07/03/2022
PHẬT GIÁO VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH
---- Tk. Thích Nhật Hiếu ----
Đức Phật không cho rằng có thể dùng chiến tranh mà có thể giải quyết mọi vấn đề; và không bao giờ có cái gọi là chiến tranh chân chính. Vì rằng cuộc chiến nào cũng gây ra sự tương tàn, sát hại sinh linh. Thế mà, người ta tôn vinh chiến tranh độc ác ấy là thánh chiến[16].
Chiến tranh thật sự tàn bạo! Và nguyên nhân chính của các cuộc chiến tranh đều phát xuất từ hai nguyên nhân: "tham dục" (kāmma) và "tà kiến" (micchadiṭṭha) mà ra; nói cách khác, nguyên nhân chiến tranh vì: kinh tế, thuộc địa; sắc tộc, chủ nghĩa, tôn giáo. Ngày nào nhân loại chế ngự được lòng dục vọng, sân hận và những triết thuyết lệch lạc, mới hòng chấm dứt được chiến tranh. Phật giáo xưa nay vẫn giữ một lập trường dứt khoát như vậy đối với chiến tranh, cho đó là một sự cuồng nghiệt và si mê nhất của con người. Tại sao nhân loại tự tìm đến con đường diệt vong như vậy?
Đức Phật đã khẳng định: "Hình phạt ai cũng sợ, Mất mạng ai cũng khiếp, Lấy ta suy ra người, Chớ giết chớ bảo giết", hay: "Hận thù diệt hận thù, Đời này không có được, Từ bi diệt hận thù; Là định luật ngàn thu", và: "Chiến thắng sinh thù oán, Thất bại chịu khổ đau; Sống tịch tịnh an lạc, Bỏ sau mọi thắng bại."[17]
Khi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) trị vì vương quốc Kosala (Kiều-tất-la), đóng đô tại thành Sāvathi (Vệ-xá-li) đã chiến thắng và thâu đoạt toàn bộ đội quân vua Ajātasattu (A-xà-thế), trước cảnh thảm sát tan thương như vậy, với lòng bi mẫn[18] và dũng cảm vô biên, đức Phật đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh vua Pasenadi rằng:
"Một người có thể cướp bóc của người khác, nhưng khi bị cướp, người kia sẽ tìm cách chiếm đoạt trở lại; và cướp bóc, chiếm đoạt trở đi trở lại không ngừng. Ngày nào quả xấu chưa đủ cơ duyên để trổ, người cuồng si còn tưởng tượng: 'Cơ hội tốt đã đến, đây là dịp may!' Nhưng khi quả trổ, phải chịu khốn khổ. Người sát nhơn sẽ gặp kẻ sát nhơn. Người xâm lăng sẽ bị chinh phục. Kẻ hỗn hào sẽ bị chửi mắng. Người ưa quấy rầy sẽ bị phiền nhiễu. Vậy theo tiến trình của hành vi, kẻ cướp ắt bị cướp"[19].
Không những chỉ với vai trò Đạo sư về đời sống tâm linh, mà ngài còn là nhà thuyết khách tài tình trong vai trò trung gian hoà giải nhiều cuộc xung đột có thể xảy ra giữa các vương quốc đương thời, tránh được nhiều cuộc chiến tranh như cuộc chiến giữa vương quốc Kosala và Magadha; khi vua Ajātasattu bị vua Pasenadi bắt được, đức Phật đã đóng vai trò nhà quan sát trong cuộc trao trả tự do cho vua xứ Magadha này; làm trung gian hoà giải giữa các bộ tộc Shakya và Kosala trong việc tranh chấp nước sông Robimi; và đặc biệt trong những ngày cuối đời, Ngài cũng ngăn chặng được một cuộc thảm sát có thể xảy ra, khi vua Ajātasattu có ý định xâm chiếm nước cộng hoà Vajji (Bạt-kì)[20] trù phú. Trước khi đức Thế Tôn rời thành Magadha (Vương Xá) đến Kusinārā (Câu-thi-la) nhập diệt, vua Ajātasattu sai vị đại thần Vassakāra (Võ-xá)[21] đến thăm dò ý kiến của đức Phật về mưu định của nhà vua muốn thôn tính nước Vajji. Đức Phật đã phân tích tính chất và thực trạng xã hội của quốc gia nhỏ bé sắp bị xâm lăng này:
"Dân chúng thường hay tụ họp đông đảo để bàn việc nước, việc làng; dân chúng tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết; dân chúng không ban hành những luật lệ không được ban hành, sống đúng với truyền thống như đã ban hành thuở xưa; dân chúng tôn trọng và đảnh lễ những trưởng lão và nghe theo lời dạy của những vị này; dân chúng tôn trọng phẩm hạnh của phụ nữ, không bắt cóc và cưỡng hiếp họ sống với mình; dân chúng bảo vệ, tôn trọng, đảnh lễ và làm vẻ vang tôn miếu của họ dù xa hay gần, không xao lãng những việc nghi lễ cổ truyền; dân chúng bảo hộ và cúng dường cho những vị tu hành chân chính"[22].
Đây là những yếu tố hình thành trọng lực quốc gia; nguyên tắc qui tụ lòng người, hợp quần sức mạnh mà dân Vajji đã có được. Cho dù quân xâm lược hùng mạnh có thôn tính được đất nước họ đi chăng nữa, cũng không sao thủ tiêu được bản sắc dân tộc và ý chí yêu nước của họ. Sau khi nghe bảy điều kiện của một quốc gia cường thịnh mà dân chúng nước Vajji đã hội đủ, đại thần Vassakāra xin cáo từ đức Phật; biết vua xứ Magadha không thể nào chiến thắng được quốc gia Vajji, nên cuộc chiến không xảy ra.
Không những Phật giáo đã hoá giải các cuộc xung đột bạo lực chiến tranh trong tình thế nước sôi lửa bỏng, mà còn tham gia dập tắt nguy cơ ấy trong mầm mống, cảm hoá những ông vua hung bạo, hiếu chiến như Asoka (300-232 BCE). Ông ta đã từng thực hiện những cuộc chinh phạt đẩm máu; sau cuộc đại thắng nước Kalinda (gần vịnh Bengala), chỉ bằng gươm và đao mà quân đội của ông đã phơi thây đồng nội mấy trăm ngàn người. Nhà vua vô cùng hối hận chỉ vì chinh phạt một dân tộc bất khuất đã mang lại sự tàn sát và nô lệ cho dân tộc này. Đức Vua hối hận, đau khổ và phát nguyện nương vào Đạo đại từ bi. Ngài đã ban hành một Đạo luật trên toàn cõi Ấn Độ rằng:
"Tất cả chúng sinh đều được an vui, tự kiểm, lạc tâm và hỉ hạnh theo tinh thần Đạo pháp, chiến thắng cao cả nhất là sự chiến thắng của Đạo pháp"[23].
Không phải với sự chinh phạt bằng gương giáo mà khiến cho triều đại Maurya của Asoka huy hoàng, trái lại cũng vì lý do này khiến cho triều đại của ông ta phải trải qua bao phen nguy khốn. Nhưng từ khi Đức vua Asoka từ bỏ ý đồ chinh phục bằng gươm giáo với những quốc gia nhược tiểu, mà đi đến sự chinh phục bằng Đạo pháp khiến cho các nước qui tụ dưới quyền mà không đổ một giọt máu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ có sự thống nhất. Không những thế mà đây là thời kỳ thịnh vượng nhất của Ấn Độ, chính thời kỳ này ảnh hưởng tinh thần Ấn Độ và nhất là của Phật giáo lan tràn từ Á sang Âu.
Ngày nay, Phật giáo hầu như đã biến mất khỏi Ấn Độ do cuộc thảm sát của quân xâm lăng Hồi giáo (642 AD). Nhưng tinh thần chánh pháp vẫn bất tuyệt, vẫn in đậm vào lòng dân tộc Ấn Độ; vẫn bằng chinh phục bằng Đạo pháp, tinh thần Bất bạo động[24] mà Thánh Mahātma Gandhi đã đem lại sự độc lập cho Ấn Độ trong tay người Anh mà không phải đổ một giọt máu. Từ đó, những biểu tuợng quốc gia Ấn đều lấy ở Phật giáo như: con Sư tử bằng đá bốn đầu của vua Asoka, tượng trưng cho Giáo lý Tứ đế Phật giáo nay là Quốc Ấn nước Cộng Hoà Ấn Độ; cái vòng Pháp luân được in ngay trên Quốc kỳ, và danh hiệu Dharmacakrapra-varttanāya (Chuyển pháp luân vương) được khắc lên chỗ ngồi của Tổng thống.
Trước những vấn đề nan giải xã hội như kinh tế, chính trị,…cực đoan hiện nay, tạo ra bao biến động toàn cầu như chiến tranh, khủng bố, đói khát, tật bệnh, ô nhiễm,v.v… đều do thiếu hiểu biết và từ tâm, rơi vào tư kỉ, hẹp hòi. Bao cảnh nhồi da nấu thịt, lửa bỏng dầu sôi của chiến tranh và đói nghèo khi âm ỉ lúc dữ dội đang diễn ra đó đây khắp thế giới như Iraq, Kosovo, Bosnia, Gaza, Afganistant, Pakistant,v.v... không có hồi kết thúc, đẩy nhân loại đến bờ vực thẳm diệt vong.
Trong lúc Việt Nam đang hội nhập sâu vào sân chơi chung của toàn cầu, cục diện chung của thế giới hiện tại rất nhạy cảm với các tiềm năng phát triển cũng như nguy cơ biến động. Bài học kinh nghiệm ngót 2 ngàn năm có mặt của Phật giáo trên đất Việt và cũng là bài học xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam: kinh tế và chính trị có bình ổn đất nước mới phát triển; nhất là trong xu thế đất nước thay da đổi thịt hiện nay, cần có một giải pháp khôn ngoan, chính sách trong sáng và chính trị mềm dẻo. Xưa nay, nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới chỉ vì thiếu khôn ngoan mà đưa dân tộc và đất nước mình vào cảnh lầm than[25].
Trước tình hình ấy, trầm tư chuyện xưa mà ngẫm nghĩ chuyện nay, ôn lại những lời dạy của đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni ngót ba ngàn năm qua. Chúng ta không khỏi kinh ngạc, những lời dạy của ngài rất trí tuệ vì đã thuyết minh về qui luật vận hành của vũ trụ và nhân sinh, đầy từ bi vì đem lại hiệu năng tác dụng ban vui cứu khổ cho con người và muôn loài. Cho dù với phương thức tư duy và lý luận hiện đại về xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường,v.v…mới mẻ, nhưng ý tưởng này cũng đã có mặt rất sớm và rất đổi sâu xa trong Giáo pháp của đức Phật xa xưa.
Thật vậy, vì cuộc sống trên cõi đời này mang nguyên lý "duyên sinh-vô ngã"[26], cộng sinh và cộng hưởng, chỉ có hiểu biết và từ tâm, nên mở rộng con đường sống cho kẻ khác như là một cơ hội tốt cho bản thân; được vậy, may ra mới có thể cứu nhân loại ra khỏi cảnh nghiệt ngã lầm than của chiến tranh, bạo lực, đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai,v.v…
Xuyên qua Giáo pháp để tìm kiếm giải pháp hiệu quả, thiết thực và bền vững cho các vấn đề xã hội hiện nay, điều mà Đức Phật đã đề cập rất nhiều trong Giáo điển của Ngài như trên đã trình bày. Từ đó, chúng ta nhận ra, chính trị và kinh tế luôn là mối quan hệ tương duyên và tương tác, chính trị có thông thoáng thì kinh tế mới phát triển. Nếu chính trị là ý thức thì kinh tế là hành động. Ý thức có trong sáng thì hành động mới có hiệu năng, và xã hội mới có công bằng, dân chủ, văn minh; và ngược lại. Điều đó có nghĩa, mọi chúng ta không thể đi tìm hạnh phúc hoặc thủ lợi cho riêng mình, mà phải ý thức sống quên mình, biết đặt quyền lợi bản thân trong quyền lợi của cộng đồng xã hội. Mọi ý thức và hành động đều hướng về phụng sự và phục vụ nhân quần. Một xã hội tốt đẹp phải là xã hội bao gồm những nhân tố biết phụng sự và hy sinh; đặc biệt, vai trò thủ lĩnh, lãnh tụ quốc gia phải là những người thông thái và thanh liêm; họ chính là hạt nhân, là động cơ vận hành con tàu quốc gia hướng đến đích vinh quang cho xã hội "công bằng, dân chủ, văn minh, hoà bình và thịnh vượng".
-----------------
Chú thích:
[16] Thánh chiến Hồi giáo (Jihad), Thánh chiến Thiên chúa giáo/ Thập tự chinh (crusade).
[17] Dhp.129-201-225
[18] lòng bi (s-p:karuṇā) và lòng từ (s:maitrī, p:mettā) đối với tất cả chúng sinh.
[19] Anguttara Nikāya I, Chapter III, §§.4,5. Two sayings about war, Rhys Davids, 1950, PP.109-110
[20] Vajji (tức Vrijji): một bộ tộc theo thể chế cộng hoà (Solas Mahajanapadas; republics), nơi giao thương giữa 16 Đại Vương quốc (Mahājanapadas: Great kingdoms), rất tiến bộ và thịnh vượng, thuộc miền Bắc lưu vực sống Hằng, một phần của miền Nam và Tây Nam Ấn Độ châu lục. Theo Anguttara Nikāya I, P.213; IV, PP.252, 256, 261: Phật giáo phát triển rất thịnh hành tại đây vào thời Phật tại thế.
[21] Anguttara Nikāya IV, Rhys Davids, 1950, P.11
[22] Dīgha Nikāya II, No.16, Mahāparinibbānasutta, Edi. F.Max Müller, 1956, PP.79-81
[23] Đặc san hoằng pháp số 3, Bi ký Asoka, Viện Hoá Đạo GHPGVNTN, 1973, tr.118
[24] bất hại (s:āhiṃsa), bất sát (p:pāṇāṭipātā paṭivirati/ ~ veramaṇī) (Dīgha Nikāya I, No.5, Kūtadantasutta, Edi. F.Max Müller, 1956, P.165)
[25] Chính trị hà khắc còn dữ tợn hơn cả cọp beo. (苛政猛于虎: hà chính mãnh vu hổ) (Khổng Tử)
[26] Pratītyasamutpāda-ānatta
29/09/2021
12/05/2021
29/03/2021
01/02/2020
04/08/2019
03/08/2019