Can thiệp Bình Minh Yên Mô

Can thiệp Bình Minh Yên Mô

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Can thiệp Bình Minh Yên Mô, Educational consultant, Đường Tỉnh 480C, Huyện Yên Mô, Ninh Bình.

03/11/2021

VÌ SAO TRẺ KHÔNG TẬP TRUNG❓❓

Trẻ trong độ tuổi từ 3 – 6 tuổi mất tập trung trong một khoảng thời gian dài hơn 13 phút là chuyện hết sức bình thường. Tuy nhiên, nếu ngay cả trong một khoảng thời gian rất ngắn trẻ cũng không tập trung được hoặc con của bạn đang ở độ tuổi 6 – 10 mà sự tập trung của bé cũng không hề được cải thiện chút nào so với giai đoạn trước, hãy xem xét đến những nguyên nhân dưới đây:

1. Chế độ dinh dưỡng nghèo chất sắt 🤤
Bạn có biết rằng, mất tập trung, chân tay bồn chồn, không thể ngồi yên trên ghế cũng là một trong những dấu hiệu chứng tỏ bé của bạn đang có một chế độ dinh dưỡng nghèo chất sắt.
Nhiều trẻ thường được bố mẹ cho ăn quá nhiều thức ăn chứa hàm lượng đường cao như bánh kẹo công nghiệp hay đồ ăn nhanh trong khi rất ít thực phẩm tươi như rau xanh, trứng hay sữa để bổ sung sắt. Thiếu sắt gây mệt mỏi thể chất, giảm chú ý, làm mất tập trung và gây ra những vấn đề về trí nhớ.

2. Không được ngủ đủ giấc 😴
Trẻ em cần ngủ từ 10 đến 11 tiếng mỗi ngày. Cũng giống như người lớn chúng ta khi không được ngủ đủ giấc sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, trẻ cũng sẽ có những biểu hiện giảm chú ý, trí nhớ kém hay hiếu động thái quá vào ban ngày nếu giấc ngủ không được đảm bảo về thời gian và chất lượng.

3. Sử dụng quá nhiều thiết bị công nghệ 📱
Một số cha mẹ thường xuyên cho con sử dụng các thiết bị công nghệ thông minh như iPad, smartphone. Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, ánh sáng xanh phát ra từ tivi, máy tính, máy tính bảng hay điện thoại có thể phá vỡ nhịp sinh học, làm ảnh hưởng đến giấc ngủ đồng thời tia bức xạ từ những thiết bị đó sẽ làm giảm khả năng phát triển não bộ của trẻ, khiến trẻ tiếp nhận thông tin thụ động và dễ bị xao nhãng.
Một nguyên nhân khác cũng rất quan trọng đến từ phương pháp dạy con của nhiều bậc phụ huynh, đó là tạo cho con những thói quen mất tập trung từ khi con còn rất nhỏ: vừa ăn vừa chạy chơi, vừa ăn vừa xem tivi, vừa viết bài vừa ăn vặt hay nói chuyện…
Một số trẻ không thể tập trung do thiếu tính kỷ luật mà phần lớn là do cha mẹ không uốn nắn con kiên trì, bé có thể bỏ dở giữa chừng mọi việc bất cứ khi nào bé muốn, lâu dần trở thành thói quen. Những việc làm này đôi khi xuất phát từ những mục đích tốt như muốn con ăn ngoan hơn, muốn con ngồi ngoan, không muốn ép con nhưng vô tình khiến con hình thành thói quen không tập trung làm một việc từ đầu đến cuối và càng lớn sẽ càng khó cải thiện.

4. Không gian hoạt động gây xao nhãng 🏞
Cuối cùng, cha mẹ hãy kiểm tra lại không gian hoạt động của bé tại nhà như phòng học, phòng ngủ, khu vui chơi… Không gian của bé có quá nhiều âm thanh, nhiều người qua lại, không đủ gọn gàng, sạch sẽ, thoáng mát cũng có thể là những nguyên nhân khiến bé khó tập trung, dễ xao nhãng sẽ ảnh hưởng đến não bộ của bé, có thể khiến trẻ bồn chồn, bứt rứt rất khó để tập trung dù khi vui chơi hay trong khi học.
Nguồn: sưu tầm





Tư vấn liên hệ: cô Thương 0981387854

12/10/2021

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU HOÀ CẢM GIÁC
1. ☺️Điều hòa thị giác
Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động như vẽ, sơn màu, cắt, xâu, nặn...
Bất kỳ hoạt động nào đòi hỏi trẻ phải nhìn mắt để định hướng cho bàn tay là những lựa chọn tốt. Tăng cường sử dụng giao tiếp mắt khi nói với trẻ và cung cấp thêm những tín hiệu bằng lời nói.
Những trò chơi có ánh chiếu sáng hoặc đồ chơi có ánh đèn rất có ích vì tác động mạnh vào thị giác và tương phản. Cần cho trẻ ở phòng nhỏ để giúp trẻ tập trung vào hoạt động.

2. ☺️ Điều hòa thính giác

Âm thanh có cường độ cao và đột ngột sẽ kích thích hệ thống thính giác của trẻ: bài hát nhịp bất thường hoặc kết hợp giữa bài hát nhanh và chậm. Tăng âm lượng và giọng khi nói với trẻ. Có thể để trẻ ở gần nguồn âm thanh sẽ giúp giảm những yếu tố gây nhiễu. Giúp trẻ giảm độ nhậy với các âm thanh bất thường. Mục đích: Tăng cường độ tập trung. Mỗi trẻ sẽ được nhận một liệu trình điều trị là 30 phút/ngày trong 10 ngày. Trong quá trình học trẻ được đeo một tai nghe để nghe nhạc.

Âm nhạc trị liệu thường được áp dụng trong mô hình trị liệu nhóm. Mỗi buổi trị liệu nhóm, trẻ được nghe 2 đến 3 bài hát liên quan đến nội dung học hoặc các hoạt động chơi. Phương pháp này có thể thực hiện 2 đến 3 lần/ tuần.

3. ☺️Điều hòa xúc giác

Cho trẻ nhiều cơ hội trải nghiệm xúc giác. Một số hoạt động xúc giác được thiết kế nhằm tăng cường nhận biết về xúc giác: sử dụng ngón tay để tạo tranh, hình dạng: cát, màu nước, bột, đất nặn, gạo…, xé giấy. Chà những mảnh vải nhỏ chất liệu khác nhau vào da. Giấu đồ chơi trong gạo để trẻ tìm. Các hoạt động sử dụng ngón tay cái và ngón trỏ: xâu, gắp, đóng khóa cặp, túi. Xoa bóp tay, sử dụng bàn chải, bóng g*i, bàn xoa bóp…

4. ☺️Điều hòa tiền đình

Sử dụng các bài tập vận động và thăng bằng. Trẻ cần tham gia vào những hoạt động phong phú về vận động trong cả ngày để giúp trẻ có thông tin giác quan để có thể thực hiện các chức năng phù hợp. Trẻ ít ngồi yên, vì vậy nên cho trẻ vận động để tìm cảm giác thiếu trước khi yêu cầu trẻ ngồi và tập trung.

Các hoạt động vận động để tăng cường kích thích cảm giác vận động và thăng bằng: lăn người, lăn sang hai phía hoặc về phía trước, nhảy (tại chỗ, bật nhảy trên đệm lò xo, nhảy dây, nhảy qua vật cản…), đu đưa (xích đu, đu người), nhảy lò cò, bơi, trò chơi xoay tròn, đi xe đạp, ngồi hoặc nằm lăn theo bóng to, gối hơi ngồi.

5. ☺️Điều hòa cảm thụ bản thể

Cần phải khuyến khích những hoạt động làm việc nặng và áp lực xúc giác là cách tốt nhất giúp trẻ kích hoạt thụ thể ở các cơ và khớp có thể tăng cường khả năng nhận biết vị trí cơ thể và vị trí giác quan

Những hoạt động sau đây có thể sử dụng để tăng cường nhận biết bản thể và giúp trẻ bình tĩnh và tổ chức toàn bộ hệ thống thần kinh:

Trò chơi nhảy và chạy

Mang, đẩy, kéo hoặc đeo những đồ vật nặng (túi, ba lô, hộp đồ chơi, bao gạo, cát)

Bò: dưới gầm bàn, qua gối, chui ống, theo đường thẳng

Trò chơi lao người: lao người vào đống gối lớn, vào thảm, ghế đệm

Tạo những áp lực về xúc giác: trùm chăn gối nặng lên người khi bò hoặc nằm, mặc áo vest nặng, tạo cho trẻ cảm nhận áp lực xúc giác: cuộn vào chăn, tạo áp lực từ quả bóng to hoặc gối)

Các hoạt động cắn, nhai, thổi, mút: (thức ăn giòn, nhai miếng nhai bằng nhựa, dùng ống hút để uống và chơi trò chơi thổi: kèn, còi, ống hút...)

Làm việc nặng như: đóng búa, đinh vít, xúc cát…
Nguồn: sưu tầm

07/10/2021

CÁC KĨ NĂNG CƠ BẢN KHI CHƠI VÀ HỌC CÙNG TRẺ TỰ KỶ, TĂNG ĐỘNG.
Gia đình là môi trường tốt nhất đối với trẻ tự kỉ bởi đó là môi trường quen thuộc, trẻ có nhiều cơ hội được tham gia vào các hoạt động hàng ngày cùng với những người thân, được thực hành và luyện tập các kĩ năng.
Cha mẹ đồng hành cùng con giúp trẻ mau tiến bộ, tiết kiệm được thời gian và chi phí và chi phí trong quá trình can thiệp.
👆 Một số lưu ý khi tổ chức can thiệp:
– Bắt đầu bằng những đồ chơi, hoạt động mà trẻ thích. Đó là con đường dẫn dắt cha mẹ đến với thế giới của trẻ.
– Kiên trì thực hiện bởi trẻ sẽ không chú ý và tương tác ngay từ lần đầu tiên.
– Luôn luôn tạo không khí vui vẻ để trẻ cảm thấy thoải mái và hứng thú tham gia hoạt động hơn.
– Dạy trẻ mọi lúc, mọi nơi, trong bất kì tình huống nào, trong mọi hoạt động của gia đình.
👆 Các kĩ năng
1. Gọi tên trẻ thường xuyên.
Thường xuyên gọi tên trẻ để lôi kéo sự chú ý của trẻ và giúp trẻ nhận ra bản thân, tăng khả năng đáp ứng khi bố mẹ gọi.
Gọi tên trẻ trong các hoạt động, trong các trò chơi, khi sai việc trẻ: “Tôm. Đưa mẹ bóng”, “Tôm. Con gà đâu?”

2. Giao tiếp mắt.
Ngồi ở vị trí ngang tầm mắt với trẻ, giúp trẻ tạo được giao tiếp mắt với người đối diện, duy trì tần suất và thời gian giao tiếp mắt khi có cơ hội. Trước tiên hãy sử dụng những đồ chơi, đồ ăn, vật hoặc là hoạt động mà trẻ thích, có hứng thú để trẻ chủ động nhìn mắt nhiều hơn.

3. Cùng tham gia

Quan sát các hoạt động của trẻ sau đó tham gia hoạt động đó cùng với trẻ. Trẻ là người dẫn dắt vào hoạt động, chơi cùng với trẻ để tạo sự gắn kết, mối quan hệ gần gũi với trẻ, sau đó thay đổi và tạo ra những cách chơi cho phù hợp.

4. Tập ngồi
Tập ngồi giúp trẻ tập trung chú ý để hoàn thành được nhiệm vụ, biết chờ đợi và biết cách chơi lần lượt. Khi cho trẻ tập ngồi, cần tránh, loại bỏ các yếu tố gây xao nhãng và mất tập trung như: tiếng ồn (tivi, chuông điện thoại, tiếng nói chuyện), các đồ chơi xung quanh (gọn gàng, tránh ở trong tầm nhìn của trẻ). Vị trí ngồi nên là một góc hẹp, trẻ khó di chuyển khỏi vị trí.

5. Chờ đợi và làm theo lượt
Trong các hoạt động cần tạo ra sự tương tác, đó là đợi và luân phiên theo lượt. Khi người lớn biết đợi và luân phiên với trẻ, trẻ cũng sẽ học được kĩ năng đợi và luân phiên với người khác. Đợi và làm theo lần lượt là kĩ năng giúp trẻ trở thành một người biết giao tiếp thật sự.

6. Hỗ trợ bằng lời nói và hình ảnh trực quan
☺ Hỗ trợ bằng lời:
– Sử dụng lời nói đơn giản, nhất quán, chọn nói từ chính và phù hợp với tình huống
– Cho trẻ thêm thời gian để xử lí thông tin, cân nhắc và đưa ra phản hồi.
– Kèm theo cử chỉ, điệu bộ và cường điệu hóa cảm xúc khi cần thiết.
– Thay đổi giọng nói (về ngữ điệu và âm vực): lúc to, lúc nhỏ, lúc nhanh, lúc chậm, tạo sự ngạc nhiên và bất ngờ để kéo sự chú ý của trẻ.
– Tránh hành động, lời nói tiêu cực (Con đừng có làm như thế, con không được ném đồ…), nói những câu nhấn mạnh vào hành vi phù hợp: Nhặt bóng lên, cất đồ chơi, tắt ti vi…
☺️ Hỗ trợ bằng hình ảnh trực quan:
– Hình ảnh trực quan giúp trẻ hiểu thông tin từ môi trường được chính xác hơn, bù đắp những khó khăn khi xử lí các thông tin bằng thính giác.
– Hình ảnh trực quan giúp trẻ kiểm soát hành vi: trẻ chưa biết sử dụng ngôn ngữ nói để thể hiện nhu cầu bản thân, trẻ có thể dùng phương tiện khác để hỗ trợ hoặc thay thế cho ngôn ngữ nói như tranh ảnh, cử chỉ điệu bộ (chỉ ngón)
– Hình ảnh trực quan hỗ trợ trẻ phát triển các kĩ năng (kĩ năng tự phục vụ…), phát triển, hiểu và thể hiện cảm xúc.
– Hình ảnh trực quan có thể là: Ảnh thật, ảnh biểu tượng, video, các cử chỉ điệu bộ, ánh mắt, nét mặt của người lớn.

7. Tạo nhu cầu
Trẻ tự kỉ thường có ý thích thu hẹp và ít nhu cầu, do đó cần tạo các tình huống để kích thích nhu cầu của trẻ, đó là cơ hội tốt nhất để trẻ tương tác.
Tạo nhu cầu cho trẻ bằng một số cách sau:
– Để đồ lên cao: Trong tầm nhìn nhưng ngoài tầm với
– Để đồ vào hộp trong suốt đậy kín: Để trẻ nhìn thấy và yêu cầu người lớn lấy giúp
– Cho trẻ lựa chọn: Có thể đưa cho trẻ thứ mà trẻ không thích hoặc lựa chọn giữa đồ vật trẻ thích và không thích.
– Từng chút một: Không nên đưa tất cả đồ chơi hoặc đồ ăn cho trẻ, nên đưa cho trẻ từng đồ một, từng miếng đồ ăn một để trẻ có nhiều cơ hội giao tiếp hơn.
+Đưa các vật liệu mà trẻ cần hỗ trợ để sử dụng/ vận hành được: Chỉ đưa bát mà không đưa thìa, chỉ đưa đàn mà không đưa que gõ.
+Đưa từng phần một để trẻ phải yêu cầu thêm: Đưa từng miếng ghép hình, cho từng miếng bim bim…
+Không đưa rất cả các vật liệu mà trẻ cần để thực hiện hoạt động (trẻ sẽ làm hỏng hoặc không biết cách chơi): Không đưa cả hộp thổi bóng cho trẻ, nên đưa que thổi, nếu trẻ muốn chơi, trẻ đưa que thổi cho mẹ.
+Làm một việc mà trẻ không muốn bạn làm (trẻ sẽ phản đối): Trẻ muốn mở hộp đồ chơi, khi đó bạn làm động tác giả vờ cất đi và nói “cất đi”, sau đó đợi phản ứng của trẻ. Nếu trẻ đòi đồ chơi bạn dạy trẻ “xin” hoặc “ạ” hoặc chỉ vào hộp hoặc nói một từ nào đó đúng tình huống như “mở”, “lấy”…
+Làm trái với kỳ vọng của trẻ (tình huống ngớ ngẩn): Trẻ muốn ăn sữa chua, không đưa thìa cho con mà lại đưa ống hút, dạy biết từ chối không phải ống hút và chỉ tay để lấy thìa.

8.Cầm tay chỉ việc
Trẻ rất khó để học bằng bắt chước, do đó trẻ cần được dạy chính xác về việc nên làm. Vì vậy, hỗ trợ trẻ khi cần là cần thiết.
Các bước trợ giúp trẻ như sau:
– Làm mẫu cách làm: Làm mẫu các kĩ năng hoặc cách chơi để trẻ quan sát và bắt chước làm theo, nếu trẻ không bắt chước, chuyển sang bước tiếp theo.
– Cầm tay chỉ việc hoàn toàn: Hoàn toàn cầm tay trẻ thực hiện nhiệm vụ
– Cầm tay chỉ việc một phần: Cầm tay trẻ để nhắc nhở, sau đó để trẻ tự thực hiện; hoặc đẩy nhẹ tay trẻ để trẻ biết cần phải làm gì.
– Nhắc nhở, hỗ trợ trẻ bằng hành động và cử chỉ kèm lời nói
– Nhắc nhở, hỗ trợ trẻ bằng ánh mắt kèm lời nói
– Nhắc nhở bằng trẻ lời nói

9. Chuỗi – từng bước nhỏ
Từ việc thực hiện những bước nhỏ, hành động đơn giản để hoàn thành một chuỗi, trình tự, nhiệm vụ phức tạp.
-Chuỗi Tiến là bắt đầu ở bước đầu tiên và dạy từng bước thứ tự
-Chuỗi Ngược là bắt đầu ở bước cuối cùng trong chuỗi và thực hiện ngược lại

10. Chơi đa dạng
Học cách chơi đồ chơi theo nhiều cách khác nhau sao cho trẻ không gặp khó khăn, không máy móc và rập khuôn với một kiểu chơi duy nhất theo cách riêng của trẻ.
Bắt đầu chơi bằng những cách đơn giản, sau đó tăng dần tính phức tạp của đồ chơi/trò chơi.
Chơi đa dạng giúp nâng cao khả năng nhận thức của trẻ.

11. Hoạt động có cấu trúc
Lịch trình hoạt động: Lịch trình giúp trẻ hiểu và biết hành động đang diễn ra, hành động nào sẽ diễn ra tiếp theo và giúp trẻ cảm thấy an toàn hơn, giảm bối rối và lúng túng khi có thể phán đoán trước được sự việc có thể xảy ra.
👆 Bắt đầu và kết thúc: Trong bất kì hoạt động nào cũng cần cho trẻ hiểu khi nào bắt đầu một hành động, và khi nào là kết thúc hành động giúp trẻ dễ dàng học và hoàn thành nhiệm vụ hơn.
Khi bắt đầu chơi nên nói “Bây giờ chơi….”, khi chơi xong có thể nói “Chơi xong rồi. Cất đi”, kèm theo các hỗ trợ (hình ảnh, hành động) trực quan phù hợp.

👆 Trong khi chơi:
Bất kì hoạt động nào cũng cần tổ chức theo một trình tự nhất định “Bắt đầu – diễn biến – kết thúc”
+Bắt đầu: “Bây giời chơi đọc sách”
+Diễn biến: Dậy trẻ nhận biết, chỉ tranh ảnh trong sách
+Kết thúc: “Đọc sách xong rồi. Cất sách/Cất đi”

12. Củng cố
Củng cố được đưa ra khi trẻ có những phản hồi phù hợp như: Chủ động nhìn mắt, chú ý tích cực, hành vi đúng, thành công dù nhỏ…
Các hình thức củng cố:
-Khen ngợi bằng lời: “nhìn giỏi”, “ghép hình rất giỏi”
–Luôn mỉm cười: tạo sự gần gũi, thân thiện
-Chạm vào người/cù ki, ôm, hôn trẻ
-Phần thưởng hữu hình: bằng đồ ăn, đồ chơi mà trẻ thích, sticker (hình dán yêu thích)
-Chơi theo ý thích: Chơi theo cách mà trẻ thích (thời gian ngắn)
Nguồn: Sưu tầm

05/10/2021

TRẺ CHẬM NÓI, THANG ĐO, CÁCH CAN THIỆP

1. Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ bình thường của trẻ như sau:
• Từ 3 - 6 tháng: trẻ bắt đầu chăm chú nhìn vào người nói chuyện. Quay đầu về phía có tiếng động phát ra.
• Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau.
• Nói được nguyên âm “a”, từ “ba”, “bà”.
• Từ 6 - 9 tháng: nói được 2 âm khác nhau như “ma ma”, “da da”.
• Từ 9 - 12 tháng: trẻ phát âm “ê”, “a” kéo dài thành một chuỗi âm thanh như người lớn nhưng không rõ từ.
• Tùy theo mỗi trẻ, nhưng khi được khoảng 11 tháng hay 1 tuổi có trẻ nói được khoảng 2 - 3 từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà.
• Từ 12 - 15 tháng: trẻ có thể phát âm như tiết tấu âm nhạc để giữ cho câu chuyện tiếp tục.
• Từ 15 - 18 tháng: sử dụng được 4 từ, thường là tên con vật kết hợp với cử chỉ, đưa tay vẫy, chỉ. Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau. Ở giai đoạn này, trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu. Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộc khi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố, hình con cá hoặc hình con chó…
• Từ 18 tháng đến 2 năm: biết khoảng 25 từ, gọi tên người, chào hỏi, từ chối.
• Từ 2 - 3 tuổi: nói rất nhiều, biết từ 50 - 200 từ, tự nói chuyện khi chơi. Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị. Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản.
Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/không?. Sau giai đoạn này, trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều các câu phức tạp, hình thành được các câu chuyện dài với nội dung khá logic.
• Từ 3 - 4 tuổi: trẻ nói được các câu phức tạp trẻ bắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt. Tự kiểm soát được cường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái gì, ở đâu, tại sao...

2. Nguyên nhân khiến trẻ chậm nói

Có 2 nhóm nguyên nhân chính là nguyên nhân thực thể và nguyên nhân tâm lý:
• Nguyên nhân thực thể là do trẻ có những vấn đề về cơ quan phát âm (tai, mũi, họng).Cụ thể trẻ chậm nói có thể do khiếm khuyết ở miệng, như vấn đề về lưỡi hoặc hở hàm ếch. Nếu lưỡi bị ngắn (do nếp gấp dưới lưỡi) có thể hạn chế chuyển động lưỡi khi nói. Nhiều trẻ em bị chậm phát triển nói do có vấn đề về răng miệng. Trẻ gặp khó khăn trong sử dụng và phối hợp giữa môi, lưỡi, và hàm để tạo âm thanh lời nói. Lúc này, vấn đề khó khăn bé gặp phải không chỉ là nói mà còn khó khăn trong một số hoạt động khác như khi ăn, uống. cơ quan chỉ huy (não bị dị tật bẩm sinh, bại não, những di chứng sau xuất huyết não, viêm màng não...)
• Nguyên nhân tâm lý là do gia đình hoặc quá cưng chiều, hay bỏ bê trẻ, hoặc đã xảy ra một biến cố nào đó làm ảnh hưởng đến tâm lý trẻ.
Khi nào cần can thiệp?
Trước tiên cha mẹ, người thân cần chú ý chăm sóc, quan tâm phát triển kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ phù hợp với độ tuổi, và cần can thiệp sớm khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường về phát triển ngôn ngữ.

3. Dấu hiệu cho thấy trẻ chậm nói
- Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 – 8 tuần tuổi.
- Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng.
- Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng.
- Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng.
- Không cười tự phát lúc 6 tháng.
-Không bập bẹ lúc 8 tháng.

- Ở thời điểm 12 tháng không sử dụng cử chỉ, ví dụ chỉ tay hoặc vẫy tay bye-bye.
- Ở thời điểm 18 tháng tuổi bé vẫn dùng những cử chỉ thay cho phát âm để giao tiếp.
- Có vấn đề rắc rối nếu không bắt chước được âm thanh khi 18 tháng tuổi. Vốn từ của bé ít hơn 6 từ. Bé thích dùng cử chỉ hơn là phát âm để giao tiếp. Không hiểu các yêu cầu bằng lời nói đơn giản.
-Không nói được từ đơn lúc bé 2 tuổi. Chỉ nhắc đi nhắc lại vài từ mà không thể sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp theo đúng sự phát triển bình thường.
- Không nói được một câu đơn giản khi bé 3 tuổi.

Nếu thấy trẻ có một trong những biểu hiện trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra. Tùy theo mức độ chậm nói và độ tuổi của trẻ các bác sĩ, nhà trị liệu sẽ có nhiều hình thức can thiệp khác nhau như tư vấn, hướng dẫn cha mẹ huấn luyện ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình, hoặc cần kết hợp chuyên gia ngôn ngữ, tâm lý và bác sĩ để can thiệp thúc đẩy ngôn ngữ ở trẻ.
Đối với trẻ chậm nói do nguyên nhân thực thể, đa phần là do trẻ có vấn đề về thính lực. Các bác sĩ phải điều trị về thính lực cho trẻ. Đối với trẻ bị điếc nhẹ và điếc trung bình thì việc điều trị trước 5 tuổi rất có hiệu quả. Trong những trường hợp điếc do viêm tai, thủng màng nhĩ, trẻ sẽ được điều trị bằng phẫu thuật, vá màng nhĩ để nâng sức nghe. Với những trường hợp không nghe lại được thì phải can thiệp bằng cách đeo máy nghe.

4. Các nguyên tắc cơ bản giúp cho trẻ cải thiện khó khăn về ngôn ngữ:

4.1. Giúp trẻ xây dựng mối quan hệ gắn bó:
Cha mẹ cần giúp trẻ hình thành mối quan hệ gắn bó với mình trong việc gần gũi với trẻ, cùng chơi đùa, cùng ăn uống, cùng trò chuyện với sự thân thiện và tôn trọng trong một môi trường an toàn và vui vẻ.
Cha mẹ nên khám phá những mặt mạnh, những điểm tích cực của trẻ để khuyến khích, nâng đỡ chứ không lèo lái các hoạt động của trẻ theo ý mính, không “ xâm phạm lãnh thổ cá nhân” của trẻ. Tuyệt đối không la mắng, trừng phạt bằng đòn roi mà chỉ là sự nhắc nhở rõ ràng và kiên quyết.
4.2. Giúp trẻ biết cách bầy tỏ nhu cầu:
Cha mẹ cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay (làm thay cho trẻ). Những hành vi bùng nổ, la hét, tự hành hạ ( đập đầu, cào cấu, nằm lăn ra đất…) cũng chỉ là một loại “ngôn ngữ không lời” che dấu một nhu cầu, một ước muốn. Cha mẹ nên hết sức bình tĩnh để phân biệt các nhu cầu thực sự và những đòi hỏi, nhõng nhẽo quá đáng của trẻ. Cho trẻ biết đâu là sự giới hạn, sự cho phép và những điều không được phép làm với một ngôn ngữ không đe dọa hay mua chuộc.
Phải biết nói KHÔNG với những yêu cầu không thích hợp, nhưng đồng thời cũng cho phép trẻ có thể TỪ CHỐI bằng lời nói hay những hành động đơn sơ của mình, và cũng thông báo điều này cho mọi người có liên hệ với trẻ. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.
4.3. Giúp trẻ tham gia các hoạt động tâm vận động:
Trong một ngày, trẻ cần có một khoản thời gian nhất định ( tuỳ điều kiện để bố trí vào buổi sáng hay chiều, tối và chỉ kéo dài tối đa 60 – 90 phút ) – Trong buổi sinh hoạt này, trẻ sẽ vừa chơi vừa học bằng những họat động tạo vui thú như leo trèo, nhảy, xây dựng – phá hủy ( mô hình – khối gỗ…) trốn tìm ( chơi bịt mắt – chơi tìm và đoán các đồ vật bị che dấu).
Qua các trò chơi tương tác giữa mẹ và con, trẻ học được cách chờ đợi ( lần lượt làm, đến phiên mình) qua đó cũng biết luôn về giá trị của thời gian, biết phân biệt trước, sau. Hoạt động này giúp trẻ giải tỏa ức chế, phóng ngoại và xây dựng ý thức về bản thân, tạo điều kiện cho trẻ biết chọn lựa, vui thú và hành động tự chủ.
4.4. Trò chơi “Bập bẹ - líu lo” vận dụng các cơ quan phát âm của trẻ:
Cha mẹ khích lệ trẻ tự nói, dù chỉ là những tiếng bập bẹ, líu lo. Hãy xem đó như một trò chơi, khi trẻ nói cha mẹ sẽ bắt chước nói lại với những âm thanh tương tự, nhưng sẽ có những điều chỉnh và mở rộng hơn. Cha mẹ cũng có thể thu băng các lời nói của trẻ và sau đó phát lại cho trẻ nghe, điều này sẽ khích lệ trẻ phát âm nhiều hơn.

4.5. Lặp lại một số âm thanh và từ ngữ có trong ngôn ngữ bình thường:
Sau khi trẻ đã phát ra nhiều âm thanh trong lúc vui đùa, cha mẹ chọn lọc những âm thanh nào tương tự, gần giống với những từ phổ biến hàng ngày để nhắc lại cho trẻ ghi vào bộ nhớ.
Ví dụ : trẻ nói :Mờ, mờ - Mẹ: Má , trẻ: Bờ bờ - Mẹ: Ba, Trẻ: Chờ, chờ - Mẹ: Chơi, trẻ: Cờ cờ - Mẹ: Con.
Hoạt động này giúp trẻ biết cách phát ra ngôn ngữ bình thường. Tập cho trẻ phát ra những câu có 2 từ : ba về, đi chơi, cho con, cho má….

4.6. Giúp trẻ biết cách kết hợp và sắp xếp các đồ vật, hình ảnh và ngôn từ với nhau:
Cha mẹ xếp đặt một số mẫu vật dụng trước mặt trẻ và bảo trẻ làm lại giống như mình: Xếp cốc vào một chỗ, xếp thìa lại với nhau, xếp hình các con vật giống nhau cạnh nhau, xếp từ ghi tên đồ vật, con vật vào dưới ảnh của đồ vật hay ảnh con vật đó.
Cho trẻ xếp theo trình tự:
1/ Hình thể và màu sắc hoàn toàn giống nhau.
2/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc – kích thước tương tự
3/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc và kích cỡ khác nhau
4/ Chữ và hình đồ vật ( chữ GẤU dưới hình con Gấu)

Sắp xếp theo công dụng:
1/ Các dụng cụ học tập ( viết, tập, gôm…)
2/ Các dụng cụ làm bếp, các dụng cụ trong phòng khách, phòng ăn…
Sắp xếp theo khu vực hoạt động:
1/ Các sinh vật trên trời, dưới biển, trong rừng
2/ Các đồ vật ở nhà, trong Siêu thị, ngoài đường phố.
7. Giúp trẻ nghe và hiểu một số từ thông thường, qua việc thi hành những mệnh lệnh đơn sơ:
Bước đầu tập cho trẻ đi lấy những món đồ chơi, những đồ dùng hàng ngày, sau đó thông qua hình ảnh, nâng cao vốn từ cho trẻ để có thể nhận ra và chỉ từ 25 – 100 món đồ.
8. Giúp trẻ gọi tên từ 25 – 100 đồ dùng và các hoạt động thường ngày:
Thông qua các hình ảnh, trò chơi và các hoạt động hàng ngày để tạo điều kiện và khuyến khích trẻ có thể gọi tên các đồ vật và hoạt động hàng ngày.

9. Giúp trẻ hiểu biết và nói về các hoạt động trong gia đình:
Xây dựng một lịch hoạt động để trẻ ý thức được các hoạt động trong ngày, biết và xác định được các thời điểm ( trước/sau) các công việc nối tiếp để tạo sự ổn định tâm lý cho trẻ.
Lịch hoạt động ghi lại những hoạt động chính trong 1 ngày ( từ sáng đến tối) và trong 1 tuần ( từ thứ 2 – chủ nhật) bằng các hình vẽ đơn giản và lời minh họa ngắn gọn.
10. Biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu hỏi gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì bỏ qua và nhắc lại câu hỏi. Đừng hỏi nhiều và tản mạn, cần tập trung vào một chủ đề ( Ví dụ: các loại bánh – các loại đồ dùng trong nhà bếp/phòng ăn/phòng ngủ)
11. Giúp trẻ nhận biết và sử dụng chữ và số:
Thông qua các trò chơi kết hợp hình ảnh và chữ viết
Khi tập cho trẻ nhận biết về con số, không phải là biết nhìn ra từ số 1 -10 hay đọc được đến 100, mà là biết rõ số lượng ( hai cái bánh, hai cái chén, hai con vịt…ba cái ly ) và mối tương quan ( hai cái ly thì nhiều hơn một cái ly ) – Khi được yêu cầu, trẻ có khả năng lấy ra 2,3 hình cái ly trong một loạt các hình bầy trước mắt. Trẻ có thể ghép được chữ Bàn ở dưới hình cái bàn.

12. Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè
Chơi đùa là một hoạt động rất quan trọng, qua các trò chơi trẻ có thể thiết lập mối quan hệ tốt với bố mẹ và bạn bè. Ngay cả trong các hoạt động hàng ngày cũng nên đưa vào những câu nói và ý tưởng như một trò chơi ( Đố con lấy được cho mẹ hai cái chén sứ trong tủ chén – Đố con lên cầu thang trước mẹ …) Trong các ngày nghỉ, Lễ Tết, sinh nhật hãy tạo điều kiện cho trẻ đến chơi các công viên, khu vui chơi hay mời các trẻ quen biết lại nhà chơi.
Tài liệu sưu tầm

Photos from Can thiệp Bình Minh Yên Mô's post 05/10/2021

📣📣📣📣 Khai giảng lớp học mới ngày 6/10
Các mom nhanh tay đăng kí để các cô xếp lịch học nào
Ưu đãi đặc biệt: MỄN PHÍ 2 tuần học đầu tiên cho tất cả các bé
Địa chỉ: Khánh Thịnh, Yên Mô, Ninh Bình
Liên hệ: cô Thương 0981387854

04/10/2021

🛑 NẾU BẠN ĐANG CÓ CON CHẬM NÓI, THÌ ĐÂY LÀ BÀI VIẾT DÀNH CHO BẠN 🌻
Nhiều mẹ cảm thấy lo lắng khi thấy con đã 18 tháng vẫn chưa biết ê a bất cứ một câu gì. Con chậm nói khiến các mẹ phải đối diện với nhiều áp lực rất lớn từ người thân, gia đình. Trong tình huống này, các mẹ lại "ngây thơ" nghĩ rằng "con mình vốn vậy", hay "trẻ biết đi sớm thường chậm nói". Tuy nhiên, mẹ cần biết một thực tế rằng khả năng bé nói rõ ràng hay nói ngọng, biết nói sớm hay muộn cũng một phần là do lỗi dạy dỗ của người mẹ.
Dưới đây là một số sai lầm tai hại mà nhiều mẹ mắc trong quá trình dạy dỗ khiến trẻ chậm nói hay nói ngọng.
1 🌳KHÔNG CHO CON CÓ CƠ HỘI ĐƯỢC NÓI ( Không cho trẻ thói quen phản ứng với ngôn ngữ)
Khi vốn từ vựng của bé chưa được hoàn thiện, để giao tiếp với mọi người xung quanh, con thường phải dùng hành động, cử chỉ để biểu đạt mong muốn của mình.
Muốn uống sữa, trẻ sẽ tự tay mình chỉ hoặc sẽ cầm tay mẹ và hướng đến bình sữa. Lúc đó, các mẹ sẽ hiểu được mong muốn của con và nhiều người đã không ngần ngại lập tức đi lấy giúp con.
Thay vì vội vàng giúp con, các mẹ nên gợi chuyện kích thích để trẻ nói bằng các câu hỏi: “con cần gì nào?”, “đó là cái gì nhỉ?” …
Việc chiều con, nhanh chóng đáp ứng mọi yêu cầu, không chỉ ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ, mà còn tác động xấu đến tính cách của trẻ. Một khi con biết mọi yêu cầu của mình sẽ nhanh chóng được đáp ứng, chúng sẽ sinh ra nhiều yêu cầu và đòi hỏi, dễ hình thành thói phụ thuộc và lười vận động.
2 🌳 CHO TRẺ XEM TIVI và CÁC THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ QUÁ NHIỀU.
Tivi, máy tính hay mọi thiết bị truyền thông thông tin còn được nhiều mẹ biến thành “cô trông trẻ” hữu hiệu. Tuy nhiên, nếu mẹ lạm dụng bé sẽ chậm nói. Tất cả các thông tin giải trí trên tivi, máy tính hay điện thoại trẻ chỉ được tiếp nhận một chiều, bởi lúc đó bé chỉ có cơ hội nghe nhưng lại không có cơ hội để nói.
Sẽ rất nguy hiểm nếu trẻ sơ sinh tiếp xúc với tiếng nói ảo từ sớm do khả năng khắc ấn của thời kỳ đầu rất khó thay đổi.
3 🌳 LƯỜI NÓI CHUYỆN VỚI CON.
Đối với nhiều mẹ việc này khó vì ban đầu sẽ chỉ là một cuộc độc thoại đơn lẻ từ phía mẹ. Nhưng đây lại là phương pháp hữu hiệu nhất để phát triển ngôn ngữ cho con.
Trong những năm đầu đời trẻ học nói thông qua cách bắt chước và liên hệ ngôn từ mà cha mẹ nói với ngữ cảnh xung quanh để hiểu từ vựng.
4 🌳HẠN CHẾ CHO TRẺ ĐƯỢC TIẾP XÚC VỚI BÊN NGOÀI.
Nhiều bố mẹ lo ngại những mặt xấu của xã hội hiện nay như bắt cóc, mất lịch sự … có thể ảnh hưởng đến con mình, nên hạn chế cho trẻ ra ngoài chơi
Nhưng bố mẹ không biết rằng trẻ cần có một môi trường vui vẻ, hòa đồng, có bạn bè, môi trường tự nhiên để hòa nhập. Ở trong môi trường như vậy sẽ có các mối tương tác phong phú, đa dạng khiến trẻ nảy sinh nhu cầu muốn giao tiếp, muốn nói chuyện...
5 🌳DẠY NÓI CHƯA ĐÚNG CÁCH.
Nếu bạn muốn trẻ học nói, hãy nói với bé chậm và phát âm chính xác, rõ ràng.
Không nên dùng những từ khó khăn, phức tạp, dài dòng để mô tả mà nên dùng những từ đơn giản, đúng quy tắc ngôn ngữ để dạy bé. Phải kết hợp một vài từ giúp bé gọi người thân, cơ thể, thức ăn, đồ chơi, phối hợp với những từ ngữ dùng trong sinh hoạt hàng ngày để dạy trẻ.

🛑🛑Cách dạy trẻ chậm nói tại nhà
Để giải quyết những lo lắng của bố mẹ bài viết xin cung cấp cách dạy trẻ chậm nói tại nhà đơn giản, hiệu quả.

❇️Sử dụng các âm thanh đơn giản: Đối với những trẻ bắt đầu tập nói, bố mẹ nên thường xuyên dạy con những từ đơn giản như: ba, mẹ, bà, mẹ, … Trẻ sẽ bắt chước và nói lại theo bạn. Nếu trẻ làm tốt nên khen ngợi trẻ để cổ vũ tinh thần còn chưa được thì bạn hãy nhắc lại một lần nữa thật rõ ràng.
❇️Nói chậm để bé hiểu: Trẻ mới học nói chưa có khả năng tiếp nhận thông tin nhanh chóng vì vậy khi nói chuyện với con, bố mẹ cần nói chậm, rõ ràng để bé có thể tiếp nhận, xử lý thông tin. Khi yêu cầu trẻ lặp lại câu nói bạn cần phải kiên nhẫn bởi chắc chắn trẻ sẽ nói sai rất nhiều lần.
❇️Chơi với con nhiều hơn: Dù bố mẹ có bận rộn đến mấy cũng hãy dành thời gian của mình để nói chuyện, chơi với con. Đừng để bé làm bạn với smartphone, tivi, … chúng không thể thay bạn chăm sóc hay hiểu được con cần gì. Trong quá trình vui chơi bố mẹ có thể sử dụng các câu hỏi đáp đơn giản, khen ngợi, … Đây là cách dạy trẻ chậm nói mang tính cơ bản nhất, bố mẹ nên áp dụng.
❇️Đọc sách cho trẻ nghe: Những cuốn sách với hình ảnh ngộ nghĩnh, màu sắc tươi sáng là cách trị liệu rất tốt cho bệnh chậm nói ở trẻ. Bất kỳ em bé nào cũng thích được bố mẹ đọc truyện cho nghe. Hoạt động này góp phần hình thành thói quen đọc sách cho trẻ đồng thời giúp gắn kết tình cảm giữa cha mẹ với con cái.
❇️Kết hợp các cử chỉ tay: Sử dụng các động tác tay cũng là một cách để trẻ phát triển ngôn ngữ. Hãy dạy bé khi tạm biệt thì vẫy tay, người lớn đưa đồ cho thì dùng 2 tay để nhận, … đây cũng là những kỹ năng xã hội cơ bản bé cần được học.
Giới thiệu các từ ngữ mới: Liên tục bổ sung từ mới cho bé để tăng vốn từ vựng.
Khuyến khích giao tiếp bằng mắt: Khi bạn nói chuyện với con hãy cố gắng hướng sự chú ý của con vào mình. Hành động này tạo sự tự tin khi giao tiếp cho trẻ. Tự tin hơn, trẻ cũng sẽ nói nhiều hơn.

Nguồn CSV.
Cảm ơn chia sẻ của mom Lê Thuý Hằng.

Want your school to be the top-listed School/college in Ninh Bình?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Đường Tỉnh 480C, Huyện Yên Mô
Ninh Bình
430000