28/04/2026
🍀 Có những ký ức không chỉ để nhớ, mà để tri ân. Có những năm tháng đi qua bom đạn, gian khó, thiếu thốn… nhưng vẫn sáng lên bằng ý chí, tình thầy trò và khát vọng giữ lửa học hành giữa núi rừng Tây Bắc. “Nhớ một thời dạy học ở Mộc Châu” không đơn thuần là hồi ức của một nhà giáo cũ, mà là những trang ký ức sống động về một thời tuổi trẻ đã gửi trọn nơi mái trường cấp 3 Mộc Châu thân yêu — nơi lớp học dựng dưới tán cây, tiếng máy bay gầm trên đầu và từng bài giảng được giữ gìn bằng cả sự can trường, hy sinh.
💥 Xin trân trọng giới thiệu những dòng tâm sự sâu nặng của thầy giáo Lương Tất Đạt _ GV Vật Lý ( sau chuyển về HN dạy tại Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam) Để hôm nay chúng ta thêm hiểu, thêm biết ơn và thêm tự hào về truyền thống kiên cường của các thế hệ thầy và trò nhà trường.
♥️ "NHỚ MỘT THỜI DẠY HỌC Ở MỘC CHÂU" 🌟
Tôi dạy học ở trường cấp 3 Mộc châu từ tháng 10 – 1964 đến tháng 9 – 1974 (trừ một thời gian ngắn dược điều chuyển lên trường cấp 3 Tô Hiệu ở thị xã Sơn La). Từ tháng 6 – 1965, máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá ác liệt thị trấn Mộc cháu, do đó một nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu lúc đó là phải làm sao bảo đảm an toàn tính mạng cho học sinh khi đang học ở trường. Các em học sinh được giáo dục ý thức tự bảo vệ mình: khi di đén trường hoặc về nhà, phải khoác vải hoặc lá ngụy trang, đội mũ bện bằng những búi rơm dầy để hạn chế khả năng sát thương nếu chẳng may bị mảnh bom hay viên bi trong bom bi văng vào đầu. Lúc này, trường đã sơ tán từ thị trán Mộc châu vào một dốc núi ở khu rừng sát với bản Mòn. Các lớp học đều được dựng dưới những tán cây to để máy bay Mỹ khó phát hiện. Mỗi khi lợp xong một ngôi nhà, chúng tôi lại lấy những cây dứa dại (rất sẵn ở khu rừng đó) phủ lên mái nhà để ngụy trang. Một diều rất may mắn là trong địa phận của trường có một cái hang đá ăn sâu vào trong lòng núi, trên nóc hang là những lớp đá rất dày, trong lòng hang lại có một cái ngách tạo thành hình chữ L, có thể chứa được tất cả hàng trăm học sinh trong trường. Để học sinh ở các lớp có thể vào trú ẩn trong hang mỗi khi có báo động, thày trò đã đào những hào giao thông có nắp, dẫn từ mỗi lớp học vào cửa hang. Những lúc có báo động, thày trò đều chạy vào hang. Nhưng một số em học sinh vẫn chủ quan không chịu vào hang ngay, cứ đứng ở bên ngoài nhớn nhác nhìn máy bay. Như thế rất nguy hiểm vì nếu có một quả bom rơi gần đấy thì có thể gây sát thương. Anh em giáo viên chúng tôi cứ phải đứng bên ngoài “lùa” hết học sinh vào hang rồi mới vào hang sau cùng.. Chúng tôi thường nói đùa với nhau: chẳng thà mình chết thì còn đi một nhẽ chứ nếu mình không việc gì mà để có học sinh bị chết thì mình mới thật là “chết”! Có một câu hỏi cứ lửng lơ trên đầu mọi người: nếu chẳng may có một quả bom rơi trúng nóc hang thì có làm sao không? Câu hỏi ấy đến nay cũng chưa có ai trả lời được, vì không có cách gì thử nghiệm được! Chỉ có một điều chắc chắn là: Trong suốt cả cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhà trường vẫn giữ được an toàn. Không có một lần nào máy bay Mỹ phát hiện được địa điểm của trường và bắn phá gần trường. Trong suốt cả cuộc chiến tranh, không hê có trường hợp thương vong nào trong trường.
Chỉ có một lần suýt nữa thì nguy to. Số là khi trường đã rời thị trấn để sơ tán vào rừng, nhà trường sợ khu đất cũ của trường ở thị trấn bị người khác lấn chiếm nên đã chủ trương trồng một số cây lương thực ở đó như là khoai, sắn, d**g riềng..., để như là một kiểu “cắm mốc chủ quyền”, chống lấn chiếm. Những loại cây này không đòi hỏi chăm sóc hàng ngày mà vẫn phát triển được. Vào một buổi chiều muộn tháng 2 – 1966, một số giáo viên và học sinh được phân công di về đó để thu hoạch khoai sắn. Mọi người đang lao động thì có một máy bay Mỹ đến ném bom vào gần chỗ đang làm việc. May là không có thương vong, chỉ có một vài giáo viên và học sinh bị đau vì sức ép của bom, và bị đất đá văng vào người, nhưng sau đó cũng nhanh chóng qua khỏi. Thật là một phen hú vía! Nếu quả bom chỉ chệch đi một chút thì không biết điều thảm khốc gì sẽ xảy ra!
Như vậy suốt từ giữa năm 1965 đến cuối năm 1972, trong điều kiện máy bay Mỹ leo thang đánh phá vùng Tây Bắc, trường cấp 3 Mộc châu của chúng tôi vẫn giữ được hoàn toàn an toàn cho cán bộ, giáo viên và học sinh. Đó quả thật là một thành tích đáng ghi nhận của nhà trường!
Một thành tích nổi bật nữa của nhà trường, đó là việc xây dựng trường lớp. Tôi nhớ là trong nhiều năm, nhà trường không hề được “rót vốn” xây dựng trường lớp, mà tất cả các ngôi nhà ở, lớp học đều là do công sức của thày trò trong trường dựng nên. Có mấy dợt như sau:
-Năm 1965, trường di chuyển khỏi thị trấn Mộc châu, xây dựng các lớp học trên triền núi gần bản Mòn
-Năm 1968, khi Mỹ xuống thang chiến tránh, tạm ngừng ném bom miền Bắc, ta lại di chuyển các lớp học và nhà ở của giáo viên xuống bãi đất bằng bên bờ suối, ven các thửa ruộng của bản Mòn.
-Đến năm 1972, Mỹ ném bom ác liệt trở lại, trường lại di chuyển các lớp học lên dốc núi
-Sau khi hiệp định Paris được ký kết (tháng 1-1973), lại di chuyển các lớp học xuống bãi bằng.
Mỗi lần dựng trường lớp, nhà trường phải vào phòng Lâm nghiệp huyện xin giấy phép khai thác tre. Sau dó, hàng trăm thày trò “hành quân” đi bộ khoảng 5 km trên quốc lộ 6, đén một khu rừng ở chỗ gọi là “cây số 82” để chặt tre. Việc chặt tre trên núi là một việc cũng khá nguy hiểm, nếu không cẩn thận có thể bị trượt ngã hoặc tre đổ vào người... Chúng tôi phải chia học sinh thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm có một em (thường là các em học sinh nam người dân tộc) thành thạo việc đi rừng để trông nom, hướng dẫn các bạn trong nhóm. Đến lúc chặt tre xong, bó lại và vác tre về trường cũng là một việc khá nặng nhọc. Các bạn cứ tưởng tượng một bó 4 đến 5 cây tre nặng như thế, đè lên trên những đôi vai bé nhỏ của thày trò chúng tôi, rồi thày trò lại đi bộ năm, sáu kilômet về trường. Đã thế lại còn phải đề phòng máy bay Mỹ nữa chứ! Chúng tôi phải chia học sinh thành các nhóm nhỏ đi cách xa nhau, mỗi nhóm do một giáo viên phụ trách, hướng dẫn học sinh đi sát vào mép đường để nếu có máy bay thì tản ngay vào rừng. Cũng may, theo tôi nhớ thì chưa có một lần nào đang đi trên đường mà gặp phải máy bay Mỹ cả.
Việc chặt tre tuy khó nhọc như thế nhưng đôi lúc cũng có những kỷ niệm khá nên thơ. Một lần, gần chỗ chặt tre có một dòng suối trong mát, những chùm hoa rừng rực rỡ trĩu xuống là là mặt nước. Tiếng gió thổi vi vu hòa với tiếng suối chảy dạt dào và hương sắc hoa rừng tạo nên một cảnh săc thiên nhiên tươi mát. Mấy thày cô và học sinh lúc đó cảm xúc dâng trào, cùng cất tiếng hát bài “Tình ca Tây Bắc”. Giữa những ngày tháng chiến tranh ác liệt, chúng tôi như được “hưởng trước” những giây phút thanh bình quý giá.
Một lần khác đi chặt tre, chúng tôi nghỉ giải lao trong một vòm hang rộng, trong hang có nhiều thạch nhũ. Sẵn dao chặt tre trong tay, một người lấy sống dao gõ vào một cây thạch nhũ, phát ra một âm thanh lanh lảnh. Mọi người thấy thế cũng lấy dao của mình gõ vào những ngọn thạch nhũ khác, vô tình tạo nên một bản “nhạc rừng” ngân nga thánh thót khiến mọi người ngẩn ngơ xúc động. Chỉ tiếc là ngày ấy không có những phương tiện ghi âm, ghi hình sẵn như bây giờ để ghi lại những kỷ niệm quý giá đó!
Vác được tre về, chúng tôi lại ngâm xuống suối ít lâu sau mới vớt lên sử dụng (đó là kinh nghiệm dân gian để chống mối mọt). Rồi ai dựng các lớp học? Ngày ấy không có tiền để thuê thợ. Nhưng trong trường lại có một lực lượng các em học sinh (trong đó nhiều em là người các dân tộc) thông thạo nghề mộc. Chính các em đã cưa, đục các cây tre, chẻ các rui, mè để dựng lên thành lớp học. Trong thời gian đó, lại có những em vào rừng căt cỏ gianh rồi dánh thành những tấm gianh để lợp lên mái nhà. Khi thưng phên làm vách nhà, cũng không thưng kín vách, vì như vậy lớp học sẽ tối (ngày ấy ở nơi sơ tán làm gì có đèn điện!). Các tấm phên chỉ được thưng đén lưng chừng nhà thôi. Như vậy, những lúc gió lạnh, thay trò ở trong lớp rất rét nhưng cũng đành vậy thôi. Một số em học sinh phải mang vào lớp những ống bơ đựng mấy hòn than hồng để sưởi!
Lại phải nói thêm về những học sinh đi học xa nhà. Gia đình các em ở Nông trường Mộc châu hoặc ở những xã cách xa trường hàng chục kilômet, thường là những nhà nghèo. Các em phải tự dựng lên gần trường những túp lán nhỏ nép dưới những tán cây hoặc vách đá để tránh máy bay Mỹ. Các em ở trong các lán dó để đi học, rồi hàng tuần, các em phải đi bộ về nhà để lấy chút ít gạo, muối mang lên trường để ăn dần trong tuần đó. Rồi các em phải tự tìm những mảnh đát để trồng rau làm thức ăn. Hoàn cảnh sống vất vả như thế mà các em vẫn kiên nhẫn học được hết cấp 3 đấy! Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn tự thấy mình có thiếu sót là ngày đó tôi còn ít tuổi nên cũng chưa hiểu thấu hết những nỗi vất vả, gian khó của các em.
Ngày nay khi các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về những đoàn thiện nguyện đến xây dựng các điểm trường ở vùng sâu vùng xa, chúng tôi lại nhớ ngày trước, thày trò chúng tôi đã hoàn toàn tự lực cánh sinh, tự mang sức lực của mình dựng nên trường lớp để bảo đảm việc dạy và học diễn ra bình thường trong những năm chiến tranh ác liệt. Nhìn những trường học ở miền núi ngày nay được xây dựng kiên cố, trong lớp có đủ đèn, quạt, máy điều hòa nhiệt độ, máy chiếu hình..., tôi không khỏi chạnh nhớ những tháng năm gian khổ khi xưa. Nhưng cũng thấy thật tự hào là thày trò trường cấp 3 Mộc châu của chúng ta đã có một thời vượt lên mọi khó khăn thiếu thốn thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ: “ Dù khó khǎn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.
Chao ôi, Mộc châu, một thời để nhớ!
Ngày 15-4-2026
LƯƠNG TẤT ĐẠT