01/10/2022
Đêm hoài niệm và tri ân trong lễ Húy kỵ Cố Đại Trưởng lão Hòa thượng Hộ Nhẫn lần thứ XX Đêm hoài niệm và tri ân trong lễ Húy kỵ Cố Đại Trưởng lão Hòa thượng Hộ Nhẫn lần thứ XX
Đại Đức Trưởng Lão Hộ Nhẫn_Khantipāla Mahāthera
01/10/2022
Đêm hoài niệm và tri ân trong lễ Húy kỵ Cố Đại Trưởng lão Hòa thượng Hộ Nhẫn lần thứ XX Đêm hoài niệm và tri ân trong lễ Húy kỵ Cố Đại Trưởng lão Hòa thượng Hộ Nhẫn lần thứ XX
01/06/2021
Link tải sách cuối bài viết.
Bạn đang đọc những dòng này vì cái tựa nực cười đến phát bực của quyển sách. Tôi cũng cảm giác y như vậy khi lần đầu bắt gặp nó như một meme hài trên mạng. Nhưng thay vì lướt qua nó một cách hả hê hay nguyền rủa mấy thằng báng bổ sẽ đọa địa ngục A-tì hay sáng tác thêm vài tấm tranh nhân quả ba đời thì tôi nghĩ tại sao lại không thử làm nghiêm túc về vấn đề này vừa pha một ly nước chanh để uống vừa để tạo một phương tiện hoằng pháp trong một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại.
https://www.dropbox.com/s/fnjr5wcnmqw6w92/HDACNPCNKN.pdf?dl=0
17/05/2021
MỘT QUYỂN SÁCH NHẬP MÔN PHẬT GIÁO?
Nguyễn Quốc Bình
Khởi đầu thực sự là một điều khó khăn nếu ta đoái hoài tới những khả năng diễn ra sau nó. Giáo dục trẻ nhỏ khó hơn gấp bội lần việc giáo dục người thành niên, bởi ở đó, nhất cử nhất động đều có thể dễ dàng hình thành những chiều kích nhân cách khó lường nơi người tiếp nhận. Những môn nhập môn trong bất cứ ngành học nào cũng phải đắn đo việc cân bằng giữa chiều sâu và chiều rộng, giữa độ chính xác và tính dễ hiểu. Những tác phẩm viết cho đại chúng trên phạm vi càng rộng thì càng phải kiêng dè những điều bất trắc có thể xảy ra. Vì sao vậy? Bởi tinh hoa cũng xuất phát từ đại chúng và chuyên gia cũng từng là người vỡ lòng. Một hiểu lầm hay định kiến có thể chặn đứng lại hoặc triệt tiêu đi khả năng phát triển của họ, hoặc tệ hơn nữa là tạo ra những con người dùng lý lẽ để biện minh cho những kiến chấp của mình.
Ta nói về Phật học, một điều đã được nói quá nhiều và quá ít. Quá nhiều bởi suốt hơn 2,500 năm dàn trải trên nhiều miền quốc độ, nó đã được thọ trì, đọc tụng, lưu truyền, luận giải, nghiên cứu, phản biện và phát triển quá nhiều trên mọi tầng nhận thức của xã hội đến nỗi việc ước tính trở nên nan giải. Nhưng nó cũng quá ít bởi vì chừng ấy nỗ lực vẫn chưa đủ để tương thích theo yêu cầu của phát triển đa dạng, vẫn chưa đủ tinh yếu để các truyền thống khác nhau đều nhất quán thấy được mình trong đó. Yêu cầu cho một tập sách Phật giáo phổ thông không hề đơn giản như người ta tưởng.
*
Đâu là các tiêu chí quan trọng nhất cho một quyển sách nhập môn? Có vẻ như sẽ không có một câu trả lời nhất quán cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, ta có thể thấy các tiêu chí này được thể hiện trên cách dùng từ của một số loạt sách dẫn nhập nổi tiếng của nhiều lĩnh vực. Nếu như series For Dummies do IDG khởi đầu đặt tiêu chí về tính dễ hiểu lên trên bìa thì series Very Short Introductions của Oxford xem sự ngắn gọn là điều được nhấn mạnh trên tiêu đề. Trong đó Very Short Introductions còn nêu thêm các tiêu chí về cân bằng (balanced), hoàn chỉnh (complete), gợi ý (thought provoking) ở lời giới thiệu cho series của mình.¹ Ta cũng có thương hiệu Teach Yourself của Hodder Education chia Teach Yourself Languages Series của mình thành các bộ phận theo cấp độ gọi là Get Talking..., Get Started..., Complete..., Enjoy... Series. Ở đây ta thấy ngoài tính dễ hiểu được nhắc lại, còn có tính mạch lạc, tính hoàn chỉnh và sự truyền cảm hứng. Rough Guides của APA, mặt khác, lại có sự giằng co về tính cụ thể ở tiêu đề và nội dung.²
Một thống kê đầy đủ hơn trên dữ liệu lớn của toàn bộ các dạng sách nhập môn sẽ cho thấy cái nhìn đa chiều và chính xác hơn về các tiêu chí của loại sách này theo thời gian, không gian, lẫn đối tượng nhất định. Trong khi chờ đợi những điều đó thì danh sách mà chúng ta có ở đây là các tiêu chí về sự cổ vũ (cheer), rõ ràng (clearness), ngắn gọn (conciseness), đầy đủ (completeness), tương xứng (correspondence), mạch lạc (coherence), cụ thể (concreteness).³’ ⁴ Cổ vũ có nghĩa là truyền cảm hứng, mang tính thảo luận, và gợi mở các ý tưởng mới. Rõ ràng, trong ngữ cảnh này mang nghĩa dễ hiểu, tường minh, không bị hiểu lầm cho ngay cả đối tượng phổ thông. Ngắn gọn có nghĩa là nó cần truyền tải được những thông tin hữu ích và quan trọng mà vẫn sử dụng ít câu chữ. Đầy đủ nghĩa là bao quát được các phần cần thiết thành một tổng thể. Mạch lạc nghĩa là các phần được kết nối với nhau một cách có thứ lớp và mang tính dẫn giải. Cũng mang ý cân bằng, nhưng tương xứng không quan trọng sự đồng đều giữa các bộ phận mà là các phần sẽ được nhấn mạnh theo sự quan trọng của nó. Cụ thể là tránh sự trừu tượng và những tiểu tiết chuyên sâu, mà tập trung ở những điều căn bản với những minh họa cần thiết. Việc lượng hóa 7 tiêu chí trên cho một thang đo nào đó cần thêm các nghiên cứu của xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Trong khi đó, ở đây, ta vẫn có thể ước lượng một cách định tính trên các khía cạnh thể hiện của các tính chất này.
*
CBT, với tư cách là một cuốn sách nhập môn, tức là giới thiệu Phật giáo đến những người chưa biết, cũng cần phải thỏa mãn 7 tiêu chí đó. Với tính cổ vũ, ta chú ý tới các phần thảo luận, các vấn đề nêu ra nhưng chưa được trả lời hoàn toàn. Trong khi đó, CBT, ngay từ tiêu đề và mục đích của nó, thiên về sự trình bày và truyền đạt những điều sẵn có và chung nhất của Phật giáo.
Phần dẫn luận, các lời dẫn đầu mỗi phần hay mỗi đoạn trích, cùng các chú thích và chú giải thuật ngữ (glossary) của CBT là nhằm tăng tính rõ ràng cho sách này. Tuy nhiên những nỗ lực này chỉ càng chứng tỏ rằng các đoạn trích nguyên tác từ nhiều loại cổ ngữ, văn phong và tư tưởng của nó là rất khó tiêu hóa đối với độc giả phổ thông.
CBT cố gắng đảm bảo tính ngắn gọn của mình khi nó giới hạn số trang vào lúc biên soạn. Dung lượng của CBT nhỏ hơn Kinh Thánh khá nhiều, nhưng tất nhiên, vẫn lớn hơn so với “người tiền nhiệm” của nó, TTOB.⁵ Một số đoạn lặp đi lặp lại trong nguyên tác, đặc biệt là Nikāya đã phải được lược bỏ để khi trình bày sẽ không gây khó chịu cho người đọc. Tuy vậy do dàn bài chung và yêu cầu phải trích lục nguyên tác kinh điển nên nhiều đoạn trích lặp lại một ý hoặc các ý không có khác biệt quá lớn, thậm chí là trong cùng một hệ phái; một số đoạn trích dài đến vài trang, trong khi có những đoạn chỉ là 1-2 câu kệ.
Về tính đầy đủ, CBT có cố gắng thu thập tư liệu của ba hệ phái Phật giáo chủ đạo hiện nay trên thế giới. Tuy nhiên, nó bỏ qua sự phân loại tỉ mỉ hơn, như Đại Thừa Ấn-độ và Đại Thừa Đông Á, đồng thời nó cũng bỏ qua các hình thái Phật giáo đã mất. Mặt khác, dàn bài thống nhất của CBT cũng bỏ qua một số đặc sắc của các hệ phái, chẳng hạn như thần chú và các kĩ thuật hành trì đặc sắc của Kim Cang Thừa; hay các giá trị thi ca và nghệ thuật được phát triển trong Đại Thừa.
Trong tính tương xứng, CBT có một sự thiên vị rõ ràng cho Theravāda khi chỉ sử dụng tư liệu của phái này để xây dựng nội dung về đức Phật lịch sử, bỏ qua các nguồn tài liệu có giá trị khác như A-hàm. Các chương còn lại có sự quy hoạch về nội dung chung ngay từ ban đầu cho cả ba hệ phái. Tuy vậy, vì mỗi giai đoạn và mỗi hệ phái Phật giáo có sự quan tâm riêng trong sự phát triển của mình, nên sự quy hoạch chung từ đầu như vậy có thể làm mất đi sự nổi bật của từng hệ phái. Chẳng hạn, sẽ rất khó cho Kim Cang Thừa, một phái thiên về hành trì giải thoát, để hoàn tất nội dung về xã hội và quan hệ nhân sinh trong chương 4.⁶
Mặt khác, dàn bài chung của CBT lại đảm bảo được tính mạch lạc của nó về tổng thể, tức là kết nối các đoạn trích rời rạc từ nhiều ngôn ngữ, hệ phái và thời kỳ theo một hệ thống chung. Logic giữa các phần có thể được thấy qua ý nghĩa tiêu đề của chúng.
Tính cụ thể của CBT đạt ở mức độ cao nhưng lại quá sa đà vào tiểu tiết do ôm đồm mục đích của một quyển sách trích lục. Các dẫn nguồn chi tiết đến số trang và chú giải chi tiết là không cần thiết, đôi khi ảnh hưởng đến các tính chất khác của sách nhập môn. Nhưng do vì CBT không chỉ là một sách nhập môn nên đây là một tình thế mà ta phải có sự đánh đổi.
*
Bộ tiêu chí này là một cách đánh giá cho các sách nhập môn. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo đó, thì ta sẽ có kết luận là các sách kinh điển nói chung, có lẽ thực hiện tốt chức năng gợi nhớ cho tín đồ nhiều hơn là giới thiệu tôn giáo cho người mới.
(trích “Common Buddhist Text – Một tham vọng về quyển kinh thánh Phật giáo”; tiêu đề được đặt mới)
---------------
Hình ảnh: Common Buddhist Text và Phật Điển Phổ Thông. Nguồn: sentrangusa.com
Ghi chú:
¹ Very Short Introductions. Oxford University Press. http://www.oup.com/us/catalog/general/series/VeryShortIntroductions/ Accessed December 10, 2019.
Lời giới thiệu cũ của bộ sách này còn lưu tại các trang khác, chẳng hạn https://www.jedernet-online-services.de/very-short-introductions/ Accessed May 3, 2020.
Trong bản cập nhật của lời giới thiệu này, không được sắp xếp tường minh như cũ, ta bắt gặp những từ hay cụm từ khác, trong đó tiêu chí ngắn gọn (concise) được giữ; gợi ý được nâng lên thành gợi cảm hứng (trenchant, provocative, new ideas, enthusiasm, fascinates); bỏ đi tính hoàn chỉnh, thêm vào tính khả thi (handy, affordable, highly readable) và tính nguyên bản (original).
Very Short Introductions. Oxford University Press. https://global.oup.com/academic/content/series/v/very-short-introductions-vsi/?cc=us&lang=en& Accessed May 3, 2020.
² Bộ sách bắt đầu từ cuốn Rough Guide to Greece xuất bản năm 1982 bởi Mark Ellingham khi ông muốn làm những quyển sách vừa có giá cả phải chăng cho sinh viên, vừa có các nội dung văn hóa cho học giả.
³ Danh sách này được xếp theo độ quan trọng của tiêu chí và phỏng theo thuật ngữ của 7C trong truyền thông.
Ref. Cutlip, Scott M. Effective public relations: Pathways to public favor. Prentice Hall, 1952.
⁴ Tính chính xác (correctness) không được nhấn mạnh do đây gần như là một yêu cầu hiển nhiên.
⁵ Xem 2.1.5. trong toàn văn.
⁶ Chương này Kim Cang Thừa chỉ có 2 đoạn trích, 1 trong đó lại là của Long Thọ ở Ấn-độ. Soạn giả cũng thừa nhận trong lời dẫn của V.12 rằng “Bởi các nguyên tắc trị vì tốt và một xã hội hòa bình đã được chính đức Phật đặt ra, nên không còn gì nhiều để các tác giả Phật giáo sau này bổ sung. Trong khi Kim Cang Thừa, đặc biệt, không phát triển bất cứ lý thuyết xã hội nào của riêng nó, những giáo đồ của nó đã xem các nguyên tắc Đại Thừa về sự từ bi, bố thí và những thứ khác là những hướng dẫn quan trọng nhất trong lĩnh vực xã hội.”
14/05/2021
MỘT LỖI VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CBT (PHẬT ĐIỂN PHỔ THÔNG)
Nguyễn Quốc Bình
Ý tưởng so sánh kinh điển ba hệ phái trên từng chủ đề là nhằm để chứng tỏ rằng cho dù sai khác về hình thức nhưng các hệ phái Phật giáo vẫn mang chung một hệ giá trị. Ý tưởng này mang ý nghĩa dung hòa các mâu thuẫn giữa các hệ phái mà hướng đến một Phật giáo thống nhất trên các giá trị chung đó. Có lẽ ý định đó là một thiện chí của những người khởi xướng và biên soạn, nhưng nó không ổn ở hai điểm quan trọng, một ở logic, một ở xã hội.
Ở khía cạnh logic, nó thiếu đi tính thận trọng khoa học cần thiết khi cố gắng tìm dữ liệu phù hợp để chứng minh cho một kết luận được nêu ra bởi lòng tin, thay vì từ dữ liệu đi tìm một kết luận chưa biết trước. Quá trình chứng minh này có thể, và thật sự đã, gạt bỏ đi các dữ liệu không phù hợp với mô hình được đề ra, nói cách khác là uốn nắn thực tế cho phù hợp với giả định. Mặt khác, việc đi tìm một tiếng nói thống nhất cho Phật giáo có lẽ là không thể làm được một cách chính xác, và ngay cả dàn bài được xây dựng trước khi khảo sát tài liệu cũng là một dạng bias.
Rào cản đầu tiên của việc này chính là dữ liệu. Không chỉ bởi số lượng kinh điển đồ sộ của nó như hiện nay còn lại, chưa kể những gì đã mất, các thư tịch này còn được phân cách bằng bốn ngôn ngữ chính khác nhau của Phật giáo – Sanskrit, Pāli, Hán và Tạng. Khó lòng có ai có thể tuyên bố rằng mình thông thạo được toàn bộ khối dữ liệu ấy để có thể rút ra được một kết luận chung nhất một cách khoa học. Tuy nhiên, nếu như các phái trước đây bị chia cắt bởi ngôn ngữ, địa lý, thời đại, lẫn tổ chức nên khó lòng có thể thông hiểu các phái khác, thì ngày nay, với thế giới phẳng, tư duy khoa học, và sức mạnh công nghệ, có lẽ một ngày nào đó ta cũng có thể xử lý được được khối lượng dữ liệu này theo cách thích hợp.
Song, ngay khi bước qua được rào cản của dữ liệu, ta cũng kẹt vào những vấn đề logic của giá trị. Mỗi giai đoạn, mỗi vùng đất, và mỗi bộ phái có những vấn đề, sự chú ý, quan điểm và cả những hiểu lầm riêng dẫn tới các mặt phát triển riêng, tạo nên bản sắc của từng phái. Do đó, tính đầy đủ không được đảm bảo ở góc độ của từng hệ phái và tính phi mâu thuẫn cũng khó lòng được đảm bảo ở góc độ giá trị chung của Phật giáo. Điều đó không có nghĩa là Phật giáo không có những giá trị chung cơ bản theo nghĩa lấy phần chung mà mọi phái đều nói tới, mà là khó lòng giữ cho tất cả các giá trị này cùng những điều có thể suy diễn từ chúng cứ đứng cạnh nhau mà mãi không mâu thuẫn với nhau.
Nếu muốn vượt qua rào cản này, và cả rào cản trước đó, một cách dễ dàng hơn thì có lẽ ta nên xây dựng một hệ giá trị Phật giáo không theo khoa học mà theo tôn giáo, tức là xem nhẹ lý tính lại và đề cao lòng tin lên. Điều này đã nằm trong ý tưởng ban đầu của CBT và những con người đầy rẫy mâu thuẫn này không phải lúc nào cũng quan tâm đến chân lý, nên cũng không loại trừ khả năng lý tưởng thống nhất này sẽ thành công. Trong trường hợp đó, ta có những hệ quả về mặt xã hội.¹
*
Đến đây, ta có thể hình dung quá trình biên soạn một quyển sách trích lục theo hai hướng, gọi là hướng trên-xuống (top-down) và hướng dưới-lên (bottom-up).
Hướng trên-xuống là cách lập một dàn ý với các nội dung cần nêu ra, sau đó tìm các dữ liệu trong văn hiến để điền vào nhằm chứng minh hoặc minh họa cho các ý này. Hướng này có điểm mạnh là có thể tiến hành nhanh chóng, nhưng phụ thuộc nhiều vào khâu lập dàn ý và có thể mắc phải các thiên kiến chủ quan (bias). Trong trường hợp tính khách quan về dữ liệu được đảm bảo, ta có thể xem cách trên-xuống là một sự phân loại (classification), trong đó các đoạn trích được gán cho một hay nhiều nhãn được cho trước, và trong số các nhãn này, phải có một nhãn là loại “không xác định”.
Hướng dưới-lên là đi từ các văn bản trong kho dữ liệu, cô đọng thành các tư tưởng chính với các trích đoạn đi cùng, sau đó chọn lọc và sắp xếp lại thành một kết cấu dựa trên độ tương đồng giữa các ý tưởng này. Hướng này tỏ ra khách quan hơn cách đầu nhưng sẽ mất rất nhiều thời gian để xử lý từng văn bản một. Nó, do vậy, có lẽ chỉ thích hợp trong một đề tài có phạm vi nhỏ, thay vì các đại tạng đồ sộ. Ta có thể coi cách dưới-lên là một sự gom cụm (clustering), trong đó các đoạn trích được phân tách theo độ gần gũi giữa chúng với nhau, số lượng và tên gọi của mỗi cụm sẽ được quyết định dựa vào người thực hiện.
Vô tình hay cố ý, hầu hết các phương pháp trích lục đều đan xem giữa hai cách này, tức là người biên soạn đọc tài liệu, thiết lập một dàn bài, lại đọc tài liệu thêm, điều chỉnh lại dàn bài… Quá trình này được lặp đi lặp lại trong khi kiện toàn nhận thức về đối tượng nghiên cứu. Ở một điểm nào đó mà kết quả được coi là có thể tương đối chấp nhận được, tất nhiên là theo chủ quan của người biên soạn, thì một phiên bản trích lục mới sẽ ra đời.
Trong giới hạn bài viết này, ở đây ta có khái quát vài điều cho phương pháp luận nghiên cứu trích lục văn bản, rằng toàn bộ quá trình biên soạn, ngoài việc phải tường minh về các tiêu chí, còn cần cụ thể hóa chúng bằng các độ đo, và tách biệt những cách xử lý riêng cho mỗi hướng thực hiện đã nêu.
(trích “Common Buddhist Text – Một tham vọng về quyển kinh thánh Phật giáo”; tiêu đề được đặt mới)
---------------
Hình ảnh: Common Buddhist Text và Phật Điển Phổ Thông. Nguồn: sachhuongtich.com.
Ghi chú:
¹ Xem phần 2.3.4. trong toàn văn.
02/05/2021
GIỚI THIỆU SÁCH THE TEACHING OF BUDDHA (LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT)
Nguyễn Quốc Bình
Vì ngay từ đầu CBT đã được định hướng trở thành một quyển sách giới thiệu Phật giáo đặt trong khách sạn nên nó đã tự đặt mình vào thế phải bị so sánh với ‘người tiền nhiệm’ của mình, quyển The teaching of Buddha (Lời dạy của đức Phật, TTOB) do Phật giáo Truyền đạo Hiệp hội (Bukkyō Dendō Kyōkai (BDK) (Society for the Promotion of Buddhism)) của Nhật Bản biên soạn và phân phối. Cho đến khảo sát của Edwin McDowell được dẫn ở trên,¹ quyển TTOB được coi là đại diện duy nhất cho thánh thư của Phật giáo trong vai trò giới thiệu về đạo Phật ở kênh khách sạn.
Theo những thông tin được BDK công bố trên trang web của mình,² TTOB là tập hợp những lời dạy của đức Phật Thích-ca, được soạn theo một cách dễ đọc để bất kì ai, dù không có nền tảng gì về đạo Phật, cũng có thể tiếp thu dễ dàng. Nó tóm lược yếu nghĩa của hơn 5,000 bản kinh (sutra) được truyền đến Nhật Bản, đồng thời cũng bao gồm các kinh điển Pāli được truyền ở Nam Á. Mục tiêu của TTOB hướng tới sự hoàn thiện tâm tánh con người bằng lời Phật dạy, từ đó xây dựng một xã hội hòa bình.
Quyển sách này đã được biên soạn và chỉnh lý trên cơ sở phiên bản tiếng Nhật của Tân dịch Phật giáo Thánh điển được xuất bản vào tháng 7 năm 1925, bởi Tân dịch Phật giáo Thánh điển phổ cập hội do TT. Muan Kizu đứng đầu. Ấn bản tiếng Nhật đầu tiên này được biên soạn bởi Giáo sư Shūaku Yamabe và Giáo sư Chizen Akanuma, hợp tác với nhiều học giả Phật giáo tại Nhật Bản, mất gần 5 năm để xuất bản.
Dưới thời Chiêu Hòa (1926-1989), Quốc dân bản Phật giáo Thánh điển được Hội xuất bản và phân phối rộng rãi trên khắp Nhật Bản. Vào tháng 7 năm 1934, khi Phiếm Thái Bình Dương Phật giáo Thanh niên Đại hội (Pan-Pacific Buddhist Youth Meeting) được tổ chức tại Nhật Bản, quyển TTOB, bản dịch tiếng Anh của quyển sách trên đã được xuất bản bởi Toàn Nhật Bản Phật giáo Thanh niên Liên minh (All Japan Buddhist Youth Federation), với sự hỗ trợ của ông D. Goddard. Năm 1962, kỷ niệm 70 năm giới thiệu Phật giáo đến Hoa Kỳ, TT. TS. Yehan Numata, người sáng lập Tập đoàn Mitutoyo, đã xuất bản một ấn bản tiếng Anh của TTOB.
Tháng 12 năm 1965, TT. TS. Numata (1897-1994), người sáng lập Tập đoàn Mitutoyo, cùng các pháp hữu thành lập BDK tại Tokyo, với tư cách là một tổ chức phi giáo phái, không quảng bá bất kỳ trường phái Phật giáo cụ thể nào, mà nỗ lực để thúc đẩy và tuyên truyền trí tuệ Phật giáo được tìm thấy trong lịch sử và văn hóa Phật giáo bằng cách phát triển một loạt các hoạt động và chương trình.³ Việc phổ biến văn bản tiếng Anh của TTOB trên khắp thế giới đã được lên kế hoạch thành một trong những hoạt động của Hội Tài Đoàn.
Để hiện thực hóa kế hoạch này, một hội đồng chỉnh lý quyển TTOB này đã được tổ chức vào năm 1966. Thành viên của hội đồng là các Giáo sư Kazuyoshi Kino, Shūyū Kanaoka, Zennō Ishigami, Shinkō Sayeki, Kōdō Matsunami, Shōjun Bandō và Takemi Takase. Giáo sư Fumio Masutani, ông N. A. Waddell và ông Toshisuke Shimizu cũng góp sức chỉnh lý. Nhờ đó, một bản Anh-Nhật đối dịch của TTOB đã được xuất bản bằng cách sử dụng ngôn ngữ đương đại.
Năm 1972, trên cơ sở bản Anh-Nhật này, các Giáo sư Shūyū Kanaoka, Zennō Ishigami, Shōyū Hanayama, Kwansei Tamura, và Takemi Takase đã tiến hành biên soạn một bản tiếng Anh cập nhật, được xuất bản cùng năm. Tiếp theo, một hội đồng bao gồm các giáo sư Ryōatsu Shioiri, Takemi Takase, Hiroshi Tachikawa, Kwansei Tamura, Shōjun Bandō và Shōyū Hanayama (Tổng biên tập) đã được thành lập để biên dịch lại phiên bản tiếng Nhật của TTOB, rồi xuất bản vào năm 1973. Một lần nữa, vào năm 1974, một hội đồng bao gồm các Giáo sư Kōdō Matsunami, Shōjun Bandō, Shinkō Sayeki, Dōyū Tokunaga, Kwansei Tamura, và Shōyū Hanayama (Tổng biên tập) đã được thành lập để biên dịch lại phiên bản tiếng Anh của TTOB, hợp tác với ông Richard R. Steiner. Bản này đã được kết hợp với bản tiếng Nhật (xuất bản năm 1973), rồi xuất bản thành bản chỉnh lý phiên bản Anh-Nhật của TTOB.
Năm 1978, Giáo sư Shigeo Kamata và Yasuaki Nara tham gia vào hội đồng. Năm 1980, hội đồng yêu cầu ông Steiner soát lại bản tiếng Anh, rồi lấy làm cơ sở để dịch sang các thứ tiếng Đức, Ý, Hy-lạp, Trung Quốc, Hà-lan và Nepal bên cạnh các bản dịch Pháp, Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha đã có trước đó. Năm 1981, để quyển sách dễ đọc hơn, ban biên tập đã nhờ một số học sinh cấp ba ở Nhật và Mỹ đọc thử, lấy ý kiến và chỉnh sửa lại.
Năm 2001, các giáo sư Kenneth Tanaka, Shōgo Watanabe, Yoshiyasu Yonezawa, và Sengaku Mayeda (Quyền Tổng biên tập), cũng tham gia vào hội đồng biên tập. Sau đó từ ngày 1 tháng 4 năm 2013, BDK đã được chính phủ Nhật Bản thay đổi tư cách pháp nhân từ Tài Đoàn (Incorporated Foundation) thành Công Ích Tài Đoàn (Public Interest Incorporated Foundation). Từ đó, BDK đã đặt mục tiêu tối hậu là truyền bá trí tuệ và tinh thần cộng sinh duyên khởi của Phật giáo dựa trên cơ sở văn hóa Nhật Bản bằng cách tài trợ cho một loạt các hoạt động văn hóa và chương trình học thuật. Nhân dịp này, tư cách thành viên hội đồng biên tập đã được tổ chức lại với các Giáo sư Sengaku Mayeda (Tổng biên tập), Zennō Ishigami, Kiyotaka Kimura, Kenneth Tanaka, Makio Takemura, Yasuaki Nara, Chizuko Yoshimizu, Yoshiyasu Yonezawa, và Shōgo Watanabe. Hội đồng họp thường niên để cố gắng làm cho quyển TTOB đáp ứng nhu cầu của xã hội đương đại.
Trong khoảng 50 năm, BDK đã phân phát hơn 8.4 triệu bản TTOB ở hơn 13,000 khách sạn lớn, cũng như các bệnh viện và cơ sở giáo dục tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời dịch ra 46 ngôn ngữ khác nhau. Vấn đề bản quyển của quyển sách này được ghi rõ trong trang lưu chiểu của bản tiếng Anh. Theo đó, quyển sách này được phân phối miễn phí, bất cứ phần nào của sách cũng có thể được trích dẫn mà không cần xin phép, BDK chỉ yêu cầu được dẫn nguồn và được nhận một xuất bản phẩm.
Bản Việt dịch của TTOB được giáo sư Yonosuke Takeuchi và giảng sư Nguyễn Dịch Hoàn ở trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo thực hiện từ năm 1983 dưới nhan đề Lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật.⁴ Tuy nhiên, bản dịch này còn quá nhiều vấn đề về văn phong, thuật ngữ, lẫn morasse, cùng cơ chế phân phối của nó, khiến cho tinh thần của quyển sách này không thể lan tỏa được ở Việt Nam. Bản dịch này cũng chưa được đưa chính thức trên trang web của BDK. Thế nên ở đây ta chỉ bàn đến bản tiếng Anh, là bản quốc tế được sử dụng trên thế giới, trong góc nhìn so sánh với CBT.
(trích “Common Buddhist Text – Một tham vọng về quyển kinh thánh Phật giáo”; tiêu đề được đặt mới)
---------------
Hình ảnh: Trái: The teaching of Buddha (Nguồn: Amazon). Phải: Lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật.
Ghi chú:
¹ Edwin McDowell, Bible now shares hotel rooms with other good books, The New York Times, December 26, 1995. https://www.nytimes.com/1995/12/26/us/bible-now-shares-hotel-rooms-with-other-good-books.html Accessed October 21, 2019.
Xem thêm tài liệu dẫn ở phần 2.1.4.1. trong toàn văn.
² http://www.bdk.or.jp/ Accessed October 21, 2019.
³ Sứ mệnh của BDK là đóng góp cho sự tiến bộ và cải thiện lợi ích nhân sinh và hòa bình thế giới bằng cách thúc đẩy các tinh hoa Phật giáo về từ bi, kết nối, văn hóa và nghiên cứu, là nền tảng của văn hóa Nhật Bản, chẳng hạn: 1) Trình bày Phật pháp theo cách hiện đại; phiên dịch và phổ biến kinh điển bằng ngoại ngữ. 2) Hỗ trợ tài chính và khen thưởng những người xuất sắc thúc đẩy tinh thần, văn hóa và nghiên cứu Phật giáo. 3) Hỗ trợ các chương trình giáo dục và nghiên cứu Phật giáo. 4) Cung cấp cơ sở vật chất để thực hiện các chương trình văn hóa Phật giáo. 5) Các dự án hỗ trợ cần thiết khác.
⁴ Bukkyo Dendo Kyokai, Lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật, tr 307, nxb Hồng Đức, 2012.
24/10/2017
NHÂN MÙA DÂNG Y KATHINA, XIN DÀNH ƯU ĐÃI ĐẶC BIỆT ĐẾN CHƯ TĂNG NI, PHẬT TỬ TẠI CÁC PHẬT HỌC VIỆN KHI THỈNH BỘ KINH NIKAYA (giá 2.150.000₫/bộ)
06/06/2017
Bộ kinh Nikaya được nhóm Truyền Đăng hiệu đính rất cẩn thận.
Một bộ sách nên có trong tủ sách của mỗi người, mỗi gia đình Phật tử.
Xin tán thán công đức của các bạn thành viên nhóm Truyền Đăng.
05/10/2016
Ngày mai, 07/9/ 2016 (âl), là lần húy kỵ thứ 14 của ngài Hộ Nhẫn (Khantipala Mahathera), chúng tôi xin thành kính dâng nén hương lòng, và xin ghi lại tiểu sử của Ngài ở đây để chúng ta cùng nhau ôn lại, nhớ cũ mà nói mới...
Hòa Thượng Hộ Nhẫn
Khantipala Mahathera
(1924 - 2002)
Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN
Tăng trưởng Hệ phái Nam Tông
Tọa chủ Thiền Lâm sơn tự, Huế
Trưởng Lão Hòa Thượng thế danh Tôn Thất Thuế, sinh năm 1924 tại thôn Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngài thuộc dòng dõi hoàng gia Đệ cửu hệ, Tứ phòng. Phụ thân là Cụ ông Tôn Thất Tích, pháp danh Nguyên Phước, mẫu thân là Cụ bà Phan Thị Cưỡng, pháp danh Nguyên Thâm, đều là những nông dân hiền lương, chất phác.
Ngài có tất cả năm anh chị em, hai trai, ba gái. Hiện tại, một gái đã mất, còn Ngài và hai em gái đều theo Phật xuất gia. Hai thân Ngài đều đã khuất núi.
I. Thuở ấu thời
Ngài có thể chất văn nhược, mảnh dẻ nhưng có ý chí, nghị lực phi thường; đặc biệt là thông minh, sáng dạ. Năm 1934, lúc 10 tuổi, Ngài đã đỗ bằng Yếu lược. Năm 1937, lúc 13 tuổi Ngài đỗ bằng Primère. Sự học đang thành đạt như vậy nhưng vì gia đình quá nghèo khổ, Ngài đành phải bỏ học để phụ giúp công việc ruộng vườn với cha mẹ.
Năm 1939, lúc 15 tuổi, mặc dù còn nhỏ nhưng do tư cách, phẩm chất đứng đắn, Ngài được cụ Tôn Thất Cổn mời làm thư ký cho Tôn Nhân Phủ ở Thành Nội Huế. Công việc của Ngài là trông coi sổ sách giấy tờ cho Thế Miếu. Ba năm làm việc ở đây, Ngài vừa có đồng lương đỡ đần gia đình vừa có thì giờ để nghiên cứu kinh sách.
II. Xuất gia tầm đạo
Hôm kia, duyên lành dẫn dắt, Ngài đọc được một quyển sách nói về cuộc đời Đức Phật Thích Ca từ Đản Sanh đến Nhập Diệt. Xúc động quá, Ngài tự nghĩ: "Cuộc đời vắn vỏi, sống chết vô thường, ta phải noi gương Đức Phật từ bỏ tất cả để tầm cầu Con Đường Vô Thượng. Đây mới là ước mơ chân chính trên thế gian này mà từ lâu ta hằng mơ hồ dự cảm".
Thế rồi, năm 1942, sau khi suy nghĩ chín chắn, Ngài rời Miếu Đường Hoàng gia trở lại quê nhà, khẩn khoản, tha thiết xin cha mẹ xuất gia làm cho hai vị rất ngạc nhiên. Con đường công danh sự nghiệp đang mở rộng, một đời sống hạnh phúc, cơm no áo ấm đầy hứa hẹn ở tương lai, sao đứa con lạ đời này lại chối từ tất cả? Dẫu thương con nhưng cũng không thể chiều theo ý con để chấp nhận ước vọng nghịch đời, cha mẹ Ngài thẳng thừng từ chối. Tuy nhiên, vừa hiếu từ, vừa ôn nhu; Ngài lấy khổ nhục để tỏ bày ý chí kiên định của mình nên cuối cùng, cha mẹ Ngài đành nuốt nước mắt cho Ngài ra đi.
Thế là vừa tròn 18 tuổi, người con trai nom vẻ khô gầy nhưng cương nghị ấy đã tự cạo đầu, khoác áo nâu sồng tìm đến chùa Cao Minh trong làng xuất gia tu học. Ở đây, Ngài phải tự mày mò tìm kiếm, tự đọc kinh sách và suy nghĩ pháp môn thích hợp cho mình. Tu khổ hạnh là con đường mà Ngài lựa chọn. Thế rồi, mỗi ngày, Ngài chỉ dùng một nắm rau sống bất kể xanh hay vàng, không có muối cùng với bát nước trong, chẳng dùng thêm bất kỳ một thứ gì khác.
Năm 1945, do chiến tranh bom rơi đạn lạc, Ngài cùng với số người thân cận tìm cách tản cư. Trên đường về Huế, gặp chùa Vô Vi, Ngài xin ở lại đây để tu tập. Pháp môn khổ hạnh Ngài vẫn duy trì, đồng thời Ngài vẫn lấy hơi thở làm đề mục thiền định.
Thời gian trôi qua, tính đến hôm ấy thì Ngài ăn rau sống, uống nước lã đã ba năm; thân thể Ngài chỉ còn xương và da, cơ thể quá suy nhược, đã chết đi sống lại mấy lần nhưng Ngài vẫn kiên định, không thối chí, ngả lòng mặc dầu các thân nhân bên cạnh khóc ngày, khóc đêm.
Hôm kia, do quá suy kiệt, máu huyết khô cạn, sự sống chỉ còn thoi thóp, mong manh; từ tư thế tọa thiền, Ngài bất tỉnh, mê lả đi. Trong mơ màng, Ngài thấy có người đến lay gọi rồi nói vào tai với đại ý rằng: "Bồ tát sáu năm khổ hạnh sai lầm, còn Thầy cũng đã hơn ba năm khổ hạnh sai lầm. Khổ hạnh chỉ đưa đến cái chết chứ không thể đưa đến giác ngộ, giải thoát đâu". Tỉnh lại, thấy xung quanh cửa đóng then cài, biết là chư thiên hộ pháp kinh cảm nhắc nhở, Ngài vô cùng tri ân. Bắt đầu từ đây, Ngài ngọ trai bằng hai chén cơm lửng, muối dưa chay đạm với một bát nước trong.
Năm 1947, lúc Ngài 23 tuổi, nghe tiếng tu hành của Ôn Châu Lâm; Ngài từ giã chùa Vô Vi tìm đến Ôn để xin thụ giáo. Ở đây được hai năm rưỡi, Ngài được Ôn Châu Lâm tận tình hướng dẫn Kinh, Luật và chữ Hán, sau đó cho thọ Sa di giới. Nhờ khiêm nhu, đức hạnh, tu hành tinh tấn nên Ngài được Thầy thương, bạn mến, gần xa người người kỉnh mộ.
III. Thọ Đại Giới và dự Hội nghị kết tập Tam Tạng
Vào đầu thập niên 50, Phật giáo Nguyên Thủy đã có mặt ở miền Trung, Ngài được thấy, được gặp Hòa Thượng Giới Nghiêm. Do tăng tướng phẩm mạo và hình ảnh tam y, nhất bát, đầu trần, chân đất của vị sư nguyên thủy mà làm cho Ngài xúc động mạnh. Ngài tự nghĩ: "Đúng rồi! Đây chính là hình ảnh của Đức Phật và Chư Tăng thuở xa xưa nào ở kinh thành Xá Vệ. Con đường này hợp với chí nguyện và sở thích của ta". Thế rồi, từ giã ngôi chùa Châu Lâm thân yêu, Ngài tìm đến Chùa Tam Bảo, Đà Nẵng và được Hòa Thượng Giới Nghiêm hướng dẫn Kinh, Luật Pàli.
Năm 1952, Ngài được Hòa Thượng Thiện Luật cho xuất gia Sadi, mang y bát; ngày ngày khất thực, thiền định vô cùng tinh tấn.
Cũng trong năm này, Ngài được tháp tùng Hòa Thượng Bửu Chơn đi Miến Điện dự Hội nghị Phật giáo lần thứ 3; sau đó được ở lại để dự Đại Hội kết tập Tam Tạng Thánh Điển Pàli lần thứ 6 tại Rangoon.
Vào ngày 29-12-1955, Ngài được duyên lành tối thắng thọ Cụ Túc Giới tại thạch động Pirimangalà; Thầy Tế độ là Đại Hòa Thượng Thánh Tăng Pokokku Sayadaw; đương nhiệm Pháp Chủ chứng minh tối cao Đại Hội kết tập Thánh Điển Tam Tạng. Cũng là kỳ duyên hy hữu nữa, hai bậc cao đức tôn giả vấn đáp trong Đại hội kết tập Tam Tạng là Pháp Sư Nandàvamsa tinh thông Tam Tạng Pháp Học; và Thiền Sư Mahàsì Sayadaw, tinh thông Pháp Hành - là hai vị thầy Yết-ma và Giáo Thọ A-xà-lê của Ngài. Tăng Hội chứng minh hôm đó gồm 300 vị cao Tăng của thế giới. Ngoài ra, trong thời gian này, Ngài còn được học Thiền Vipassanà với Thiền Sư Mahàsì Sayadaw nổi danh đương đại.
Sau Đại Hội kết tập Tam Tạng, Ngài thỉnh được Xá lợi Phật, Xá lợi Chư Thánh Tăng và Tam Tạng Pàli Miến về nước. Hiện nay, Xá lợi Phật, Xá lợi Chư Thánh Tăng được tôn thờ ở Thiền Lâm Thánh Tháp và Tam Tạng Pàli Miến còn bảo lưu ở Chùa Tam Bảo - Đà Nẵng.
IV. Sự nghiệp hoằng pháp
Năm 1958, vì nhu cầu của Giáo Hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Ngài rời Tam Bảo tự về trụ trì Chùa Tăng Quang, Gia Hội, Huế; và vẫn giữ hạnh trì bát đầu đà, tùy duyên hóa độ chúng sanh.
Năm 1960, Ngài xin phép Giáo Hội rời Tăng Quang lên thôn Thượng II, xã Thủy Xuân dựng cốc lá giữa tha ma mộ địa vắng người để tu hành. Và chính ở đây, hạnh độc cư thiền định và trì bát đầu đà của Ngài đã xúc động tín tâm và lòng kỉnh mộ của nhiều người.
Năm 1966, Thiền Lâm Thánh Tháp được hình thành và lần hồi, nhờ phước đức thanh tịnh của Ngài, qua vài đợt tu sửa, ngôi chùa mới có tầm vóc như hiện nay.
Tháng 11/1997, Ngài được cung cử vào Thành viên Hội đồng Chứng Minh GHPGVN và Phó Chủ Tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Năm 1998, Ngài được toàn thể Chư Tăng và Phật Tử PGNT suy tôn lên ngôi vị Tăng Trưởng do đạo hạnh thanh cao, pháp lực nghiêm minh và giới luật tinh khiết của Ngài.
Suốt mấy năm trường, vì công việc của Giáo hội, nhu cầu của hệ phái, Ngài ra Bắc, vào Nam dự Đại hội hoặc đi thăm thú các chùa đó đây luôn luôn với nụ cười hoan hỷ. Gặp Chư Tăng hay Phật Tử, bao giờ Ngài cũng sách tấn việc tu hành với lời lẽ giản dị, từ hòa. Và điều đặc biệt nhất, tối thắng và ưu việt nhất là nhờ "thân giáo vô ngôn" từ nơi Ngài mà uy đức của Ngài ngày thêm sáng rỡ. Chư vị Tôn Đức, các bậc chức sắc Giáo Hội và Chính quyền dường như ai cũng cảm mến Ngài. Chư Tăng và Phật tử không kể Nam Bắc Tông, ai ai cũng kỉnh mộ và mến thương Ngài.
V. Năm tháng và trước giờ thị tịch
Chư Tăng và Phật Tử thân tín, ai cũng biết là năm 2002 Ngài sẽ xả báo thân. Do đức khiêm tốn, Ngài thường nói rằng: "Có sinh ắt có tử. Đức Phật, Niết Bàn năm 80 tuổi - nên Sư muốn ra đi với tuổi thọ sau Đức Phật chút ít." Biết lời nguyện của Ngài nên đầu xuân 2002, một số Phật Tử đứng ra tổ chức lễ mừng thọ Ngài. Dịp này, Chư Tăng và Phật tử đồng quỳ xin Ngài xả bỏ lời nguyện, trụ thế một thời gian nữa để cho chúng đồ có nơi nương tựa. Ngài chẳng gật đầu, chẳng lắc đầu, chỉ mỉm cười nói: "Thôi, thì cứ để tùy duyên".
Hỡi ôi! Hóa ra "tùy duyên" là vậy. Hóa ra, tùy duyên là đúng như câu kệ của Ngài Sariputta:
"Sự sống chẳng đeo níu!
Sự chết có lo chi!
Còn duyên, thời thì ở
Hết duyên, thời thì đi
Chẳng hy cầu, tham luyến
Tùy hữu vi, vô vi!"
Thế cho nên, gần 80 tuổi, sức khỏe Ngài vẫn tốt, nắng mưa sương tuyết, Ngài vẫn đều đặn khất thực trong xóm làng, hang cùng ngõ hẹp, không bỏ một buổi nào. Ngài ra đi không cảm mạo, không một giờ nằm bệnh, như ngọn đèn, gió thổi qua là tắt. Có lẽ nào lời nguyện xưa của Ngài, Ngài chẳng cần dụng tâm hóa giải làm gì, cứ tùy duyên thôi sao?
Vào lúc 8 giờ sáng, ngày 7 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (12-10-2002), Ngài thâu thần thị tịch như đi vào giấc ngủ vĩnh hằng, thần sắc an nhiên, tươi tỉnh. Vài phút trước khi đi, Ngài còn tỉnh giác, chánh niệm nghiêng người lại, tay phải gối đầu giống y tư thế Đức Phật Đại Bát Niết Bàn.
Ôi! Một ngọn núi vô danh nhưng có một nhân cách tu hành kiệt xuất đến ở thì ngọn núi kia cũng trở nên hữu danh! Một miền rừng cây cỏ bình thường nhưng nếu có một loài hoa kỳ lạ xuất sinh thì cả không gian ấy đều được thơm hương! Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam sau khi các bậc thạc đức, cao tăng ra đi, tòng bách thiền lâm lần hồi thưa bóng; nhưng cuộc đời và hành trạng của Đức Tăng Trưởng quả là tàn xanh đại thụ tỏa bóng mát sau cùng cho tất thảy Tăng tín đồ hậu tấn.
Trời đất không nói gì mà trời thì cao, đất thì rộng. Hư không không nói gì mà hư không che chở dung bao vạn loài! Năm mươi năm qua đi, Ngài chỉ im lặng trì bình, im lặng thiền định mà đã để lại một vầng trăng sáng dịu giữa cuộc đời và giữa lòng người.
Ôi! Thiếu vắng Ngài thì Phật Giáo Việt Nam thưa thớt một tàn cổ thụ, PGNTVN mất đi một người cha lành không ai thay thế nổi; và tín đồ Phật tử mất đi một bậc chân tu sáng ngời đạo hạnh mà người người hằng kỉnh mộ, tôn thờ.
Ngưỡng nguyện thập độ Ba-la-mật của Ngài sớm toàn thiện và viên thành.
(Trích tài liệu của Ban Tổ Chức Tang Lễ Cố Trưởng Lão Hộ Nhẫn,
Thừa Thiên Huế, 20-10-2002)