn ngữ của trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong cung giọng, giọng trẻ thường là phẳng (Flat) và đơn điệu (Aprosody), tiếng Việt vốn là ngôn ngữ có dấu, cung giọng lên xuống (Tone language) nên có thể trẻ gặp khó khăn trong xử lý hơn so với tiếng Anh
4) Hầu hết các chương trình TV, IPhone, Ipad....mà hấp dẫn đối với tự kỷ thường là có nhiều hình ảnh sinh động (trẻ tự kỷ xử lý thông tin qua thị giác rất tốt) và có kèm theo tiếng Anh, nên khi trẻ xem hình và có tiếng Anh (không có tone như tiếng Việt) thì dễ học ngôn ngữ này hơn theo kiểu kích thích đôi (Pair stimulation hay điều kiện cổ điển: Classical conditioning ).
5) Cho dù trẻ tự kỷ có nói tiếng Anh nhiều đi chăng nữa thì cũng không có khuynh hướng dùng ngôn ngữ này để chủ động trong giao tiếp thực sự.
Nguồn :Giang Phan

18/06/2020

❌ KỶ LUẬT KHÔNG NƯỚC MẮT ❌

Trẻ càng lớn sẽ càng có những tính cách riêng mà cha mẹ khó có thể kiểm soát hết được. Bên cạnh những lúc con đáng yêu thì không thể thiếu những khi con không làm chủ được cảm xúc và hành vi của mình. Và đôi lúc chúng ta phải áp dụng những hình thức kỉ luật để con nhận ra những lỗi sai của mình. Nhưng kỉ luật con như thế nào để con có thể nhận lỗi mà không ảnh hưởng đến cảm xúc con một cách tiêu cực là một vấn đề vô cùng khó khăn với các cha mẹ.

1️⃣ Nếu con thường bày bừa ra nhà, cha mẹ có thể lấy một chiếc hộp, dán nhãn “ngày mưa” và đặt đồ chơi con không chịu dọn vào trong đó, chỉ ngày mưa con mới có quyền lấy ra chơi. Điều này còn giúp cho những món đồ cũ trở nên mới lạ hơn, đồng thời giúp con luôn nhớ về món đồ chơi đó và tự điều chỉnh hành vi

2️⃣ Khi trẻ quên cất đồ chơi hay một vật dụng gì đó, cha mẹ hãy mang đi cất giùm nhưng không chỉ chỗ. Muốn biết đồ đó ở đâu, con sẽ phải tự đi tìm. Việc này khiến trẻ cảm nhận được sự rắc rối của việc phải đi tìm đồ và sẽ hình thành ý thức tự cất đồ cho bé.

3️⃣ Nếu anh chị em trong nhà thường xuyên căng thẳng với nhau, cha mẹ hãy thử bày trò chơi rằng cả hai phải cùng chui vào một chiếc áo phông cỡ đại trong một khoảng thời gian nhất định. Khi muốn làm gì đó, chúng sẽ phải làm cùng nhau và các bé học được cách phối hợp hiệu quả hơn.

4️⃣ Cha mẹ hãy tạo cho trẻ một nơi để suy nghĩ khi trẻ thường xuyên quấy khóc, ăn vạ hay đánh người khác. Cha mẹ có thể chuẩn bị một bộ bàn ghế nhỏ và nói trẻ ngồi vào bàn. Đừng vội la mắng trẻ mà kiên nhẫn hỏi tại sao trẻ lại làm như vậy. Sau đó cho trẻ biết làm như vậy là sai và dạy trẻ cách xử lý tình huống phù hợp.

5️⃣ Nếu con thích vẽ, viết lên tường nhà hoặc sàn nhà, hãy kỉ luật trẻ bằng cách cho trẻ làm việc nhà. Khi đó con sẽ hiểu rằng con cần có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh chung trong nhà cùng với tất cả mọi người. Và sau khi lau chùi, hãy hỏi về cảm nhận của trẻ, cho trẻ biết vì sao trẻ bị kỉ luật như vậy.

6️⃣ Cha mẹ có thể cho bé thực hiện việc vẽ tranh khi bé quá hiếu động và không kiểm soát được cảm xúc của mình. Thời gian hoàn thiện những bức tranh đầy màu sắc sẽ giúp bé bình tĩnh lại, động thời kích thích khả năng sáng tạo của bé.

Tùy theo mỗi tình huống mà cha mẹ sẽ có những hình thức kỉ luật khác nhau cho bé. Cha mẹ chú ý cần phải kiểm soát tinh thần của mình, không được quá nóng giận với trẻ hay nói những lời nặng nề khiến tổn thương trẻ. Quan trọng nhất, sau khi kỉ luật con, cha mẹ cần phải an ủi để trẻ thấy rằng cha mẹ luôn là người yêu thương con nhất
Nguồn : coppy a365

17/06/2020

✅ Tổng quan Hội chứng Rett
Hội chứng Rett là một bệnh thần kinh nặng nề nhưng hiếm gặp trên lâm sàng, thường thấy ở trên trẻ gái. Tần suất mắc bệnh trung bình từ 1/10.000 đến 1/20.000 bé gái, phổ biến trong độ tuổi từ 6 đến 14. Nam giới mắc phải hội chứng này rất hiếm gặp trên lâm sàng vì tỷ lệ tử vong trong bụng mẹ rất cao. Bệnh nhân mắc hội chứng Rett có thể sống tới những năm 50-60 tuổi kèm theo các rối loạn trầm trọng. Nguyên nhân tử vong trong một vài trường hợp liên quan đến các biến chứng của bệnh như viêm phổi, rối loạn nhịp tim. Hội chứng Rett được đặt tên theo Andreas Rett, là người đầu tiên mô tả nó vào năm 1965.

Hội chứng Rett thường xuất hiện đầu tiên vào khoảng 6-18 tháng tuổi và được phát hiện trên lâm sàng vào khoảng 2-4 tuổi, mặc cho giai đoạn trước đó trẻ phát triển hoàn toàn bình thường. Người bệnh mắc hội chứng Rett phải đối mặt với các rối loạn thần kinh, ảnh hưởng lên sự phát triển của bộ não và gây ra các bất thường của quá trình sử dụng cơ bắp như nhóm cơ vận động, cơ mắt và cơ phát âm..

Nguyên nhân gây bệnh được chứng minh có liên quan đến các biến đổi trên gen MECP2 nằm trên nhiễm sắc thể X. Dựa vào quá trình diễn tiến bệnh có thể chia hội chứng Rett làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn ngừng phát triển: thường xuất hiện khi trẻ được 6 đến 18 tháng. Trẻ thường biểu hiện các dấu hiệu chậm phát triển vận động như giảm hứng thú chơi đùa so với trước đây, hạn chế giao tiếp với người khác thông qua ánh mắt. Bố mẹ thường có thể nhận thấy trẻ điềm tĩnh hơn so với các trẻ cùng lứa tuổi, tuy nhiên, các dấu hiệu trong giai đoạn này thường không rõ ràng.
Giai đoạn tổn thương hoặc thoái hóa nhanh: diễn ra khi trẻ được 1 đến 4 tuổi, kéo dài vài tuần hoặc vài tháng. Các tổn thương diễn ra nhanh nên các rối loạn bộc lộ rõ ràng hơn. Trẻ mất khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ hay ánh măt, không sử dụng được đôi tay của mình, không thực hiện được các động tác mà trước đây trẻ có thể làm được. Các bất thường khác như rối loạn nhịp thở, co giật, rối loạn giấc ngủ cũng có thể xuất hiện. Bố mẹ thường ghi nhớ rõ những bất thường của con trẻ trong giai đoạn này.
Giai đoạn giả vờ bình ổn: điển hình ở những trẻ từ 2 đến 10 tuổi. Nhiều sự cải thiện trong vận động, hành vi của trẻ được ghi nhận mặc dù các rối loạn vẫn còn tồn tại. Các vấn đề ăn uống, động kinh cũng được ghi nhận. Giai đoạn bình ổn thường kéo dài trong nhiều năm.
Giai đoạn tổn thương vận động muộn: xuất hiện điển hình ở những trẻ trên 10 tuổi. Các rối loạn vận động, loạn trương lực cơ vẫn tiếp tục tiến triển nặng nề hơn. Tổn thương trong nhận thức, giao tiếp thường ổn định hoặc được cải thiện.
Ngoài ra có thể phân loại hội chứng Rett làm 2 nhóm: hội chứng Rett điển hình và hội chứng Rett không điển hình hay dao động.
✅ Nguyên nhân Hội chứng Rett
Nguyên nhân gây ra hội chứng Rett được xác định liên quan đến đột biến gen MECP2 (Methyl-cpg binding Protein-2) trên nhiễm sắc thể X. Tuy nhiên vai trò của gen này trong việc hình thành các triệu chứng lâm sàng khi bị biến đổi vẫn chưa được hiểu rõ. Đột biến gen MECP2 thường xảy ra sau khi trứng được thụ tinh, nghĩa là không được di truyền từ bố hay mẹ của trẻ bị bệnh mà xuất hiện cơ hội trong quá trình sinh trưởng và phát triển.

Đột biến gen trên nhiễm sắc thể X nên có thể ảnh hưởng đến cả hai giới. Tuy nhiên một trẻ trai mắc hội chứng Rett hiếm khi khỏe mạnh cho đến lúc được sinh ra nên thường thấy hội chứng Rett ở trẻ gái với tần suất cao hơn.
✅Triệu chứng Hội chứng Rett
Người bệnh mắc phải hội chứng Rett thường đối mặt với các triệu chứng bất thường sau:

Giảm khả năng vận động: hội chứng Rett thường biểu hiện đầu tiên với việc giảm khả năng điều khiển tay, không thực hiện được các động tác phối hợp bình thường như bò hay đi lại. Rối loạn vận động diễn tiến nhanh tương ứng với giai đoạn thoái hóa nhanh, sau đó tiếp tục tiếp diễn chậm hơn. Hệ quả cuối cùng thường là giảm sức cơ, rối loạn trương lực cơ, dẫn đến các tư thế và cử động bất thường, thậm chí là liệt.
Giảm hoặc mất khả năng giao tiếp: khả năng giao tiếp bằng mắt, cử chỉ hay ngôn ngữ của trẻ đều bị ảnh hưởng. Bố mẹ thường thấy trẻ “điềm đạm” hơn so với lứa tuổi, thờ ơ với môi trường xung quanh. Trong một vài trường hợp trẻ mất hẳn khả năng nói một cách đột ngột. Thay vào đó, về sau trẻ có thể phát triển khả năng giao tiếp phi ngôn ngữ.
Cử động bất thường của mắt: các cơ vận động mắt cũng thường bị ảnh hưởng và dẫn đến các bất thường như chớp mắt thường xuyên, lé hay nhìn chằm chằm.
Động tác tay bất thường: trẻ mắc hội chứng Rett thường có các động tác tay không có chủ đích, vô định như vặn xoắn, gõ, cọ xát
Kích thích, dễ cáu gắt, biểu hiện các nét mặt kỳ cục
Rối loạn hô hấp: khi trẻ thức, các rối loạn hô hấp có thể xuất hiện như tăng nhịp thở, thở ra quá mạnh kèm cả nước bọt
Bất thường về nhận thức, giảm khả năng trí tuệ
Tăng trưởng chậm: vòng đầu nhỏ hơn kích thước bình thường là dấu hiệu đầu tiên. Trong những năm về sau, trẻ có tốc độ tăng trưởng chậm, biểu hiện toàn thân do xuất hiện các rối loạn ăn uống khác.
Một số triệu chứng khác có thể gặp phải: hệ xương yếu, mỏng, dễ bị gãy; vẹo cột sống nặng dần theo tuổi; đau nhưng khó biểu hiện do giảm khả năng giao tiếp; rối loạn về nhai nuốt; co giật, động kinh.
Triệu chứng của hội chứng Rett rất đa dạng và phong phú tuy nhiên thường xuất hiện ở những trẻ được sinh ra từ một thai kỳ khỏe mạnh và có những tháng đầu đời phát triển bình thường nên bố mẹ thường chủ quan, phát hiện muộn. Các biểu hiện lâm sàng khác nhau ở từng trẻ, phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của các khuyết tật.

✅Đường lây truyền Hội chứng Rett
Hội chứng Rett là một rối loạn thần kinh nặng nề nên phụ huynh thường rất lo lắng khi có con mắc bệnh cũng như thắc mắc bệnh có lây nhiễm cho những đứa con còn lại của họ không. Đầu tiên, dựa vào nguyên nhân gây bệnh do đột biến gen trên nhiễm sắc thể giới tính X, có thể khẳng định hội chứng Rett không phải là một bệnh lý truyền nhiễm. Những đứa trẻ khỏe mạnh khi chơi đùa cùng hay sử dụng chung các vật dụng với trẻ mắc hội chứng Rett sẽ không có khả năng lây bệnh.

Tuy bệnh liên quan đến đột biến gen nhưng rối loạn này không có tính di truyền. Các đột biến gen xuất hiện ngẫu nhiên sau khi tạo phôi. Trẻ bị bệnh không phải do nhận gen bệnh từ bố mẹ của chúng.
Đối tượng nguy cơ Hội chứng Rett
Đột biến gen ngẫu nhiên là nguyên nhân gây ra bệnh nên không có yếu tố nguy cơ nào được xác định có vai trò làm tăng khả năng mắc bệnh. Tuy bệnh không có tính di truyền, nhưng cần lưu ý hơn đối với những trẻ có người thân trong gia đình mắc hội chứng Rett.
✅Phòng ngừa Hội chứng Rett
Không có biện pháp nào có tác dụng giúp phòng tránh để không mắc phải hội chứng Rett. Tuy nhiên, nếu phát hiện con trẻ có các triệu chứng lâm sàng bất thường, bố mẹ nên nhanh chóng đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị kịp thời. Việc không trì hoãn khả năng tiếp cận các nguồn lực y tế của trẻ bị bệnh là biện pháp tốt nhất giúp giảm thiểu sự ảnh hưởng không tốt của hội chứng Rett đến cuộc sống của một đứa trẻ.
Các biện pháp chẩn đoán Hội chứng Rett
Chẩn đoán hội chứng Rett cần phối hợp với việc khai thác tiền sử, triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng như:
Phân tích gen: khi có đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán trên lâm sàng, nếu phát hiện ra đột biến trên gen MECP2, một chẩn đoán chính xác hội chứng Rett có thể được xác lập. Mức độ nghiêm trọng của bệnh cũng có thể được tiên lượng dựa vào xét nghiệm này.
MRI não bộ: phát hiện các tổn thương như giảm kích thước vỏ não, teo tiểu não gặp trong đa phần các trẻ bị bệnh. Tuy nhiên các đặc điểm này không đặc hiệu cho hội chứng Rett.
Đo điện tâm đồ (ECG): bệnh nhân hội chứng Rett có tỷ lệ độ tử khác cao. ECG giúp phát hiện các bất thường như nhịp tim chậm, sóng T đảo ngược, QT kéo dài.
Điện não đồ (EEG)
Test sinh lý thần kinh: test thính giác, cảm giác, điện cơ đồ.
Hô hấp ký
✅Các biện pháp điều trị Hội chứng Rett
Không có biện pháp giúp điều trị khỏi hội chứng Rett. Các biện pháp điều trị hiện tại được áp dụng chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ và cải thiện triệu chứng cho người bệnh. Việc điều trị cần mang tính toàn diện, phối hợp trên nhiều lĩnh vực và kéo dài suốt cuộc đời của người bệnh.

Một bệnh nhân mắc hội chứng Rett cần được đánh giá và hỗ trợ bằng nhiều biện pháp đồng thời như:

Sử dụng thuốc: các nhóm thuốc được chỉ định phổ biến như thuốc điều trị động kinh (carbamazepine, valproic acid, topiramate), thuốc an thần, thuốc chống nôn.
Phẫu thuật: người bệnh có thể cần được đặt ống thông dạ dày để nuôi dưỡng, hay phẫu thuật chỉnh hình nếu mắc phải vẹo cột sống
Phục hồi chức năng
Vật lý trị liệu
Ngôn ngữ trị liệu
Liệu pháp hành vi
Trị liệu nghề nghiệp
Đảm bảo dinh dưỡng
Nguồn :coppy

Want your school to be the top-listed School/college in Phu My?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Tân Thành, Phú Mỹ
Phu My
790000