29/10/2023
Xin trân trọng giới thiệu bài viết của thày Vũ Quốc Tập - nguyên Phó Hiệu trưởng nhà trường ( giai đoan 1981-1989)
Bài viết với những hồi ức đầy xúc động về 1 thời gian khổ nhưng đáng trân trọng! Chân trọng cảm ơn Thày, chúc Thày luôn mạnh khỏe!
KÝ ỨC VỀ TRƯỜNG THPT GIA LƯƠNG SỐ 1
THỜI BAO CẤP GIAI ĐOẠN 1981-1989
Không khí chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 70 năm trường THPT Gia Lương số 1 làm tôi xao xuyến, xốn sang nhớ về mái trường thời bao cấp với bao kỷ niệm vui buồn , gian khổ mà thắm tình thày trò, thắm tình đồng nghiệp.
Tôi được điều chuyển từ Quảng Ninh về công tác tại trường THPT Gia Lương số 1 tháng 9/1981 và công tác đến 9/1989. Giai đoạn này Thày Vịnh làm hiệu trưởng, thày Tự làm phó hiệu trưởng và tôi được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng, bí thư chi bộ, phụ trách công tác lao động hướng nghiệp dạy nghề, công tác văn hóa văn nghệ TDTT và công tác đoàn thể của trường.
Đây là thời kỳ đất nước ta vận hành theo cơ chế tập trung quan, liêu bao cấp. Kinh tế của đất nước lúc đó rất khó khăn, cuộc sống của nhân dân ta nói chung và của các thày cô giáo nói riêng rất gian khổ, thiếu thốn mọi bề. Cán bộ của nhà nước , trong đó có giáo viên được cấp sổ gạo và tem phiếu. Giáo viên lúc đó được tiêu chuẩn 13.5 kg gạo, 0,5 kg thịt, 0,5 kg đường một tháng. Nhiều năm không có gạo phải ăn độn bo bo, bột mỳ. Giáo viên đến trường bằng những chiếc xe đạp cà tàng, lốp trước lốp sau phải băng bó bằng những chiếc dây cao su . Quần áo thày cô cũ kỹ, lên lớp cũng chẳng có chiếc cặp hẳn hoi mà giáo án phải bọc trong những miếng vải mưa.
Các thày cô của trường thời kỳ này phần lớn là ở Hà nội chuyển về, một số là người trong huyện. Tất cả đều phải ở tập thể, chỉ trừ những người ở trong xã Phá Lãng là được ở nhà. Nhà tôi cách trường có 3 km cũng phải ở tập thể, đến chiều thứ 7 mới được về nhà. Tôi với thày Hiến, thày Diến ở cùng một phòng. Các giáo viên ở Hà Nội tự nấu ăn riêng, còn các giáo viên người địa phương ăn bếp ăn tập thể. Buổi sáng phải tự nấu cơm bằng rơm dạ, khói um . Do lương thực thời kỳ này rất khó khăn nên giáo viên chúng tôi được giới thiệu xuống các hợp tác xã xin ruộng để cấy. Tôi và thày Hiến thày Thìn về xin ruộng cấy ở thôn Thủ Pháp xã Quỳnh Phú. Không có trâu, phải cuốc ruộng rồi băm nhỏ , dẵm đất bằng chân. Đến khi cấy xong, lúa đã mọc xanh lại bị trâu bó phá hết. Có những năm cấy ruộng ở khu ấp Táo Đôi, đến lúc sắp được thu hoạch lại bị mưa bão, ngập úng mất trắng.
Tuy cuộc sống khó khăn nhưng lại rất vui, rất gắn bó và sâu nặng tình đồng nghiệp. Nhớ sao những bữa cơm tập thể “ không thịt nhiều rau” nhưng thật vui. Nhớ sao những buổi dự giờ lên lớp, những buổi liên hoan 20/11 theo tổ chuyên môn, những buổi lao động trồng ngô, những lúc đàn hát sau những giớ lên lớp. Ngày đó tôi đánh đàn Măng đô lin, thày Đinh Bộ Trưởng kéo ắc cooc ne ông, Thày Nguyễn Mạnh Hiễn đánh đàn ghi ta. Thế mà có năm đi tham gia hội diễn văn nghệ của ngành giáo dục Hà Bắc chỉ có 3 chúng tôi cũng làm thành một chương trình tham dự hội diễn và được tặng bằng khen.
Cơ sở vật chất của trường thời kỳ này còn rất khó khăn thiếu thốn, nghèo nàn. Cả trường có 2 dãy nhà xây với 8 phòng học từ năm 1961, còn lại là bằng tranh tre nứa lá. Phòng thư viện, thiết bị của trường rất nghèo nàn. Giáo viên lên lớp chủ yếu dạy chay, không đủ thiết bị dạy học.Phương pháp chủ yếu là thuyết trình, diễn giảng. Thế nhưng thày cô dạy rất say mê, rất nhiệt tình, nhiều buổi cháy giáo án, quá giờ. Các em học sinh rất chăm ngoan, học giỏi. Thời kỳ ôn thi tốt nghiệp lớp 10 các em học sinh đều đến học buổi tối tại trường bằng đèn dầu như sao sa khắp sân trường. Tôi dạy môn văn lớp 10, năm đó đề thi vào bài “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa. Thày và trò ôn trúng tủ nên rất vui. Sau này có em học sinh hỏi tôi sao thày biết mà thày ôn đúng vào bài thơ đó. Tôi trả lời “thế mới tài”. Nhưng thực ra cũng may mà trúng tủ thôi.
Thời kỳ này mục tiêu của ngành giáo dục có chuyển hướng. Nhà trường coi trọng công tác giáo dục lao động hướng nghiệp dạy nghề. Các em học sinh phải lao động 1 buổi trên tuần. Sau buổi lao động các em đều được nhận xét đánh giá. Nhà trường đăng ký với Ty giáo dục Hà Bắc chuyên đề về hướng nghiệp lao động nông nghiệp. Nhà trường Phối hợp với phòng nông nghiệp của huyện tuyên truyền và thực hành trồng ngô vụ đông bằng bầu, trồng khoai tây giống Pháp. Các em học sinh nhận với gia đình chăm 1 sào lúa và nuôi 2 con gà tại gia đình theo kỹ thuật đã được hướng dẫn. Cuối năm có báo cáo kết quả về lớp và các lớp báo cáo về nhà trường. Nhà trường tổ chức đóng gạch và tự đun bằng lò thủ công theo kiểu Triều tiên. Mỗi em học sinh mỗi tuần phải tự đóng 20 viên gạch ở nhà, phơi khô rồi nộp cho trường Có lần lò gạch đun tại sân trường đến khi cháy gần hết thì lò bị sạt lở. Ngoài ra các em học sinh còn phải lao động trồng ngô, làm quại bằng bẹ ngô, lấy cát, đào mương làm thủy lợi… Bây giờ nghĩ lại có thể những biện pháp và việc làm lúc ấy không phù hợp với thời kỳ sau này nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục hướng nghệp dạy nghề và hình thành nên nhân cách, phẩm chất của con người lao động.
Công tác Đảng đoàn thể của trường thời kỳ này cũng có nhiều hoạt động nổi bật. Các buổi cắm tại 26/3 hàng năm đã ghi sâu vào kỷ niệm thời học trò của các em học sinh. Năm đó có một tiết mục văn nghệ độc tấu của một em học sinh được mọi người yêu thích và đựơc giải thưởng cao. Em học sinh đó là Nguyễn Như Học, sau này là hiệu trưởng của trường. Đại hội Đảng năm 1986 là Đại hội Đổi mới. Tổng bí thư Đảng là đồng chí Nguyễn Văn Linh. Khẩu hiệu của Đại hội là “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”. Báo nhân dân có mục “ Những việc cần làm ngay” của đồng chí NVL. Thời kỳ ấy trước khi lên lớp giáo viên phái nghe đọc báo tập thể 15 phút. Không khí đổi mới của đất nước ảnh hưởng đến các hoạt động của nhà trường. Những buổi họp của chi bộ rất nghiêm túc, có khi gay gắt, căng thẳng, có hôm họp đến 12h đêm. Tinh thần lúc đó của chi bộ là “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” tất cả các mặt hoạt động của nhà trường để tìm ra một hướng đi cho phù hợp và đưa nhà trường đi lên. Đoàn Thanh niên, công đoàn của trường có nhiều hoạt động nổi bật đã góp chung vào thành tích của trường.
Nhớ lại một thời kỳ khó khăn gian khổ của trường nhưng mà sao mà ấm áp sâu đậm tình đồng nghiệp, tình thày trò. Do điều kiện và yêu cầu công tác, nhiều người chúng tôi đã chuyển sang công tác ở đơn vị khác và bây giờ đã nghỉ hưu .Nhưng dấu ấn và những kỷ niệm khó quên về mái trường THPT Gia Lương số 1 vẫn còn mãi trong chúng tôi.
Nhớ sao những cây phượng già khẳng khưu, mùa hè lại nở rộ những chùm hoa tươi sắc đỏ, báo hiệu một mùa thi, một mùa chia tay về một mái trường. Nhớ sao những lớp học cấp 4, những lớp học tranh tre nứa lá năm nào nhưng là nơi đã rèn rũa bao lớp học sinh trưởng thành. Ngày nay nhiều em học sinh ngày ấy đã là giáo sư, tiến sỹ, kỹ sư, bác sỹ, cán bộ quân đội, cán bộ các cấp các ngành, các giám đốc, phó giám đốc, các doanh nhân thành đạt … Giờ đây lớp giáo viên của chúng tôi ngày ấy đã vào tuổi U70, tóc đã bạc, sức khỏe đã yếu và về nghỉ hưu, vui cùng con cháu. Nhưng những kỷ niệm không phai về ngôi trường THPT Gia Lương số 1 vẫn còn mãi mãi.
Xin cảm ơn các thày cô, các bạn đồng nghiệp,các em học sinh của nhiều thế hệ đã góp phần làm nên truyền thống tốt đẹp của trường. Chúng ta hãy cùng nhau giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó.
Vũ Quốc Tập- Nguyên phó hiệu trưởng, bí thư chi bộ Trường THPT Gia Lương số 1 thời kỳ 1981-1989
Nhà trường cũng trân trọng cảm ơn sự tri ân của các tập thể và cá nhân hướng đến Lễ kỷ niệm 70 năm thành lập trường sắp tới!