23/07/2018
Le Trung Long
[PHÁP] CÂY CỐI, Y HỌC VÀ NÔNG NGHIỆP TRONG CHIÊM TINH HỌC
(Chiêm Tinh Học 511.002)
Nhân vụ "chặt 6700 cây thiếu minh bạch" diễn ra ở Hà Nội đang làm dư luận trong nước lẫn quốc tế phải ngỡ ngàng, tôi nhớ đến một đề tài mà nhiều chiêm tinh gia hay người tìm hiểu chiêm tinh ngày nay thường ít để ý đến. Phần lớn họ dường như chẳng quan tâm đến "nông nghiệp" hay "làm vườn" mà chỉ chăm chú và "sân si" với những vấn đề linh tinh như: "danh vọng/sự nghiệp", "yêu đương", "tài lộc", "gia đạo", "vật chất" v.v... đại loại như thế.
Trong những sách vở và tài liệu chiêm tinh học cổ xưa, "trồng trọt" là một vấn đề khá quan trọng "không thể thiếu" trong cuộc sống hàng ngày, vì nó gắn liền với những nhu cầu căn bản nhất của mọi con người như "ăn" và "mặc", và chúng ta đều biết rằng "ăn" hay "mặc" là những hoạt động gắn liền với "sức khỏe" hàng ngày. Và dĩ nhiên, có "sức khỏe" thì chúng ta mới có thể theo đuổi và thành công với những tham vọng của mình trong cuộc sống như tiền bạc, danh vọng, tình yêu hay gia đình v.v... Việc quan sát chuyển động của Mặt Trời, các hành tinh và vì sao để tiên liệu những thông tin về thời tiết, nông nghiệp và cả y học dân gian chữa bệnh bằng cây cỏ chính là một phần trong quá trình phát triển chiêm tinh học cho đến ngày nay.
Dù ở mức độ nào đi chăng nữa, con người, cây cối, các hành tinh cùng những vì sao đều được tạo ra từ những nguyên tố hết sức cơ bản: hỏa (lửa), thổ (đất), khí (hơi, ga) và thủy (nước) và cùng biểu hiện những tính chất cơ bản giống nhau như nóng/khô, nóng/ẩm, lạnh/khô và lạnh/ướt. Chính những đặc tính chung đó đã giúp con người kết nối chặt chẽ và hài hòa với thiên nhiên và vũ trụ. Mỗi cơ thể con người chúng ta chính là một mô hình thu nhỏ của hệ mặt trời, với mỗi bộ phận cơ thể và hệ thống tượng trưng cho một hành tinh hay dấu hiệu Hoàng Đạo.
Thiên nhiên thường có cách "báo hiệu" cho chúng ta biết một loại cây cỏ nào đó "tốt cho cái gì". Ví dụ, nhóm "Mặt Trời" gồm các loại cây có lá hình "trái tim" thường được sử dụng để chữa bệnh tim mạch. Những loại cây có bông màu vàng sáng, thường nở và nghiên hướng về phía Mặt Trời cũng nằm trong nhóm này. Những loại cây có g*i nhọn hay kim châm nhú ra có liên quan đến Hỏa Tinh, là hành tinh chủ về tinh thần chiến đấu và khởi phát. Cây cỏ thuộc nhóm Thổ Tinh có những nốt lồi hay đốt phình ra có thể chữa bệnh viêm khớp, và khớp là phần cơ thể cai quản bởi Ngư Dương với chủ tinh là Thổ Tinh. Các loại cây "thường xanh" (perennial) với lá dài, cây có thân gỗ tạo lớp hàng năm cũng liên quan đến Thổ Tinh là hành tinh chủ về "tuổi tác" và "thời gian".
Lá cây có nhiều lông mao, hình dạng thất thường, sẽ giống với khu vực mao quản trong phổi - là bộ phận cơ thể liên quan đến Song Tử, Xử Nữ và chủ tinh chung của chúng là Thủy Tinh. Lá cây chia thành 2 nhánh đối xứng với nhau như 2 phế quản chia ra đi vào 2 lá phổi cũng liên quan đến Thủy Tinh là hành tinh chủ về thông tin và hệ thần kinh. Các loại cây có tính "xoa dịu" và hình dạng "đẹp đẽ", "mỹ thuật" liên quan đến Kim Tinh là chủ tinh của Kim Ngưu và Thiên Xứng. Các loại cây có nhiều nước trong lá, thân, quả thường liên quan đến Mặt Trăng là chủ tinh của Cự Giải, trong khi những cây "đồ sộ" to lớn, đôi khi có thể ăn được làm người ta nghĩ đến sự phát triển và mở rộng của Mộc Tinh, chủ tinh của Nhân Mã và Song Ngư v.v...
Như vậy, các dấu hiệu Hoàng Đạo và hành tinh liên hệ với những cây cối nào ? Trong thế kỷ thứ 17, một nhà chiêm tinh và cũng là một bác sĩ và là nhà nghiên thực vật, Nicholas Culpeper, đã xuất bản một số công trình nghiên cứu qua các cuốn sách như "Bác Sĩ Người Anh" ("The English Physician" - 1652) và "Thảo Dược Toàn Thư" ("Complete Herbal" - 1653). Những cuốn sách này chứa đựng nhiều thông tin về các loại thảo dược và tính chất y học của chúng, và cuốn "Định Bệnh Bằng Chiêm Tinh Học Bên Giường Bệnh Nhân" ("Astrological Judgement of Diseases from the Decumbiture of the Sick" - 1655) là một trong những tài liệu chi tiết nhất mà chúng ta biết được về ứng dụng chiêm tinh học trong y khoa vào thời Cận Đại.
Liệt kê mà tôi sắp trình bày sau đây là một phần từ công trình nghiên cứu của bác sĩ Nicholas Culpeper và các nghiên cứu khác mới hơn từ đó cho đến nay, nhất là sau khi các hành tinh vòng ngoài được khám phá như Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh. Ý nghĩa của chúng được phân loại và chia thành nhóm theo chủ tinh như sau cùng với tên tiếng Việt và tên khoa học/pháp danh:
* Lưu ý: một số loại cây có thể mang ý nghĩa của 2-3 hành tinh / dấu hiệu Hoàng đạo cùng một lúc
DƯƠNG CƯU / HỎA TINH (DƯƠNG):
- Mô tả: Bất kỳ loại cây có g*i hay bụi g*i, mọc nhô ra, có lá mũi nhọn và sắc cạnh, cây gia vị hay có vị chua, cay nồng hoặc hăng nóng có thể "xuyên da thấu thịt", thích mọc ở nơi khô cằn / đất đỏ hay sa mạc
- Dược tính: tác động lên bạch huyết cầu, cơ bắp, quá trình sinh hóa, cũng như thần kinh cơ bắp và phần đầu
- Nhóm hoa: kế sữa hay còn gọi là cúc g*i (Silybum marianum), kim ngân (honeysuckle), phỉ (witch-hazel/hamamelis virginiana), vòi voi / cỏ phổi (Pulmonaria officinalis), cần nước (hemlock)
- Nhóm dược thảo/củ: ớt (Capsicum annuum), hành tây (onion), tỏi (garlic), tỏi tây (leek), tiêu (pepper), gừng (ginger), mù tạt (mustard), húng quế (basil/Ocymum basilicum), cải tiêu (pepperweed/Lepidium latifolium), bạc hà đắng (horehound), củ cải (radish), các loại họ rau răm (Polygonum sp.), các loại xương rồng, nha đam / lô hội (aloe vera), thuốc lá (Nicotiana tabacum), long nha thảo / cỏ răng rồng / tiên hạc thảo (Agrimonia sp.), tràm dại (Baptisia tinctoria), ngải đắng / ngải cứu (Artemisia absinthium), tầm ma (nettle), đậu ngáng bò g*i (Ononis Spinosa), đại kích (Euphorbia peplus), chi Rubus như dâu đen / mâm xôi đen (blackberry) và dâu rừng (raspberry), dương xỉ lưỡi ngựa (horse tongue/Asplenium scolopendrium), bài hương (hyssop/Hyssopus officinalis)
- Nhóm bụi: hoàng liên g*i (Berberis vulgaris), xuyên tâm liên / cây lá đắng (Andrographis paniculata), đậu chổi / kim tước (Cytisus scoparius), lý chua hay lý g*i (Ribes grossularia), chùm ruột (gooseberry/Phyllanthus acidus), táo ta / tổng quản sủi (alder buckthorn/Rhamnus frangula), huệ tây (wakerobin/Trillium erectum)
- Nhóm cây: me (tamarind), táo Tàu (Ziziphus jujuba), giáng hương đỏ (sandalwood/Pterocarpus santalinus), long não (Cinnamomum camphora), sơn tra / chua chát (hawthorn/Crataegus monogyna), cửu lý hương Bắc Mỹ (hoptree/Ptelea trifoliata), tiêu Jamaica (Pimenta officinalis), tuyết tùng trắng (Thuja occidentalis), hồng tùng (Pinus sylvestris), bách (Juniperus Sabina)
KIM NGƯU (ÂM) + THIÊN XỨNG (DƯƠNG) / KIM TINH
- Mô tả: Bất kỳ loại thảo mộc hay cây có mùi thơm, vị ngọt, màu sắc đậm một tông (Kim Ngưu) hay pha nhạt nhẹ nhàng (Thiên Xứng), không có g*i nhọn, lá cong không có răng g*i, các loại hoa có màu trắng / trắng sữa / vàng / vàng pha đỏ / đỏ / hơi pha nâu hoặc xanh lá (Kim Ngưu), hay xanh dương hoặc hồng nhạt (Thiên Xứng)
- Dược tính: tác động đến mũi, mùi vị, da dẻ, khuôn mặt, cổ, cuống họng, bộ phận sinh dục bên trong, vùng bụng, thận, tuyến ức, vú, hệ sinh hóa. Ảnh hưởng của Thiên Xứng tác động đến tuyến giáp, hệ nội tiết, thận và bọng đái.
- Nhóm hoa: hồng (rose), phong lữ (geranium), lệ xuân (poppy), phi yến (violet), bằng lăng (foxglove), các loại hoa thuộc dây leo (vine), cúc dại (daisy), hoa nhuộm (dyer's bugloss/Alkanna tinctoria), tầm xuân (Rosa canina), mào gà (Celosia cristata), thủy tiên / trường thọ (daffodil/Narcissus), hồng dại (wild rose)
- Nhóm dược thảo/củ: a-ti-sô (artichoke/Cynara scolymus), lúa mì (wheat/Triticum sp.), lá thận (kidneywort/Umbilicus rupestris), các loại đậu (beans), cơm cháy (elder berries/Sambucus nigra), cúc thơm chữa bệnh sốt (feverfew/Tanacetum parthenium), cỏ chân thỏ (Alchemilla vulgaris), ích mẫu (Leonurus cardiaca), bạc hà hăng (Mentha pulegium), mã đề (Plantago major), cúc ngải (tansy/Tanacetum vulgare), cỏ xạ hương (Thymus vulgaris), thường xanh dây leo (bearberry/Arctostaphylos uva-ursi), cỏ roi ngựa / mã tiên thảo (vervain/Verbena officinalis), dừa cạn lớn (Vinca major), cỏ thi / dương kỳ thảo / vạn diệp (yarrow/Achillea millefolium), mâm xôi đỏ (raspberry/Rubus idaeus), cỏ thầy tu (goutweed/Aegopodium podagraria), tú cầu lá sồi (Hydrangea quercifolia), ngưu bàng (burdock/gobo/Arctium sp.), cỏ băng (Elymus repens), ngọc trâm hoa / anh thảo hoa vàng / cối xay (Primula veris), cúc bạc (groundsel/Senecio vulgaris), cần nước (sanicle/Sanicula europaea), nhựa ruồi biển / mùi tàu (Eryngium maritimum), chút chít (sorrel/Rumex acetosa), bạc hà (spearmint/Mentha spicata), cỏ cổ họng xanh dương (blue throatwort/Trachelium caeruleum)
- Nhóm bụi: trà my (Camellia japonica), ma hoàng (Ephedra sinica), hoa vân anh / hoa lồng đèn (Fuchsia boliviana), tổng quả sủ đen (black alder/Alnus glutinosa), nho (grape)
- Nhóm cây: đào lông (peach/Prunus persica), xoài (Mangifera indica), xoan / sầu đâu (Azadirachta indica), anh đào ngọt (cherry/Prunus avium), táo (apple), tần bì (ash), thông / hoàng đàn / tùng / bách (cypress/junifer), bu-lô bạc (birch/Betula pendula), dũ sang (Guaiacum officinale), đá phong (sycamore/Acer pseudoplatanus), đinh hương (Syzygium aromaticum), hạnh nhân (almond/Prunus dulcis), hồ đào (pecan/Carya illinoinensis), lựu (pomegranate/Punica granatum), ô-liu (olive/Olea europaea)
SONG TỬ (DƯƠNG) + XỬ NỮ (ÂM) / THỦY TINH
- Mô tả: các loại cây có hoa nhỏ, hoa có màu sắc sáng / tươi hoặc đa sắc, xám hoặc xanh thẫm với bầu trời, mọc ở nơi đất cát khô cằn, hạt có vỏ cứng, ít hoặc không mùi thơm, hương vị pha lẫn hoặc hình dáng lai tạp lẫn lộn với các loài khác nhưng có đặc trưng riêng, lá thường mỏng, nhuyễn hoặc phân chia chằng chịt.
- Dược tính: Song Tử tác động lên hệ thần kinh, hệ hô hấp và các tuyến dịch liên quan, lỗ tai và khả năng nghe, lưỡi và khả năng nói, thanh quản, phổi và tuyến giáp, cũng như bờ vai, cánh tay và bàn tay. Xử Nữ chủ về vùng bụng, toàn bộ hệ tiêu hóa và ruột già.
- Nhóm hoa: lan chuông hay còn gọi là linh lan (lily of the valley), oải hương (lavender), hoa phổi (Verbascum nigrum)
- Nhóm dược thảo/củ: thìa là (dill/Anethum graveolens), kinh giới / húng tây trồng (Origanum majorana), kinh giới hoang / húng tây hoang (oregano/Origanum vulgare), long nha thảo / cỏ răng rồng / tiên hạc thảo (Agrimonia sp.), carum dầu (Carum carvi), thổ mộc hương / hướng dương dại (wild sunflower/Inula helenium), thìa là Trung Á / tiểu hồi hương (fennel/Foeniculum vulgare), cỏ ca-ri / hồ lô ba / khổ đậu (Trigonella foenum-graecum), bạch hà trắng đắng (Marrubium vulgare), mùi tây / ngò tây (parsley/Petroselinum crispum), cà rốt (carrot/Daucus carota subsp. sativus), cà rốt dại (Daucus carota), phong luấn (Calamintha grandiflora), rêu (coralline alga), rau diếp quăn (Cichorium endivia/C. intybus), cỏ ba lá chân thỏ (Trifolium arvense), dương xỉ đực (male fern/Dryopteris filix-mas), khoai ma (mandrake/Mandragora officinarum), kim cúc (pellitory/Anacyclus pyrethrum), ngân sài hồ (Stellaria dichotoma), ngân sài hồ Âu Châu (Stellaria graminea), ngân sài hồ nước (Callitriche palustris), sen đất (Lotus corniculatus / Lotus australis), nữ lang (Valeriana officinalis), kim tiền thảo (Lysimachia nummularia), hồi (anise/Pimpinella anisum)
- Nhóm bụi: cam thảo (licorice/Glycyrrhiza glabra), sim (myrtle/Myrtus communis), móng quỷ (devil's claw/Harpagophytum procumbens), phỉ (hazelnut/Hamamelis virginiana), kim ngân châu Âu (honeysuckle/Lonicera periclymenum), kim ngân Nhật (Lonicera japonica), húng mùa đông / hoa môn (savory/Satureja montana), trinh nữ (chasteberry/Vitex agnus-castus), đỗ quyên (Azaleas), xạ đỏ / bách giải đỏ (American bittersweet/Celastrus scandens), đại hoàng (cascara/Rhamnus purshiana), ngải bụi / ngải đắng / ngải áp xanh (southernwood/Artemisia abrotanum), ngải thơm / thanh cao rồng (Artemisia dracunculus)
- Nhóm cây: các loại cây cho hạt (nut), phỉ Balkan (hazelnut/Corylus maxima), đà sừng Mỹ (ironwood/Carpinus caroliniana), dâu tằm (mulberry/Morus nigra)
CỰ GIẢI / MẶT TRĂNG:
- Mô tả: các loại cây mềm do giàu chất nhựa / mọng nước / tích nước nhiều trong thân / lá / trái / củ, các loại cây thủy sinh hoặc sống trong khu vực ẩm ướt / bờ sông / suối / hồ, chịu bóng râm, bông / trái / thân hoặc lá có màu trắng nhạt, hồng/tím/vàng/xanh lá cây nhạt hoặc pha trộn màu xám/bạc, có thể sống bám ký sinh vào thân cây khác
- Dược tính: tác động vào cảm xúc hay tiềm thức (co giật, động kinh), sự kén ăn hay háu ăn, hệ tiêu hóa trên như thực quản, bao tử, hệ sinh dục phụ nữ như vú, tử cung và buồng trứng, mọi quá trình bài tiết dịch trong cơ thể bao gồm kinh nguyệt (thất thường, mãn kinh) / tuyến nước mắt hay tuyến mồ hôi.
- Nhóm hoa: ô rô (acanthus sp.), các loại bông súng (water lily/Nymphaeaceae sp.), huệ tây (Erythronium dens-canis), diên vĩ tím / iris (Iris germanica/Iris sp.), tị hoa (Rhinanthus minor), thập tự hoa / quế trúc (wallflower/Erysimum), anh túc trắng (Papaver anomalum), hồ nhi (Saxifraga paniculata), hoa móng tay (Draba verna) và các loại hoa dại khác nở hoặc tỏa hương vào ban đêm
- Nhóm dược thảo/củ: cải xoong (watercress/Nasturtium officinale), bắp cải (cabbage/Brassica oleracea), xà lách (Lactuca sativa), dưa leo (cucumber), các loại bầu (Lagenaria siceraria/Crescentia cujete/Cucurbita ficifolia), các loại bí (pumpkin/Cucurbita pepo), các loại dưa (melon/Cucumis sp.), bát bảo (orpine/Sedum telephium/Hylotelephium), thủy bồn thảo (Sedum sarmentosum), tinh thảo (chickweed/Stellaria media), xô thơm Clary (Salvia sclarea), cỏ chổi / xỉ lân thảo (Lathraea squamaria), cải đắng san hô (coralwort/Cardamine bulbifera), cúc cu (Cardamine pratensis), bèo tấm tía (Spirodela polyrhiza), bài hương (hyssop/Hyssopus officinalis), lộc mại / rau mọi / sơn diện / chàm núi (Mercurialis indica / Mercurialis sp.), âm địa (Botrychium), các loại nấm (mushroom), cỏ ngọc trai (Sagina sp.), rau sam (Portulaca oleracea), các loại rong / tảo biển (seaweed/algae), củ cải (turnip/Brassica rapa subsp. rapa), rạch tả / rau mác / từ cô (arrowhead/Sagittaria sp.), tuyết hoa thảo (water violet/Hottonia palustris),
- Nhóm bụi: Trà điều thụ / Lục đạo mộc TQ / Kim ngân (Abelia chinensis), xuyên tâm liên / cây lá đắng (Andrographis paniculata), trà New Jersey (Ceanothus americanus), chua ngút / chua meo / thùn mũn / phi tử (Embelia ribes), gỗ hoàng dương Mỹ (Cornus florida), nữ trinh / râm / giam / thủy lạp (privet/Ligustrum sp.), châu thụ (wintergreen/Gaultheria procumbens)
- Nhóm cây: hương thảo (rosemary/Rosmarinus officinalis), cọ acai (Euterpe oleracea), chim câu / củng đồng (Davidia involucrata), tua / thiết tuyến liên (fringe/Chionanthus virginicus), quạ g*i (Aralia elata), dái ngựa (Swietenia mahagoni), lê (Pyrus calleryana), dương liễu (Salix sp.), phong (maple/Acer sp.), ô-liu (olive/Olea europaea), các loại cọ (palm) hay dừa (coconut)
SƯ TỬ / MẶT TRỜI:
- Mô tả: các loại cây ưa ánh sáng mặt trời trực tiếp, có hoa hoặc trái thường màu cam, vàng, đỏ hoặc tím tươi, vị chua và ngọt, thơm nồng, có khi hơi đắng, nói chung hương vị / màu sắc hay hình dáng có xu hướng mang tính mạnh mẽ, đậm đà, nổi bật, gây ấn tượng
- Dược tính: có lợi cho tim mạch, hệ tuần hoàn, cũng như cột sống, tuyến ức và đôi mắt.
- Nhóm hoa: hướng dương (sunflower), vạn thọ / cúc kim tiền (marigold/Calendula officinalis), cúc thược dược (dahlia), hương thảo (rosemary/Rosmarinus officinalis), cúc (chamomile/Asteraceae sp.), cúc quỳ (Chrozophora tinctoria), thược dược Balkan (Paeonia mascula), anh túc / á phiện bông đỏ (Papaver sp.), gọng vó / ăn thịt (sundews/Drosera sp.), phiến lộ đỏ (pimpernel/Anagallis arvensis)
- Nhóm dược thảo/củ: lúa gạo (Ozyra sp.), lúa mạch (Hordeum vulgare L.), gừng (ginger), quế (cinnamon), cam tùng / nhân sâm Mỹ (spikenard/Aralia racemosa/Nardostachys jatamansi), đương quy (Angelica archangelica), bạch khuất hai lá lớn (Chelidonium majus), sáng mắt (Euphrasia rostkoviana), bách xù (Juniperus communis), cần núi (Levisticum officinale), cửu lý hương / vân hương (rue/Ruta graveolens), cỏ ban (Hypericum perforatum), cỏ trĩ (Ranunculus ficaria L.), cỏ chét (tormentil/Potentilla erecta), xạ cúc (Centaurium sp.), rong đuôi chồn (Ceratophyllum sp.), nghệ tây (saffron/Crocus sativus), vòi voi g*i xanh (viper's bugloss/blueweed/Echium vulgare), nghể bun / nghể răm / thủy liễu / rau đắng (smartweed/Polygonum persicara/P. hydropiper L./P. odoratum/P. amphibia/P. aviculare), (chi) vòi voi / dền voi / thiên giới thảo (Heliotropium indicum L.), se / bó gãy xương (Symphytum officinale), ích mẫu (Leonurus cardiaca)
- Nhóm bụi: thanh mai (bayberry/Myrica cerifera), dái ngựa lá cuộn (Cercocarpus ledifolius), tre trúc (Arundinaria sp.)
- Nhóm cây: cam chanh (orange/Citrus sp.), nguyệt quế Hy Lạp (Laurus nobilis), các loại dừa/cọ/cau (palm/Phoenix sp.), tần bì (ash), hồ đào đen (Juglans nigra), máu rồng (Croton lechleri), trầm hương trắng (Boswellia thurifera), trầm hương vàng (Boswellia serrata), hương trầm (Boswellia sacra), dó trầm (Aquilaria sp. / Gyrinops sp.), dồi / xúc xích (Kigelia africana), tuyết tùng / bách hương / bá hương (Cedrus sp.), phong ba (Heliotropium foertherianum)
BỌ CẠP / HỎA TINH (ÂM) + DIÊM VƯƠNG TINH
- Mô tả: các loại cây cỏ chung nhóm hoặc có hình dạng giống như của Dương Cưu/Hỏa Tinh, nhưng gam màu sắc tối sẫm hơn, g*i dài hơn, mọc ở nơi âm u / ướt át / tránh nắng dưới tán của các cây khác, mùi vị sâu sắc và phức tạp.
- Dược tính: thường có độc tính, có khả năng kích dục mạnh mẽ hoặc giúp cân bằng giữa thể chất và tinh thần của con người ("cải lão hoàn đồng", "lấy độc trị độc" v.v...), tác động lên hệ sinh dục và ruột già, bài tiết (đại tiện), quá trình đồng hóa (anabolism) và dị hóa (catabolism), sự hủy hoại và tái sinh của tế bào cơ thể. Bệnh tật liên quan đến Bọ Cạp thường là sự tích tụ chất độc trong cơ thể (ung thư) hay trong tinh thần (giận dữ, ganh tị).
- Nhóm dược thảo/củ/cây: các loại cây có bụi, các loại cây cho hạt (nut), các loại nấm, húng xạ (Marrubium vulgare), hành lá (leek/Allium sp.), bọ mẩy / tùng lam / đại lam (Isatis tinctoria), ngải đắng / ngải cứu (Artemisia absinthium), thông đỏ (yew/Taxus baccata), phụ tử / bả độc chó sói (wolfsbane/Aconitum sp.), cà dược (Atropa belladonna), giáng hương đỏ (sandalwood/Pterocarpus santalinus), cọ lùn (Serenoa repens)
- Nhóm bụi: bông giấy (Boug*invillea glabra), đông hầu (Turnera diffusa), dâm dương hoắc (Epimedium grandiflorum), mận g*i (blackthorn/Prunus spinosa)
NHÂN MÃ / MỘC TINH (DƯƠNG):
- Mô tả: các loại cây có hoa màu hồng / xanh dương / xanh lam biển / tím hoàng gia / tro hoặc hỗn hợp giữa màu vàng và xanh lá cây, cây hoặc hoa quả có mùi thơm hoặc ngọt ngào, mùi thơm nhẹ dễ chịu và không nồng nặc, thường có lượng khoáng cao (silica)
- Dược tính: thúc đẩy suy nghĩ theo hướng tích cực, lạc quan và mở rộng, thoải mái tinh thần, tác động đến phần eo, bắp đùi, phần dưới của cột sống, cơ quan lớn nhất trong cơ thể là lá gan, hệ thần kinh thực vật, các quá trình tăng trưởng và bảo tồn. Bệnh tật liên quan đến Nhân Mã thường là do ăn uống không điều độ dẫn đến dư thừa hoặc thiếu chất trong cơ thể, ví dụ như gút hay mụt nhọt do nóng gan.
- Nhóm hoa: nhài thường / lài (Jasminum officinale), đinh hương (Syzygium aromaticum), hoắc hương (betony/Betonica officinalis), xạ cúc / bách kim / long đờm (Centaurium erythraea), thượng thùy (Epilobium hirsutum), phi yến / hoa tím ngọt (sweet violet/Viola odorata), thường xuân (Hedera helix)
- Nhóm dược thảo/củ: yến mạch (Avena sativa), các loại dương xỉ (Polypodium sp.), long nha thảo / cỏ răng rồng / tiên hạc thảo (Agrimonia sp.), bài hương (hyssop/Hyssopus officinalis), bồ công anh (dandelion/Taraxacum officinale), tía tô đất (Melissa officinalis), râu dê / nữ hoàng đồng cỏ (Filipendula ulmaria), bạc hà hoa tím / trà Oswego (Monarda didyma), vòi voi / lưỡi bò / hoa sao (starflower/Borago officinalis), xô thơm (Salvia officinalis), thập tự hoa / quế trúc (wallflower/Erysimum cheiri), dâu tây dại (Fragaria vesca), phong lữ cay / gia vị balsam (costmary/Balsamita vulgaris), lanh (flax/Linum usitatissimum), nghể bun / nghể răm / thủy liễu / rau đắng (smartweed/Polygonum persicara/P. hydropiper L./P. odoratum/P. amphibia/P. aviculare), lam cận (Fumaria officinalis), cỏ chữa hen suyễn (lungwort/Sticta pulmonaria), kinh giới hoang / húng tây hoang (oregano/Origanum vulgare), đại hoàng giả / đại hoàng lai (Rheum rhaponticum), hạ khô thảo / thuốc tự chữa bệnh (Prunella vulgaris L.), kim điền thảo / cỏ tai thỏ (Bupleurum rotundifolium), đình lịch (flixweed/Descurainia sophia), địa y lá gan (Peltigera canina), húng quế (basil/Ocymum basilicum), bạc hà (mint/Mentha spicata), cúc thường (common daisy/Bellis perennis), cúc thơm chữa bệnh sốt (feverfew/Tanacetum parthenium), nghệ tây (saffron/Crocus sativus), cải ốc tai (Cochlearia officinalis)
- Nhóm bụi: mía (Saccharum officinarum), việt quốc đen / nham lê (Vaccinium myrtillus), lạp mai Florida (Calycanthus floridus), sung Mỹ (fig/Ficus carica), trà / chè (Camellia sinensis), cà độc dược (Datura stramonium), lộc đề (Gaultheria procumbens), mẫu đơn (Paeonia officinalis), cam thảo (licorice/Glycyrrhiza glabra), nhũ hương (mastic/Pistacia lentiscus), hoàng liên g*i (Berberis vulgaris), lý chua hay lý g*i (gooseberry/Ribes grossularia), tầm bì lùn (Fraxinus ornus), nho thường (Vitis vinifera)
- Nhóm cây: chanh vàng (lime/Citrus limonum), dâu tằm (mulberry/Morus nigra), tần bì (ash), sồi (oak), bạch sồi (Quercus alba), bạch dương (birch), đào lộn hột (Anacardium occidentale), dẻ ngựa (chestnut/Aesculus hippocastanum), nhục đậu khấu (mace/Myristica fragrans) chà là (Phoenix dactylifera), linh sam (Abies balsamea), ổi (Psidium guajava), me (Tamarindus indica), lựu (pomegranate/Punica granatum), trâm mốc / trâm vối / vối rừng (Syzygium cumini), đoạn Mỹ (Tilia americana), phong (maple/Acer sp.), mộc lan (Magnolia virginiana), tếch / giá tỵ (Tectona grandis), vông nem / vông mào gà / ô môi / osaka đỏ / đậu san hô đỏ (coral tree/Erythrina fusca), ô-liu (olive/Olea europaea), hạnh nhân (almond/Prunus dulcis)
NGƯ DƯƠNG / THỔ TINH (ÂM):
- Mô tả: cây cỏ có hoa, lá, củ hoặc trái có màu sắc đậm buồn như màu tro / xanh / tím / nâu đen hoặc đen, vị chua / đắng / mặn / nồng, toát ra vẻ hoặc mọc nhô lên ở nơi lạnh lẽo / khắc nghiệt / khô cằn / sa mạc / cheo leo / trơ trọi, có tính chịu đựng / đối phó rõ rệt với môi trường khó khăn hoặc ô nhiễm / chịu đất xấu, có tính bám víu / bám dính / quấn quít / xuyên thấu
- Dược tính: thường có độc tính cao, chứa nhiều canxi (calcium), có tác dụng làm trụ vững / chậm lại / kìm hãm / trì trệ (quá trình sinh hóa trong cơ thể động vật hay tăng trưởng của các thực vật khác), tác động đến hình dạng thể xác con người như bộ xương, da, hàm răng, khớp và đầu gối. Nhiều cây thuộc nhóm Ngư Dương có thể chữa thấp khớp, viêm khớp, hoặc giúp làm chậm quá trình lão hóa.
- Nhóm hoa: thỷ xa cúc / thỷ xa cúc lớn (Centaurea cyanus/C. scabiosa), hồng hoa / rum (Carthamus tinctorius), hoa bướm (pansy), cần nước (hemlock), thường xuân (Hedera helix)
- Nhóm dược thảo/củ: cần sa (Cannabis sativa), kỳ nham / bả gà (Hyoscyamus niger), cỏ tháp bút / mộc tặc (Equisetum arvense), long nha thảo / cỏ răng rồng / tiên hạc thảo (Agrimonia sp.), kim sa (Arnica montana), các loại cà và ớt (họ Solanaceae), các loại dương xỉ (fern/bộ Polypodium), dương xỉ lá lách (spleenwort/Asplenium ceterach), dương xỉ ổ tròn (Polypodium vulgare), cà dược (Atropa belladonna), lam cận (Fumaria officinalis), xương tím (Jopi weed/Eutrochium purpureum), rau nghể (Polygonum aviculare), rau diếp quăn (Cichorium endivia/C. intybus), lúa mạch (Hordeum vulgare L.), dâm dương hoắc (Epimedium sp.), lê lư đen / hồng thánh độc (Helleborus niger), lê lư xanh lá cây (Helleborus viridis), lê lư / trị bệnh điên (Herniaria glabra), se / bó gãy xương (Symphytum officinale), thiến thảo (Cruciata laevipes), lanh (flax/Linum usitatissimum), cỏ tai hùm / cổ bồng / ngải dại (Conyza canadensis), mã đề (Plantago major), diên vĩ nhụy tím cánh trắng (Iris foetidissima), rêu (moss), cần nước (hemlock), nấm mèo (Auricularia auricula-judae), khoai ma (mandrake/Mandragora officinarum), củ cải ngọt (Beta vulgaris), củ cải vàng (Pastinaca sativa), núm rốn (Umbilicus rupestris), cửu lý hương / vân hương (rue/Ruta graveolens), đăng tâm thảo / cỏ bấc đèn (Juncus effusus), lúa mạch đen / hắc mạch (Secale cereale), cỏ ban / trị đau lưng và thần kinh tọa (Hypericum perforatum), tề thái / cỏ tâm giác (Capsella bursa-pastoris), rau nhà chùa / cải bó xôi (spinach/Spinacia oleracea), cỏ roi ngựa / mã tiên thảo (vervain/Verbena officinalis), bách hợp lùn / bạch kỳ mã / cỏ tinh tú (Chamaelirium luteum), phụ tử / bả độc chó sói (wolfsbane/Aconitum sp.), ké đầu ngựa (Xanthium strumarium), gôm cây rồng / gôm Tragacanth (Astragalus gummifer), bìm bìm trắng / loa kèn / khiên ngưu (Convolvulus sepium), đương quy (Angelica archangelica), xô thơm (Salvia officinalis), rau sam biển (Atriplex hortensis), thì là Ai Cập (Cuminum cyminum), phan tả diệp lá hẹp (Cassia angustifolia)
- Nhóm bụi: xuyên tâm liên / cây lá đắng (Andrographis paniculata), cô-ca (Erythroxylum coca), vót / hoa tú cầu (Viburnum opulus), mã tiền lông (Strychnos ignatia), mộc qua (Cydonia oblonga), hoàng tinh / củ cây cơm nếp (Polygonatum multiflorum), sơn tra (medlar/Mespilus germanica), keo (Senna alexandrina), mận g*i (blackthorn/Prunus spinosa), thanh liễu (Tamarix sp.), thông đỏ (yew/Taxus baccata), hoàng dương châu Âu (Buxus sempervirens), ban tutsan (Hypericum androsaemum), bạch hoa (Capparis spinosa)
- Nhóm cây: hạnh nhân (almond/Prunus dulcis), một dược / nhựa thơm mecca (Commiphora opobalsamum), thông (pine), liễu hoa vàng (Salix caprea), du (elm/Ulmus sp.), dương hoặc phong (poplar), bạch quả (Ginkgo biloba), nhựa ruồi (Ilex aquifolium / I. paraguariensis), bồ đề (Ficus religiosa), dẻ g*i (beech/Fagus sp.), châu thụ (wintergreen/Gaultheria procumbens), thông / hoàng đàn / tùng / bách (cypress/junifer), liễu (willow)
BẢO BÌNH / THỔ TINH (DƯƠNG) + THIÊN VƯƠNG TINH:
- Mô tả: tương tự như các loại cây bên nhóm Ngư Dương / Song Tử / Xử Nữ nhưng có xu hướng dễ bị lai tạp, dễ được cấy ghép, độc đáo
- Dược tính: tạo thêm sinh lực và kích thích sự tỉnh táo và sảng khoái về tinh thần / tâm linh (Nhân Mã) như quế, đinh hương, khuynh diệp v.v... tác động đến hệ sinh điện (bioelectrical system) như các giao điểm trao đổi luồng tín hiệu của thần kinh trong cơ thể, hạ vị như bàn chân và gót chân. Bệnh tật liên quan đến Bảo Bình thường là căng thẳng hay mỏi mệt về thần kinh do biến động môi trường xung quanh.
- Nhóm hoa: các loại hoa lan, hoa rồng (Dracunculus vulgaris)
- Nhóm cây: cà phê (Coffea arabica), khuynh diệp cầu (Eucalyptus globulus), nhựa ruồi (Ilex paraguariensis), lim / lôi khoai Mỹ (Gymnocladus dioicus), lim xanh / lim lửa / lôi khoai Việt Nam (Gymnocladus angustifolius), đậu Carob (Ceratonia siliqua), hạt Kola (Kola vera), các loại cây cho hạt và hầu hết cây ăn quả
SONG NGƯ / MỘC TINH (ÂM) + HẢI VƯƠNG TINH:
- Mô tả: tương tự như các loại cây bên nhóm Cự Giải / Nhân Mã / Kim Ngưu / Thiên Xứng, có màu sắc / thổ địa nghiên về nước / biển / đại dương
- Dược tính: có tác dụng an thần / gây nghiện / tạo ảo giác / làm mơ màng / gây lú lẫn / làn phân rã. Bệnh tật liên quan đến Song Ngư tác động đến phổi (viêm phổi, ho lao), động kinh và các thương tích ở vùng chân.
- Nhóm hoa: súng (water lily), hoa bia / húp lông (Humulus lupulus)
- Nhóm dược thảo/củ: nấm mốc, men, thuốc lá, cà phê, ma túy, nấm độc, cà chua, các loại rong biển, vải cotton, hoàng cầm (Scutellaria baicalensis), chó dại / cỏ long ba / cỏ long ba Virginia (Scutellaria lateriflora)
- Nhóm bụi: bồ đề nhựa / bồ đề vỏ đỏ / an tức (Styrax benzoin)
- Nhóm cây: sung Mỹ (fig), liễu (willow)
Mặc dù chúng ta không thể chọn lựa "ngày sinh" của mình, dự đoán chiêm tinh giúp người làm nông chọn ra công việc nào tốt nhất để thực hiện, thường là cho một khoảng thời gian nào đó. Ví dụ, Sư Tử là tuổi Hoàng Đạo rất "nguy hiểm" khi cầm kéo, và không nên để họ tự do trong vườn để tỉa cây. Trong khi đó, người ta sẽ muốn van nài các Xử Nữ để dạy cho họ cách dọn dẹp gọn gàng bụi cây mọc um tùm sát bờ tường. Và hoạt động trồng trọt diễn ra dưới những ngày nhất định trong tháng qua chuyển động của một "hành tinh" gần gũi nhất mà người ta có thể dễ dàng quan sát trên bầu trời: Mặt Trăng. Người ta sẽ không trồng xuống bất kỳ cái gì trừ khi Mặt Trăng đi vào một dấu hiệu thuận lợi. Vì trọng lực của Mặt Trăng tác động lên thủy triều, nên người ta cũng tin rằng nó tác động lên sự tuần hoàn của nước và nhựa trong thân cây.
Cũng giống như cơ thể của một con người, Mặt Trăng di chuyển từ phần "đầu" ở cung Hoàng Đạo Dương Cưu và kết thúc ở phần "chân" trong cung Song Ngư, và chu kỳ tiếp tục lập lại. Các dấu hiệu Hoàng Đạo sẽ cho thấy tính chất "màu mỡ" hay "cằn cỗi", "ẩm ướt", "ngập lụt", "khô khan" hay "nóng nảy" v.v...
Người xưa luôn chọn ngày "màu mỡ" để bắt đầu gieo giống hay trồng trọt, và có 14 ngày như thế trong mỗi tháng. Các ngày tốt cho người trồng cây là khi Mặt Trăng đi qua các dấu hiệu hành Thủy (nước) hay hành Thổ (đất) như Cự Giải, Bọ Cạp, Song Ngư hay Kim Ngưu. Nên tránh các ngày "cằn cỗi" để trồng trọt mà những ngày đó sẽ tốt cho việc dọn dẹp, cắt tỉa, giết chóc hay phá hủy. Ở một số địa phương, người xưa cũng tránh trồng trọt vào ngày Chủ Nhật, vì trong tiếng Anh, ngày Chủ Nhật gọi là "Sunday" hay "day of the Sun" (ngày của Mặt Trời) nên đây là ngày "cằn cỗi" và "nóng nực". Khi cắt tỉa hay ghép cây, họ cũng tránh phần "Đầu" và "Tim" của cây vì họ cho rằng điều đó sẽ làm cho cây bị chết.
Ý nghĩa của các dấu hiệu Hoàng Đạo khi Mặt Trăng đi qua để làm nông như sau:
Dương Cưu: tốt để cày bừa, đánh tơi, xới đất, tiêu diệt sâu bệnh và cỏ dại. Tốt cho hoạt động thu hoạch và bảo quản. Mặc dù là dấu hiệu "cằn cỗi", nhưng có thể sử dụng thời gian này để trồng hành hoặc tỏi.
Kim Ngưu: một trong những thời gian tốt nhất cho việc cấy hay gieo trồng vụ mới nói chung, đặc biệt là các vụ rễ như khoai tây hay khoai mì, hoặc những giống cây đòi hỏi sự chịu đựng cao. Cũng là thời gian tốt cho các loại rau như bắp cải, diếp hay sà lách.
Song Tử: là dấu hiệu "cằn cỗi", tốt cho việc xới đất, bón phân, diệt sâu bệnh và dọn dẹp cỏ dại. Tốt cho hoạt động thu hoạch và bảo quản. Tác động tốt cho hạt của các loại dưa.
Cự Giải: đây là dấu hiệu "mầu mỡ" tốt nhất trên vòng Hoàng Đạo, cực kỳ thuận lợi cho mọi hoạt động trồng trọt, tưới bón hay cấy ghép. Hạt giống gieo trong thời gian này sẽ nhanh chóng nảy mầm, phát triển tốt và thu hoạch dồi dào.
Sư Tử: không tốt cho việc trồng trọt, bứng lên hay cấy ghép vì khó nảy mầm hay đâm chồi, nhưng tốt cho việc dọn dẹp cỏ dại, diệt sâu bệnh, hoạt động thu hoạch và bảo quản.
Xử Nữ: là dấu hiệu "cằn cỗi", tốt cho việc xới đất, bón phân, diệt sâu bệnh và dọn dẹp cỏ dại, mặc dù vần tác động thuận lợi cho một số loại hoa và dây leo.
Thiên Xứng: là một dấu hiệu "mầu mỡ" mạnh mẽ, tốt cho việc trồng các loại hoa đẹp, thơm tho hay những gieo những giống cây bên trên mặt đất, nhất là thảo mộc, dây leo hoặc cây có thân dày. Gieo củ hay khoai cũng có thể được.
Bọ Cạp: là dấu hiệu "mầu mỡ" tốt thứ nhì kế Cự Giải, thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây trên (lấy quả) hay dưới mặt đất (để lấy củ, rễ) và mọi cây ăn trái, nhất là những cây mạnh khỏe giỏi chịu đựng. Rất tốt cho các hoạt động trồng trọt liên quan đến cà chua, ngô/bắp và bầu/bí. Hợp với việc cắt tỉa, cấy ghép sau ngày Trăng Rằm và Hạ Tuần để làm chậm phát triển của lá và đẩy mạnh chất lượng quả. Tốt cho việc tưới bón, cấy ghép hay bứng chuyển.
Nhân Mã: là dấu hiệu "cằn cỗi" và nóng nảy, dùng để xới đất và bón phân, nhưng có thể trồng ớt, hành, tỏi hay các loại cây ăn trái. Hợp với việc thu hoạch rễ, củ.
Ngư Dương: là dấu hiệu ẩm ướt và hiệu quả, thuận lợi phát triển trong môi trường khắc nghiệt, tốt cho việc phải quỳ xuống và gieo giống sâu dưới mặt đất như khoai tây hay các loại rễ khác. Tốt cho việc cấy ghép, cắt tỉa để chữa lành và thúc đẩy, cũng như bón phân.
Bảo Bình: là dấu hiệu "cằn cỗi" và khô khan, tốt cho việc xới đất, bón phân, diệt sâu bệnh và dọn dẹp cỏ dại. Có thể trồng củ hành, hoặc thu hoạch rễ và trái cây để bảo quản.
Song Ngư: là dấu hiệu "mầu mỡ" tốt cho việc trồng trọt mọi loại vụ mùa, đặc biệt là cây ăn trái, búp và rễ. Gieo giống, bứng chuyển hay bón phân cũng tốt.
Ngoài ra, chu kỳ Mặt Trăng cũng được xem xét cùng với vị trí của nó trên vòng Hoàng Đạo. Ví dụ, mọi giống cây có thu hoạch bên trên mặt đất nên được trồng từ ngày Trăng Non đến trước ngày Rằm khi Mặt Trăng bắt đầu tròn (waxing), trong khi những giống cây có thu hoạch dưới mặt đất (rễ, khoai) thì nên được gieo xuống sau ngày Rằm trở đi khi Mặt Trăng khuyết dần mỗi ngày (waning). Trồng trọt cũng phải tránh ngày đầu tháng và những ngày thượng tuần và hạ tuần như mùng 7, 14, 23 vì đây là những ngày Mặt Trăng thay đổi hình dạng trên bầu trời.
Nên gieo hạt, cấy ghép thân cây có lá hoặc trồng trọt những cây có "hạt bên ngoài trái" như dâu, bắp, đào lộn hột ... vào khoảng thời gian giữa Trăng Non và Thượng Tuần (mùng 7), trong khi từ mùng 7 cho đến ngày Rằm thì nên gieo hạt, trồng hay cấy ghép những cây có "hạt bên trong trái". Từ Rằm trở đi thì trồng các loại cây có búp, rễ. Không nên trồng xuống gì cả trong thời gian từ Hạ Tuần (mùng 23) đến Trăng Non, vì đây là thời gian tốt nhất để cày xới, bón phân, phát quang, diệt cỏ dại, đốn bớt những cây không cần thiết, nhất là khi Mặt Trăng đi vào dấu hiệu "cằn cỗi" như Song Tử, Sư Tử hay Xử Nữ.
Thu hoạch tốt nhất cũng là thời gian sau ngày Trăng Rằm, giúp cho bông trái giữ được tốt hơn và lâu hơn. Trái cây hái xuống sau ngày Rằm sẽ có xu hướng khô lại những "vết thương" bị cứa hay dập thay vì bị thối. Cũng vậy, trái cây, ngũ cốc và rau quả KHÔNG NÊN thu hoạch khi Mặt Trăng ở các cung hành Thủy hay Trăng Non, vì chúng sẽ dễ bị hư hoặc nảy mầm. Các vụ mùa để thu hoạch rễ hay khoai tốt nhất là được thực hiện khi Mặt Trăng ở Ngư Dương hay Song Ngư (chủ về "đầu gối" và "bàn chân").
Mặc dù những phương pháp trên đây chưa được kiểm chứng hay bác bỏ bởi "khoa học", nhiều người đã thành công khi áp dụng những phương pháp này. Nếu bạn muốn trồng cây hay làm nông bằng cách quan sát Mặt Trăng di chuyển trên các dấu hiệu Hoàng Đạo, bạn có thể tạm thời sử dụng công cụ "Tình Hình Bầu Trời Bây Giờ" trên www.choichiemtinh.com/.net để theo dõi Mặt Trăng, hoặc đánh dấu một số ngày cần thiết trên cuốn lịch treo tường của bạn có hiển thị ngày âm lịch. Tôi cũng sẽ ra mắt một công cụ khác để giúp công việc này trở nên dễ dàng hơn, dự tính là trong tháng 4/2015.
[CCT]
* Ảnh minh họa: Yang Zeng (C) 2014
Phiên bản 1.0.1, xuất bản lần đầu ngày 22/3/2015 bởi Chòi Chiêm Tinh (https://www.facebook.com/choichiemtinh)
GPL: Bạn được quyền sao chép trang này nhưng nhớ để tên tác giả và link về trang Chòi Chiêm Tinh này bên dưới. Chân thành cám ơn!