20/08/2025
[KỶ NIỆM 137 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG (20/8/1888-20/8/2025)]
Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980) là Chủ tịch nước thứ hai và cuối cùng của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời là Chủ tịch nước đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Người là nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, là “gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân” (Trúc Giang, 2021). Người còn là biểu tượng cho hình ảnh đồng bào miền Nam trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với 92 năm tuổi đời, hơn 60 năm hoạt động cách mạng, được Đảng và Nhà nước phân công giữ nhiều trọng trách, Người đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nhân kỷ niệm 137 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-2025), Câu lạc bộ Sử học xin điểm lại những dấu ấn nổi bật trong cuộc đời hoạt động của Người.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng với bí danh là Thoại Sơn, sinh ngày 20-08-1888, trong một gia đình nông dân khá giả tại Cù lao Ông Hổ, làng An Hòa, tổng Định Thành Hạ, hạt Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang). Thân phụ là cụ Tôn Văn Đề, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Dị, đều là những người nông dân cần cù, hiền lành, chất phác. Tôn Đức Thắng là con đầu lòng cùng một em trai và một em gái, do đó ông còn được gọi với cái tên Hai Thắng, theo thông lệ miền Nam.
Thời thơ ấu, Tôn Đức Thắng được gia đình cho học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học ở trường tỉnh Long Xuyên (năm 1906), 18 tuổi, Hai Thắng lên Sài Gòn học làm thợ máy tại École des Mécaniciens Asiatiques de Sài Gòn (Trường của những người thợ máy Châu Á ở Sài Gòn), là trung tâm duy nhất đào tạo thợ máy tàu thuỷ của Pháp ở Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp anh Hai Thắng vào làm việc tại xưởng Arsenal de Sài Gòn tức xưởng Ba Son, chuyên sửa chữa chân vịt tàu tại phân xưởng cơ khí – trọng tâm của Ba Son. Vốn thông minh, độc lập lại giàu lòng thương người, Tôn Đức Thắng đã nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Nhận ra sức mạnh và những bất công mà giai cấp công nhân phải chịu đựng, năm 1909, Tôn Đức Thắng tham gia vận động anh em học sinh lính thủy bãi khóa. Năm 1910, khi làm thợ máy trong xưởng Cropp thuộc Sở Kiến trúc cầu đường và nhà cửa ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã tham gia vận động anh chị em công nhân chống lại bọn chủ, cai, đánh đập vô lý và đòi tăng lương. Năm 1912, ông tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son, vận động học sinh trường Bách nghệ Sài Gòn bãi khóa. Cuộc bãi công đề ra yêu sách: tăng đồng loạt 20% lương, gọi những người bị sa thải trở lại làm việc, giữ nguyên các lệ cũ. Cuộc bãi công kéo dài nhiều ngày mà không ảnh hưởng đến đời sống công nhân, vì Hai Thắng đã vận động và được công nhân các xưởng khác đoàn kết ủng hộ tiền, gạo giúp đỡ gia đình công nhân trong suốt thời gian bãi công, nên cuối cùng bọn chủ Pháp phải nhượng bộ, chấp nhận các yêu sách. Thắng lợi đó đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin và đem lại những kinh nghiệm bước đầu trong việc vận động, đoàn kết, tập hợp công nhân chống lại bọn tư bản thực dân. Sau sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh đầu tiên của giai cấp công nhân, chính quyền thực dân Pháp đã mở chiến dịch tìm bắt những người lãnh đạo cuộc bãi công. Ông buộc phải tránh đi, cải trang và thay tên khác, xin vào làm cho công ty tàu biển chạy trên Đại Tây Dương, trên chiếc tàu La Coóc, ông đã sang Pháp làm công nhân quân giới tại xưởng Arsenal de Toulon, một quân cảng ở miền Nam nước Pháp.
Ngày 9-10-1916, người thợ máy Tôn Đức Thắng nhận lệnh phục vụ trên chiến hạm Paris của Pháp (nhiều tài liệu khác ghi là chiến hạm France hoặc Waldeck Rousseau – đây ghi theo lời kể của Bác Tôn). Mặc dù chiến tranh thế giới đã kết thúc, chính phủ Pháp vẫn điều động một hạm đội gồm 5 chiến hạm tiến vào biển Đen để tấn công nước Nga Xô Viết. Hơn ai hết, anh Hai Thắng hiểu rằng: “Chống lại Cách mạng tháng Mười có nghĩa là chống lại những lợi ích cơ bản của dân tộc mình, giai cấp mình, và những người thân yêu mình”, do đó ông đã cùng những người có tư tưởng phản chiến quyết định “làm binh biến” ngay trên tàu. Lúc 8 giờ sáng ngày 20-04-1919, Hai Thắng – người thợ máy Việt Nam duy nhất trên chiến hạm đó – đã dũng cảm kéo lá cờ đỏ trên cột cờ của chiến hạm để nhằm biểu thị sự đoàn kết với Cách mạng tháng Mười Nga mà ông đã từng nghe biết và có cảm tình từ lâu. Cuộc binh biến thành công và sau đó Tôn Đức Thắng bị trục xuất khỏi nước Pháp.
Năm 1920, trở về Sài Gòn, Tôn Đức Thắng tích cực tham gia hoạt động nghiệp đoàn và phong trào của giai cấp công nhân, thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật ở Sài Gòn - hình thức tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu sự chuyển biến mới của giai cấp công nhân nước ta từ thời kỳ chưa có tổ chức sang thời kỳ có tổ chức. Tháng 8-1925, Tôn Đức Thắng cùng Công hội đã lãnh đạo công nhân Ba Son tổ chức cuộc đình công để trì hoãn việc sửa chữa chiến hạm Jules Michelet mà người Pháp dùng nó để chở lính sang đàn áp phong trào cách mạng ở Trung Quốc. Lại một lần nữa Bác Tôn đã thể hiện rất cao tinh thần quốc tế vô sản. Giữa năm 1927, Bác Tôn được bầu vào Ban chấp hành Kỳ bộ Nam kỳ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội với chức vụ Ủy viên Ban chấp hành kỳ bộ Nam kỳ. Bác Tôn được phân công trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn. Đến tháng 12-1928, trong quá trình hoạt động cách mạng và vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai. Đêm 2-7-1930, con tàu Harmand Rousseau chở Bác Tôn và những người tù từ Khám lớn Sài Gòn, rời cảng Nhà Rồng đày đi Côn Đảo. Pháp ghi Bác Tôn là “phần tử nguy hiểm”. Tại Côn Đảo, Bác bị giam ở khám 9, banh I (bagne). Với mục đích biến nhà tù thành trường học Cộng sản, Bác Tôn và một số đồng chí thành lập Chi bộ cộng sản nhà tù Côn Đảo do ông Nguyễn Hới làm Bí thư, Bác Tôn và một số đồng chí khác làm uỷ viên. (Trần Minh Trưởng, 2008)
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, từ Côn Đảo trở về đất liền, Tôn Đức Thắng được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiều trọng trách: phụ trách Ủy ban Kháng chiến kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang Nam bộ, Phó Hội trưởng và Hội trưởng Hội Liên Việt, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Vận động thi đua ái quốc, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam... Ủy viên Hội đồng Hòa bình thế giới, Chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt - Xô. Ở cương vị công tác nào, ông cũng luôn nêu cao ý thức, tổ chức kỷ luật của người đảng viên Đảng Cộng sản, gương mẫu đi đầu, không màng danh lợi cho bản thân, sống bình dị, nêu gương sáng về sự trung thành, lòng tận tụy phục vụ Nhân dân. Ông là một mẫu mực về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn, giản dị (Lê Hồng Quang, 2024). Khi Chủ tịch Hồ Chi Minh từ trần, được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), ông đã cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đến thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn, giản dị. Hơn 60 năm hoạt động, phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, vượt qua mọi thử thách nghiệt ngã trong lao tù đế quốc và sự khốc liệt của chiến tranh, luôn gắn bó mật thiết với đồng chí, đồng bào, hiến dâng cả đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Việt Nam, cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Chủ tịch Tôn Đức Thắng vinh dự là người đầu tiên được Quốc hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta, được Đảng, Nhà nước ta trao tặng Huân chương Đại đoàn kết; được Quốc hội nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ trao tặng Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Mông Cổ, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Cuba trao tặng Huân chương Hữu nghị Cuba, Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô trao tặng Huân chương Lênin - Huân chương cao nhất của Liên Xô, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Tài liệu tham khảo
Lê Hồng Quang. (2024). Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Nhà lãnh đạo yêu nước, thương dân. Truy cập ngày 18/08/2025. Link: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/74887/chu-tich-ton-djuc-thang-nha-lanh-djao-yeu-nuoc-thuong-dan.html?utm
Trần Minh Trưởng. (2024). Tôn Đức Thắng và cuộc đấu tranh trong ngục tù Côn Đảo (1930-1945).Truy cập ngày 18/08/2025.
Link:https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/7716/ton-duc-thang-va-cuoc-dau-tranh-trong-nguc-tu-con-dao-%281930-1945%29.aspx
Trúc Giang. (2021). Tôn Đức Thắng, nhà cách mạng được kính trọng và yêu mến. Truy cập ngày 18/08/2025. Link: https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/ton-duc-thang-nha-cach-mang-duoc-kinh-trong-va-yeu-men-1491882462?fbclid=IwAR1DuXaezvNIh0i_UiUXi2jlDqnn-UV1-gWyZ71MsD_MMsvnol7vuT5AVkM&utm
--------------------
Nội dung: Ngọc Anh
Ảnh: Chí Vỹ
------------—------
CÂU LẠC BỘ SỬ HỌC
🌐Fanpage: Câu lạc bộ Sử học - Trường Đại học An Giang
📧Email: [email protected]
06/08/2025
02/06/2025
21/05/2025
19/05/2025
18/05/2025
28/03/2025