21/03/2023
3 ĐIỀU MÀ NGƯỜI DÂN QUỐC GIA HẠNH PHÚC NHẤT THẾ GIỚI KHÔNG BAO GIỜ LÀM?
| "Bài học Phần Lan 2.0" - Những "Bí Mật" Của Nền Giáo Dục Hàng Đầu Thế Giới |
Phần Lan một lần nữa được đánh giá là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới trong báo cáo vừa được công bố hôm nay, trong ngày Quốc tế hạnh phúc.
Quốc gia hạnh phúc được đánh giá dựa trên các tiêu chí về hỗ trợ xã hội, thu nhập, sức khỏe, mức độ hào phóng, tình trạng tham nhũng… Phần Lan đứng đầu danh sách năm thứ sáu liên tiếp. Tiếp theo là Đan Mạch, Iceland, Israel, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy, Thụy Sĩ, Luxembourg và New Zealand.
Theo Tiến sĩ Frank Martela, triết gia và nhà nghiên cứu tâm lý chuyên nghiên cứu các nền tảng của hạnh phúc ở Phần Lan, có ba điều mà người dân đất nước hạnh phúc nhất thế giới này không bao giờ làm.
Thứ nhất, không so sánh mình với người khác, thay vào đó, hãy tập trung vào điều làm cho bạn hạnh phúc.
Thứ hai, không bỏ qua các lợi ích của thiên nhiên. Theo kết quả cuộc thăm dò tiến hành năm 2021, có tới 87% người Phần Lan cảm thấy thiên nhiên quan trọng đối với họ vì giúp họ có được sự yên bình trong tâm trí, cung cấp năng lượng và tạo sự thư giãn.
Thứ ba là không đánh mất lòng tin vào cộng đồng. Nếu bạn để quên máy tính xách tay trong thư viện và mất điện thoại trên tàu ở Phần Lan, bạn có thể tin chắc rằng sẽ được nhận lại nó.
Nguồn: VTV24
--
Review sách "Bài học Phần Lan 2.0" - Những "Bí Mật" Của Nền Giáo Dục Hàng Đầu Thế Giới
Trước ngưỡng cửa của thiên niên kỷ mới, bức tranh toàn cảnh của nền giáo dục toàn cầu trông rất khác so với bức tranh ngày nay. Có nhiều quốc gian và vùng tự tin cho rằng họ có nền giáo dục tốt nhất thế giới. Những khoản đầu tư tài chính khổng lồ được đổ vào các cuộc cải cách giáo dục quốc gia, chất chứa những hứa hẹn về sự ưu tú và các giải pháp mau lẹ mang đến hy vọng về một vị trí dẫn đầu trong các bảng xếp hạng quốc tế.
Những nước này không nuôi tham vọng có nền giáo dục tốt nhất trên thế giới. Thay vào đó, họ cố gắng mang lại điều tốt nhất cho trẻ em của mình và cha mẹ của các em. Điều trái khoái là, ngày nay trong những quốc gia đặt mục tiêu dẫn đầu, không nước nào trong số những hệ thống giáo dục thành công hiện tại từng có mục đích vươn lên vị trí số 1. Bài học Phần Lan ra đời trong bối cảnh giáo dục toàn cầu mới nổi lên này.Các nhà nghiên cứu trên thế giới bắt đầu tìm kiếm những yếu tố có thể lý giải cho thành tích tốt đến không ngờ của Phần Lan. Vì sao Phần Lan lại làm tốt đến như vậy. Nguyên nhân nào, động lực từ đâu, cách phương pháp giải quyết cải cách giáo dục nào đã đưa Phần Lan lên đỉnh cao của cải cách giáo dục ? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua 5 chương của cuốn sách “ Bài học Phần Lan 2.0”
Chương 1 : Giấc mơ Phần Lan – một trường học tốt cho mọi người
Phần Lan thời kỳ hậu chiến
Khai thác một vấn đề khá nhạy cảm và mang tầm cốt lõi và chiến lược đối với một quốc gia, song song với phát triển y tế là giáo dục. Ngòi bút của tác giả mang tính tiếp cận và học thuật cao. Với tư duy sắc bén, ông đã đưa ra một bối cảnh xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ - hiện tại – tương lai. Chương này mô tả con đường Phần Lan tiến lên như thế nào từ một nước nông nghiệp nghèo, một nền giáo dục khiêm tốn thành một xã hội tri thức, hiện đại với một hệ thống giáo dục đạt hiệu suất cao và một môi trường sáng tạo mang đẳng cấp thế giới. Mở rộng phạm vi tiếp cận đối với giáo dục từ giáo dục mầm non cho tới những bằng cấp học thuật cao nhất và giáo dục người trưởng thành đã là một lý tưởng ra đời từ lâu trong xã hội Phần Lan. Bắt đầu bằng việc đưa ra bối cảnh lịch sử chi tiết cho việc thực hiện hóa giấc mơ Phần Lan : Phần Lan thời hậu chiến. Chiến tranh luôn luôn là khốc liệt. Nó đã đem lại những hậu quả thương vong nặng nề, suy thoái về kinh tế đối với cả đôi bên. Gánh nặng về kinh tế, hậu quả về bệnh dịch, giáo dục bị trì trệ là hâu quả kéo theo : người chết, người bị thương tật vĩnh viễn, người dân phải tái định cư, phải nhượng lại lãnh thổ của mình cho Liên xô…. Thế chiến thứ 2 chấm dứt là động lực thôi thúc những thay đổi triệt để trong cấu trúc kinh tế - xã hội – chính trị Phần Lan tới mức cần đặt ra ngay yêu cầu cần phải nhanh chóng thay đổi trong giáo dục và các thiết chế giáo dục khác. Quả thực, giáo dục ngay tức khắc trở thành động lực chính đối với quá trình biến đổi xã hội và kinh tế sâu sắc trong thời kỳ hậu chiến.Ba nội dung chủ chốt trong chính sách giáo dục quốc gia Phần Lan từ năm 1945 – 1970 là để thay đổi mô hình truyền thống này :
Cấu trúc của hệ thống giáo dục sẽ tạo điều kiện cho tất cả người dân tiếp cận giáo dục tốt hơn cả về lượng và chất
Hình thức và nội dung chương trình học sẽ tập trung vào phát triển mang tính cá nhân và toàn diện của học sinh
Việc đào tạo giáo viên sẽ được hiện đại hóa để đáp ứng những nhu cầu nảy sinh từ những diễn biến này. Giấc mơ tương lai của Phần Lan được xây dựng trên tri thức và kỹ năng, do đó giáo dục được nhìn nhận là nền tảng xây dựng tương lai
Mặt khác, kinh tế của Phần Lan trong những năm 1950 là thời kỳ kinh tế chuyển tiếp có xu hướng chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và công nghệ.Các gia đình thuộc tầng lớp lao động nhât quyết cho rằng con cái họ cần được hưởng lợi từ nền giáo dục công mở rộng. Rõ ràng là, để trở thành một thành viên được công nhận của cộng đồng và các nền kinh tế thị trường phương tây, Phần Lan cần có một lực lượng dân số có học thức hơn. Đây là tầm nhìn cho cả quốc gia
Giáo dục cơ bản phổ cập
Sức ảnh hưởng của chính trị đến giáo dục của Phần Lan là một điều không thể bàn cãi. Có 3 ủy ban giáo dục liên quan đến chính trị rất đáng được lưu tâm.
Ủy ban chương trình giảng dạy tiểu học
Quan điểm về chương trình học ở Phần Lan đã được dịch chuyển từ tập trung vào chương trình môn học sang mô tả mục tiêu giáo dục, quá trình giáo dục và đánh giá giáo dục. Đây là những bước cải cách đầu tiên nhằm hiện đại hóa chương trình giáo dục của Phần Lan theo chuẩn quốc tế và âm hưởng của những cải cách này vẫn còn vang vọng trong tư duy của chương trình giảng dạy đương đại. Ủy ban cũng đề xuất ý tưởng là nhà trường cần nhắm tới mục tiêu giáo dục thiếu niên để các em nhìn nhận mình như những cá nhân toàn diện, có động lực tự thân để đeo đuổi việc học cao hơn
Ủy ban hệ thống giáo dục
Có chức năng đề ra các quy định đối với giáo dục bắt buộc và xây dựng một khuân khổ chung các nguyên tắc nhằm xác định cách liên kết các phần khác nhau của hệ thống giáo dục lại với nhau. Ủy ban tư vấn rằng hệ thống trường học cần phải tránh lối mòn của việc các em có học lực tốt được định hướng vào các môn “học thuật”, còn các em thích học kỹ năng tay chân hơn vào các công việc “nghề” như cách làm của hệ thống giáo dục song song thịnh hành trước đó. Quan niệm này là một quan niệm hết sức sai lầm mà Ủy ban hệ thống giáo dục có nhiệm vụ gỡ bỏ, định hướng và liên kết các mục tiêu, chính sách tốt hơn, phù hợp hơn
Ủy ban thứ ba có tầm quan trọng chủ chốt đó chính là Ủy ban chương trình nhà trường.
Ủy ban này đã thống nhất hệ thống giáo dục Phần Lan và mang lại sự thay đổi đồng bộ trong các nhánh giáo dục khác nhau để thực hiện hóa giấc mơ giáo dục của Phần Lan
Trường học mới ra đời
Hệ thống trường học toàn diện mới sẵn sàng được đưa vào áp dụng từ những năm 1972. Theo kế hoạch, một làn sóng cải cách sẽ bắt đầu ở phía bắc của Phần Lan, và sẽ lan vào những vùng ở miền nam trong những năm 1978. Đó là hệ thống peruskolulu. Nó đã thổi một luồng gió mới, đem lại những cải cách vượt trội trong giáo dục của Phần Lan. Cải cách nhà trường hỗn hợp khởi động cho sự phát triển các khía cạnh cụ thể của hệ thống giáo dục Phần Lan mà sau này đã chứng tỏ được vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống giáo dục có kết quả tốt.
Thứ nhất, việc hòa nhập học sinh có hoàn cảnh sống và nguyện vọng rất khác nhau trong cùng một trường lớp đòi hỏi phải có một phương pháp tiếp cận cơ bản hoàn toàn mới đối với việc dạy và học. Nguyên tắc cơ hội bình đẳng cho rằng mọi học sinh cần được phải được tạo cơ hội bình đẳng để thành công và thích thú với việc học.
Thứ hai, tư vấn hướng nghiệp trở thành một phần bắt buộc trong chương trình phổ thông hỗn hợp ở tất cả các trường .Mục tiêu của hướng nghiệp là làm giảm thiểu khả năng học sinh đưa ra lựa chọn không phù hợp cho tương lai của các em. Tư vấn hướng nghiệp ngày càng nhanh chóng trở thành nền tảng của cả giáo dục cơ sở lẫn giáo dục trung học, và đến nay vẫn là một yếu tố quan trọng giải thích cho tỷ lệ lưu ban và bỏ học thấp ở Phần Lan. Trong chương trình hướng nghiệp chung, mỗi học sinh ở peruskolulu phải dành hai tuần ở mọt nơi làm việc được lựa chọn.
Thứ ba, peruskolulu đòi hỏi giáo viên đang làm việc ở các trường chuyên mang tính học thuật và trường công dân hướng nghiệp phải nhóm chung vào nhau trong cùng một ngôi trường với một học sinh đủ loại năng lực.
Mở rộng giáo dục trung học
Hai kì học mỗi năm được thay vào bằng năm hay sáu kỳ học dựa vào kế hoạch giảng dạy của các trường. Việc học và dạy được tái cơ cấu trong 6-7 tuần/kỳ học, trong thời gian đóm học sinh sẽ hoàn thành các môn học mà mình đã chọn. Việc này tạo điều kiện cho các trường, học sinh linh hoạt hơn trong cách sắp xếp thời khóa biểu, lich giảng dạy.
Khung chương trình giảng dạy mới chú trọng hơn đến việc hiểu được quá trình phát triển nhận thức của học sinh và kêu gọi các trường phát huy tối đa sức mạnh của chính họ và cộng đồng. Tuy được tự do linh hoạt trong thời khóa biểu học như vậy, nhưng mỗi học sinh cũng phải học kiến thức cơ bản của 18 môn học bắt buộc, hoàn thành ít nhất 75 khóa học, mỗi khóa là 38 tiết. Hai phần ba trong số này là bắt buộc, còn lại là các môn tự chọn. Giáo viên đánh giá thành tích của mỗi học sinh vào cuối kỳ, có nghĩa là mỗi năm học sinh được đánh giá 5 -6 lần, khác hẳn với số lượng 1-2 lần ở Việt Nam
Kỳ thi tuyển sinh đại học và chương trình nghề
Mục đích của kỳ thi này ngày nay là để phát hiện liệu học sinh đã tiêu hóa được kiến thức và kỹ năng mà chương trình giáo dục cốt lõi quốc gia yêu cầu hay chưa, cũng như là thước đo được mức độ trưởng thành phù hợp với mục tiêu trường trung học hay chưa.
Thứ nhất, học sinh phải vượt qua ít nhất bốn bài thi để được trao chứng nhận kỳ thi tuyển sinh. Học sinh phải hoàn thành tất cả các bài thi bắt buộc trong ba đợt thi liên tiếp. Giáo viên của những học sinh dự thi ở trường trước tiên phải đọc bài thi và chấm điểm lần đầu cho các em. Sau đó ủy viên ban môn học của ban độc lập cho điểm độc lập không dựa trên các kết quả chấm của giáo viên trước đó. Thành công của các em trong kỳ thi tuyển sinh đại học trở thành một tài sản trong bộ hồ sơ đăng ký học đại học. Bản chất của bài thi này là để kiểm tra khả năng đối phó, xử lý tình huống của học sinh trong các nhiệm vụ, câu hỏi mở bao trùm tất cả các khía cạnh của cuộc sống :tiến hóa, mất việc làm, ăn kiêng, chính trị, chiến tranh, đạo đức, thể thao…. Những kiến thức như vậy đòi hỏi hiểu biết liên môn, đa ngành
Song song với kỳ thi đại học là các chương trình dạy nghề cũng trải qua những điều chỉnh quan trọng để phù hợp hơn với hình thái chính trị và kinh tế mới. Cấu trúc, chương trình học và phương pháp dạy nghề được đổi mới để đáp ứng kỳ vọng của một nền kinh tế tri thức và cung cấp kỹ năng lao động cần có.
Cấu trúc dạy nghề được đơn giản hóa, chương trình dạy mới được thiết kế để cân bằng nhu cầu có thêm kiến thức kỹ năng chung và những năng lực nghề nghiệp cụ thể mà mỗi khóa học nghề đòi hỏi. Các trường nghề có xu hướng đầu tư ngày càng nhiều những khoản tiền cho việc nâng cao kiến thức và kỹ năng sư phạm của giáo viên.
Việc đưa ra cho học sinh những cái nhìn đúng đắn, tường minh về cả chương trình đại học cũng như định hướng nghề nghiệp ở Phần Lan là yếu tố cốt lõi trong việc khắc phục rủi ro của việc học sinh đưa ra quyết định thiếu hiểu biết về con đường học vấn tương lai của mình
Chương 2 : Nghịch lý Phần Lan
Phần Lan là một điểm đến yêu thích của nhiều nhà giáo dục và chính trị gia đang tìm cách thoát khỏi thực trạng giáo dục kém cỏi và bế tắc trong giáo dục. Nhưng bên cạnh đó, Phần Lan cũng là quốc gia có những nghịch lý kỳ lạ trong nhiều khía cạnh.
Là cái nôi của công nghiệp viễn thông và là một trong những nước có tỷ lệ sử dụng điện thoại di động cao nhất nhưng phần lớn người dân lại là những người hướng nội, ít nói. Người Phần Lan thích ở một mình hơn là tương tác xã hội. Mặc dù thời tiết với khí hậu khắc nghiệt, người Phần Lan vẫn xếp trong số những nước hạnh phúc nhất trên thế giới và một trong số những quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới….
Quả thật, nghịch lý giúp ích hơn so với logic lý trí trong việc tìm hiểu một số đặc trưng cơ bản của người Phần Lan và hệ thống giáo dục của họ. Một trong những giá trị giáo dục của Phần Lan đặc biệt là đặt việc dạy và học cao hơn hết thảy những vấn đề khác khi cân nhắc các chính sách và cải cách giáo dục
Nghịch lý 1 : Dạy ít hơn, học nhiều hơn
Thực trạng tăng số lượng giờ học, giảng dạy và đặc biệt là khối lượng bài tập về nhà khổng lồ là món ăn đặc trưng không thể thiếu ở các quốc gia khác, đặc biệt là giáo dục khu vực Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Đây là cách để khắc phục thực trạng học hành chưa như được kỳ vọng với tư duy logic thông thường. Nhưng giáo dục Phần Lan lại đang đứng lên thách thức chính lối tư duy cũ mòn này.
Học sinh 15 tuổi ở Phần Lan dành ít thời gian cho bài tập về nhà hơn so với học sinh cùng lứa tuổi ở bất kỳ quốc gia nào khác. Đây là một khác biệt của giáo dục Phần Lan so với các nước khác về “số phút làm bài tập về nhà tối thiểu” của các nước khác để học sinh luôn bận rộn sau khi ở trường về. Ngược lại, tư duy về việc này của Phần Lan lại là mục tiêu làm theo ý tưởng “xâm lấn tối thiểu trong giáo dục”, có nghĩa là loại hình học tập trong đó trẻ em được học trong một môi trường ít bị giám sát nhất, có thể học trong một môi trường thoải mái, và có thể học bằng cách giúp đỡ lẫn nhau.
Với ngày học ở trường ở Phần Lan ngắn hơn nhiều so với các nước khác, vậy câu hỏi đặt ra là học sinh sẽ làm gì sau giờ tan học ? .Về nguyên tắc, học sinh tự do về nhà vào buổi chiều trừ khi được giao việc gì đó ở trường. Trường tiểu học được yêu cầu tổ chức các hoạt động sau giờ học cho các em học sinh nhỏ tuổi và khuyến khích thành lập CLB giáo dục hoặc giải trí cho các em lớn tuổi hơn.
Trong một trường trung học điển hình ở Phần Lan, giáo viên dạy trung bình bốn tiếng. Họ có thời gian mỗi ngày để soạn bài, học tập và kiểm điểm lại việc dạy với giáo viên khác. Họ đánh giá thành tích và tiến bộ chung của học sinh mình dạy, soạn và liên tục phát triển chương trình giảng dạy của mình tại trường, tham gia một vài sáng kiến về sức khỏe vè phúc lợi trường học liên quan đến học sinh, bổ túc thêm cho học sinh cần giúp đỡ. Họ đã biến trường học thành một cộng đồng học tập chuyên nghiệp nơi dạy học là một nghề tổng hợp giữa làm việc với học sinh trên lớp và phối hợp với đồng nghiệp trong phòng giáo viên
Các nhà giáo dục Phần Lan không tin rằng cứ giao nhiều bài tập về nhà hơn thì kiểu gì cũng sẽ giúp học sinh học tốt hơn, nhất là nếu đó là những bài tập bình thường và không mang tính thách thức trí tuệ, mà nhưng mô – típ bài bình thường lại thường được giao về nhà bởi trường lớp hiện nay.
Thực tế là nhiều học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở Phần Lan có thể hoàn thành bài tập trước khi ra về. Học sinh 15 tuổi Phần Lan không học phụ đạo riêng hay không học thêm ngoài những gì trường dạy, đối nghịch lại với cảnh học sinh dành hàng giờ sau giờ học ở trường và ngày nghỉ cuối tuần cũng như ngày lễ trong các lò luyện thi như ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản….. Bằng chứng từ những nghiên cứu gần đây nhất cho thấy học sinh Phần Lan ít bị lo lắng và căng thẳng thần kinh hơn so với những nước khác.
Một nền văn hóa học tập thư giãn, không gây căng thẳng và lo lắng chắc chắn đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp các trường học Phần Lan đạt được những kết quả tốt đẹp
Nghịch lý 2 : Kiểm tra ít hơn, học nhiều hơn
Học sinh ở Phần Lan tuy không được kiểm tra theo các cách giống như học sinh ở những nước sử dụng các bài kiểm tra “chuẩn hóa” thường xuyên, song điều này không có nghĩa là không có công cụ đánh giá học sinh ở Phần Lan. Về nguyên tắc, việc đánh giá học sinh ở Phần Lan có thể chia làm ba loại :
Đầu tiên là, đánh giá trên lớp của giáo viên : đánh giá chuẩn đoán, đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết như là một phần của dạy và học. Thứ hai là, đánh giá sau mỗi kỳ học về sự tiến bộ toàn diện của học sinh. Học sinh được nhận một tờ báo cáo đánh giá của một tập thể giáo viên từ tất cả các môn học. Cách làm này ít rắc rối hơn các tiêu chuẩn và bài kiểm tra “tiêu chuẩn hóa” – biện pháp làm mất đi cá tính của các trường dẫn đến việc “thi gì dạy nấy”; “dạy theo bài kiểm tra”. Thứ ba là, đánh giá sự tiến bộ của học sinh qua các bài đánh giá quốc gia.
Việc kiểm tra học sinh đã học gì được ở trường không phải là điều gì xấu chừng nào nó không gây hại cho việc dạy và học. Các vấn đề chỉ phát sinh khi các bài kiểm tra có tính đặt cược cao hơn, chất lượng kém đi, hay chất lượng của bài kiểm tra dùng để đánh giá giáo viên và nhà trường.
Ở Phần Lan không có các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa có tính đặt cược cao trước Kỳ thi tuyển sinh đại học mà học sinh tham gia sau khi kết thúc giáo dục trung học , nên giáo viên có thể tập trung vào việc dạy học mà không bị làm phiền bởi những kỳ kiểm tra thường xuyên phải vượt qua. Việc áp dụng những bài “kiểm tra chuẩn hóa” khiến cho giáo viên có xu hướng thiết kế việc dạy uốn theo những bài kiểm tra này, dành ưu tiên cao hơn cho môn được kiểm tra, và điều chỉnh phương pháp dạy sang luyện tập và ghi nhớ máy móc thay vì chủ động tìm kiếm thông tin, tìm hiểu kiến thức
Nghịch lý 3 : Tăng cường công bằng thông qua thúc đẩy đa dạng
Nguyên tắc mang tính chính sách chủ đạo của cuộc cải cách nhà trường phổ thông Phần Lan những năm 1970 là tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người. Số người nhập cư đến Phần Lan chiếm 5,2% dân số, do vậy các trường học Phần Lan phải thích ứng với tình hình thay đổi này trong khoảng thời gian ngắn để tránh tính trạng phân biệt đối xử.
Hệ thống giáo dục Phần Lan tuân theo nguyên tắc hòa nhập trong việc đối xử với học sinh có đặc điểm và nhu cầu khác nhau. Do đó, trong một lóp học Phần Lan bình thường, người ta sẽ thấy thầy cô giáo dạy cho các học sinh có sự khác nhau trong năng lực, mối quan tâm và nguồn gốc chủng tộc, thường là với sự giúp đỡ của giáo viên trợ giảng . Nói cách khác, Phần Lan đã thúc đẩy được công bằng trong giáo dục trong bối cảnh trường lớp ngày càng trở nên đa dạng hơn
Chương 3 : Ưu thế Phần Lan
Có nhiều yếu tố đóng góp cho danh tiếng hiện tại của hệ thống giáo dục Phần Lan, chẳng hạn như hệ thống giáo dục hỗn hợp 9 năm cho tất cả học sinh, chương trình đào tạo hiện đại lấy việc học làm trung tâm và do giáo viên thiết kế , sự quan tâm có hệ thống dành cho học sinh có đa dạng các nhu cầu đặc biệt, quyền tự chủ và lãnh đạo cho địa phương. Tuy nhiên từ nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy có một yếu tố là điều kiện thiết yếu cho tất cả những thành công kể trên : Đóng góp hằng ngày của những người giáo viên xuất sắc
Văn hóa dạy học :
Theo truyền thống, nam giới và phụ nữ ở Phần Lan muốn kết hôn hợp pháp ở nhà thờ phải biết đọc và biết viết. Do đó, biết đọc và viết đánh dốc cột mốc quan trọng việc một cá nhân bước vào tuổi trưởng thành với các quyền và nghĩa vụ kèm theo. Chủ yếu là nhờ vào vị thế xã hội cao mà giáo viên được trọng vọng và cũng được tin tưởng vô điều kiện ở Phần Lan. Quán chiếu sang xã hội nước ta, nó cũng giống như nghề bác sỹ, luật sư hay giáo viên vậy : “Nghề giáo là một nghề cao quý trong tất cả những nghề cao quý “ – Phạm Văn Đồng. Quả thật, người Phần Lan vẫn luôn coi trọng dạy học là một nghề cao quý, đáng trọng vọng tương tự nghề y, luật hay kinh tế, chủ yếu lấy mục đích đạo đức làm đầu chứ không phải do vụ lợi vật chất, công danh hay phần thưởng.
Hệ thống giáo dục ở Phần Lan không áp dụng chế độ thanh tra nghiêm ngặt ở trường học và không sử dụng hình thức kiểm tra học sinh từ bên ngoài theo tiêu chuẩn chung để thông tin cho công chúng biết về kết quả của trường hay hiệu quả của giáo viên. Giáo viên cũng có sự tự chủ nghề nghiệp để xây dựng kế hoạch làm việc và chương trình giảng dạy của riêng mình dựa theo nhà trường của mình. Toàn bộ sự nghiệp giáo dục ở Phần Lan được chính phủ tài trợ, bao gồm cả đào tạo giáo viên trong các trường đại học nghiên cứu ở Phần Lan
Trở thành giáo viên :
Do tính chất được trọng vọng của nghề dạy học và việc trở thành giáo viên, chỉ những học sinh giỏi nhất và tâm huyết nhất của Phần Lan mới có thể biến những giấc mơ nghề nghiệp đó trở thành hiện thực. Điều gì khiến cho việc dạy học trở thành một nghề hàng đầu ? Có ba điều kiện thu hút người trẻ giỏi nhất vào nghề dạy và giữ họ trong trường học. Thứ nhất và quan trọng nhất là : nơi làm việc của giáo viên phải tạo điều kiện để giáo viên hoàn thành mọi sứ mệnh đạo đức của mình. Thứ hai, ngành sư phạm cần có tính cạnh tranh và khắt khe để thu hút học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của Phần Lan vì đây là chương trình cấp bằng Thạc Sỹ do đó phải có đủ thách thức với những học sinh này. Tấm bằng này cũng hội tụ đủ điều kiện để cho phép cá nhân làm việc trong cơ quan chính phủ hoặc chính quyền địa phương, dạy ở trường đại học…. Nói cách khác, đây là tấm vé vàng mở mọi cánh cổng, con đường việc làm cho họ sau này. Thứ ba là, thang bậc lương không phải động cơ chính để làm giáo viên ở Phần Lan mặc dù lương giáo viên cao hơn một chút so với mức lương trung bình của quốc gia.
Giáo viên là nghiên cứu viên, là lãnh đạo :
Đào tạo giáo viên dựa trên nghiên cứu nghĩa là tích hợp các lý thuyết giáo dục, phương pháp nghiên cứu và thực hành, tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong các chương trình đào tạo giáo viên ở Phần Lan. Chương trình học của ngành sư phạm được thiết kế để tạo sự liên tục có hệ thống nền tảng tư duy giáo dục, đến phương pháp nghiên cứu giáo dục, rồi tới các lĩnh vực cao cấp hơn trong khoa học giáo dục.
Mỗi sinh viên theo đó hình thành cả sự hiểu biết về bản chất của hệ thống, liên ngành của thực hành giáo dục. Sinh viên Phần Lan cũng học kỹ năng thiết kế, thực hành và trình bày nghiên cứu ban đầu về các khía cạnh thực hành lý thuyết hoặc giáo dục
Ở Phần Lan, dạy học thường được coi là một nghề có đòi hỏi khắt khe, yêu cầu bằng cấp/năng lực chuyên môn rất cao, kể cả với việc trở thành giáo viên dạy học sinh nhỏ tuổi . Môi trường tôn sư trọng đạo giáo viên Phần Lan được trải nghiệm là một yếu tố quan trọng không chỉ đối với các chính sách đào tạo giáo viên mà còn góp phần giải thích tại sao nghề dạy học ở Phần Lan lại được giới trẻ ngưỡng mộ. Xây dựng chương trình giảng dạy là trách nhiệm của giáo viên, nhà trường và thành phố chứ không phải của nhà nước. Điều này hàm ý rằng quyền lãnh đạo đã thuộc về tay của giáo viên, là người trực tiếp đi trước đón đầu, sẵn sàng chấp nhận thay đổi, cải tổ giáo dục.
Hiệu trưởng trường học phải hội tụ tiêu chuẩn dạy học ở ngôi trường mà họ lãnh đạo, và phải có thành tích giảng dạy tốt. Họ cũng phải hoàn thành các khóa học về quản lý và lãnh đạo giáo dục do các trường đại học ở Phần Lan tổ chức. Không những vậy, hiệu trưởng phải là một giáo viên có kinh nghiệm với năng lực lãnh đạo đã được chứng minh và nhân cách phù hợp
Giáo viên có học vấn cao hơn không chỉ làm việc hiệu quả trên lớp mà họ còn được trang bị tốt hơn để giữ cho hệ thống giáo dục của mình lành mạnh và tránh được các tác động từ các ý tưởng cải cách gây hại cho cả giáo viên và học sinh. Tiền năng lớn nhất của sự nghiệp đào tạo giáo viên Phần Lan nằm trong tay hàng trăm người trẻ tài năng và có động lực, ngày này qua ngày khác. Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với thành công bền vững và thành tựu tương lai của công tác đào tạo giáo viên, tiếp tục phát triển để đảm bảo rằng , trong tương lai, sư phạm vẫn là một lựa chọn hấp dẫn và cạnh tranh dành cho người trẻ có năng lực. Quả thực, dạy học không phải là khoa học tên lửa, nhưng thực chất còn vất vả hơn nhiều. Đây là bài học mà Phần Lan có thể mang lại cho các nước khác
Chương 4 : Cách Phần Lan
Phần Lan có một nền kinh tế quốc gia cạnh tranh, mức độ tham những thấp, chất lượng cuộc sống tốt, một lối sống phát triển bền vững mạnh mẽ, và bình đẳng giới. Những phẩm chất này khiến Phần Lan trở thành một trong những nước thịnh vượng nhất thế giới
Sức mạnh của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là một nghịch lý văn hóa : nó vừa thống nhất vừa đa dạng hóa giữa các dân tộc và các nền văn hóa. Nó thống nhất các chính sách giáo dục quốc gia bằng cách lồng ghép các chính sách này vào cùng với các xu hướng toàn cầu lớn hơn. Kết quả là, toàn cầu hóa cũng thúc đẩy nhanh sự phối hợp quốc tế, trao đổi ý tưởng và chuyển giao chính sách giáo dục giữa các hệ thống giáo dục
Phong trào cải cách giáo dục toàn cầu (GERM)
Từ năm 1980 đến nay, có ít nhất 5 đặc điểm chung trên toàn cầu của các chính sách giáo dục và các nguyên tắc cải cách giáo dục được sử dụng để cải thiện chất lượng giáo dục Đó chính là :
Tăng tính cạnh tranh giữa các trường
Tiêu chuẩn hóa trong giáo dục
Tập trung vào các môn học cốt lõi
Trách nhiệm giải trình dựa trên bài kiểm tra
Lựa chọn trường học
So sánh với các tiêu chí của giáo dục Phần Lan thì hai mô hình này hoàn toàn trái ngược lại với nhau. Mô hình cải cách của Phần Lan thì dường như có xu hướng đi ngược lại : Hợp tác giữa các trường, cá nhân hóa việc học, tập trung vào toàn bộ học sinh, trách nhiệm dựa trên lòng tin và bình đẳng kết quả. Một đặc điểm của việc dạy và học ở Phần Lan là xã hội đặt niềm tin lớn vào giáo viên và hiệu trưởng về các phương diện : Chương trình đào tạo, đánh giá, tổ chức việc dạy và đánh giá công việc của trường. Một đặc điểm khác là cách trường khuyến khích giáo viên và học sinh thử nghiệm ý tưởng và cách tiếp cận mới, biến trường học thành một nơi sáng tạo và tràn đầy cảm hứng để dạy và học. Hơn nữa, việc học có mục đích nuôi dưỡng sự đổi mới trong khi vẫn nuôi dưỡng di sản sư phạm của nhà trường
Một nền kinh tế đổi mới sáng tạo :
Sự chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế và nhu cầu đối với loại hình kiến thức kỹ năng tinh vi cao trong các ngành kỹ thuật cao mang lại cho hệ thống giáo dục Phần Lan những cơ hội độc đáo để đổi mới triệt để.
Đầu tiên, các khoản đầu tư được đổ vào các hoạt động đổi mới sáng tạo thay vì vào các hoạt động truyền thống, chuyển sang ngành công nghệ cao và truyền thông di động. Thứ hai, việc tích lũy và phát triển tri thức trở thành đặc điểm đảo ngược bứt phá then chốt kéo Phần Lan ra khỏi suy thoái. Không có nhiều tài nguyên thiên nhiên để trông cậy vào, nên Phần Lan chủ yếu dựa vào những yếu tố quyết định trong các chiến lược tăng trưởng. Đó là tri thức và quá trình quốc tế hóa tích cực nền kinh tế và giáo dục của mình
Sáng tạo từ nước ngoài, thực hiện ở Phần Lan :
Những cách làm thành công nhất trong sư phạm, đánh giá học sinh, lãnh đạo trường học, học sinh và cải thiện môi trường học ở Phần Lan chủ yếu là du nhập từ nước ngoài . Năm ý tưởng giáo dục của Mỹ dưới đây đã đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh thành công giáo dục ở Phần Lan
Triết lý giáo dục của John Dewey :
Đó là việc lấy trẻ em làm trung tâm của giáo dục, nguồn cội giáo dục. Các trẻ em trai và trẻ em gái đều phải học tất cả những kỹ năng thực tiễn mà người ta cần đến trong cuộc sống hằng ngày, tăng cường tiếp cận của học sinh đối với quá trình ra quyết định liên quan đến cuộc sống và việc học của học sinh ở trường
Học tập hợp tác :
Học tập hợp tác đã trở thành phương pháp sư phạm được thực hành rộng rãi trong hệ thống giáo dục Phần Lan, được xây dựng dựa trên ý tưởng về học theo nhóm nhỏ thường xuyên của những học sinh có hoàn cảnh, sắc tộc đa dạng như đã được để cập ở phần trước
Đa trí tuệ ;
Mục đích bao trùm của giáo dục Phần Lan là hỗ trợ sự phát triển và tăng trưởng toàn diện của đứa trẻ bằng cách tập trung vào các khía cạnh khác nhau của cả tài năng và trí tuệ, đảm bảo một chương trình cân bằng, hài hòa giữa các môn văn hóa với nghệ thuật, âm nhạc thủ công và giáo dục thể chất
Phương pháp thay thế trong đánh giá lớp học :
Do không có hệ thống kiểm tra tiêu chuẩn hóa và dựa trên điều tra dân số thường xuyên nên hệ thống giáo dục Phần Lan dựa vào sự giám sát ở địa phương và cách đánh giá học sinh của giáo viên. Phương pháp này bao gồm : đánh giá hồ sơ, đánh giá kết quả, tự đánh giá và sự suy nghĩ, đánh giá cho các phương pháp học tập
Huấn luyện đồng đẳng :
Huấn luyện đồng đẳng tức là một quá trình riêng tư kín đáo thông qua đó giáo viên làm việc cùng nhau để suy nghĩ về cách làm hiện tại, mở rộng và cải thiện học tập các kỹ năng mới, trao đổi ý tưởng, thực hiện nghiên cứu lớp học, cùng nhau giải quyết vấn đề ở trường đã trở thành thông lệ trong các chương trình cải thiện trường học ở Phần Lan
Giấc mơ Phần Lan bị thách thức :
Chiến dịch chống lại hệ thống giáo dục hỗn hợp Peruskolulu vô cùng khắc nghiệt đến từ một số bộ phận trong cộng đồng doanh nghiệp. Quốc hội buộc tội những người ủng hộ Peruskolulu là xã hội chủ nghĩa, cảnh báo kết quả này sẽ gây hại cho tiến bộ kinh tế vững chắc và sự thịnh vượng của xã hội Phần Lan. Cuối những năm 1980, khi diễn ra sự phản đối cải cách trường học vô cùng mạnh mẽ, một số bậc cha mẹ cũng như các chính trị gia và lãnh đạo doanh nghiệp lên tiếng phản đối bất mãn với Peruskolulu. Theo những người chỉ trích này, chính việc quá chú trọng vào bình đẳng xã hội đã làm đè nén sắc cá nhân…
Sự chỉ trích diễn ra ngày càng gay gắt cho tới tận cuối những năm 1990. Nhưng những tiếng chỉ trích đột nhiên trở nên câm lặng đầu tháng 12 năm 2001 khi tin tức nghiên cứu PISA lần đầu tiên được đăng lên các phương tiện truyền thông toàn cầu : Phần Lan đạt kết quả cao hơn trong tất cả các nước OECD khác trong đọc, toán và khoa học khi được đo vào cuối Peruskolulu. Quả thực, Cách Phần Lan đã được chứng minh là đúng và hiệu quả !
Chương 5 : Tương lai có thuộc về Phần Lan ?
Phần Lan bắt đầu nghiên cứu cải cách phổ thông từ những năm 1970 và việc nghiên cứu kỹ càng và áp dụng về mô hình giáo dục hỗn hợp dẫn tới sự phát triển của khoa học ứng dụng. Tuy nhiên những hiểu biết chung về thay đổi giáo dục vẫn dường như không thay đổi. Thậm chí ngày này hoạt động về nghiên cứu, cải cách giáo dục, cải thiện trường học và hiệu quả trường học ở Phần Lan còn quá khiêm tốn so với tiêu chuẩn quốc tế. Có đôi chút nghịch lý là tuy kiến thức về thay đổi giáo dục chỉ ở mức kém phát triển nhưng Phần Lan đã biến đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục của mình chỉ trong hai thập kỷ. Các mô hình thay đổi của Phần Lan thường được vay mượn từ nước ngoài, song tuy nhiên, chính việc học hỏi cái cũ, biến nó thành tư duy của nước mình, thực hiện, nhào nặn theo cách “rất Phần Lan” và đạt được những thành tựu vô cùng to lớn.
Quả thực, đi trên con đường mà người khác đã đi thì dễ dàng hơn so với khi đi mở đường. Nhưng tương lai đòi hỏi những cách nghĩ mới. Phần Lan đã cho thấy nước này trong quá khứ đã từng có khả năng đổi mới sáng tạo khi cần và đã sử dụng kinh nghiệm quá khứ của mình để làm cơ sở cho chính sách và cách làm mới. Sự xuất sắc giáo dục là do Phần Lan đã chọn một cách làm khác đi trong cải cách giáo dục, thường là gần như đi ngược với phong trào Cải cách giáo dục toàn cầu (GERM). Cách tiếp cận của Phần Lan đã phản ánh một chiến lược chiến thắng cụ thể : Có thể đạt được sự xuât sắc hệ thống bao gồm bình đẳng đi đôi với kết quả có chất lượng cao bằng một lối đi riêng không giống các nước khác. Liệu Phần Lan có thể duy trì được thành công của mình hay sẽ “ngủ quên trên chiến thắng” ?
Thành công nhờ khác biệt
Thành công của Phần Lan với tư cách một quốc gia có được phần lớn là do quốc gia này đã dũng cảm làm khác đi những gì mà hầu hết các quốc gia khác đã làm. Sự khác biệt trong tính cạnh tranh là rất quan trọng. Nó sẽ đưa một phương pháp, hệ thống,… đi khỏi lối mòn cũ, giải phóng tư tưởng, hay còn được gọi một cái tên khác như hiện nay đó chính là “Thinking out the box”.
Trong khi các quốc gia các khao khát đạt được sự khao khát cá nhân thì Phần Lan lại hướng tới sự bình đẳng. Nhiều nước cho phép bất cứ ai cũng có thể dạy học còn Phần Lan đòi hỏi sự chuyên nghiệp cao trong giáo viên . Khi những nước khác đầu tư cho các hệ thống dữ liệu giáo dục tốn kém thì người Phần Lan lại tập trung vào việc dạy và học. Việc kiểm tra học sinh dựa trên mẫu, đánh giá trường học theo chủ điểm, tự kiểm điểm đánh giá của giáo viên và chú trọng học tập sáng tạo đã xây dựng một nền văn hóa tin cậy và tôn trọng lẫn nhau trong hệ thống giáo dục Phần Lan
Không trường học nào ở Phần Lan áp dụng hình thức thi “một mất một còn” hay những bài kiểm tra mang tính “khuôn mẫu”. Cách làm này mang lại cho giáo viên cơ hội tập trung vào việc học, giảng dạy thay vì phải lo lắng vì thành tích, kiểm tra, kết quả thi cử. Công thức thực hiện cải thiện việc học cho tất cả học sinh của Phần Lan khác với công thức ở nhiều nước khác :
Đảm bảo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người trong việc tiếp cận giáo dục công tốt
Tăng cường tính chuyên nghiệp của giáo viên và sự tín nhiệm đối với giáo viên
Thu hút giáo viên và hiệu trưởng tham gia vào tất cả các khía cạnh quan trọng của việc lên kế hoạch, thực hiện và đánh giá giáo dục bao gồm cả chương trình đào tạo, việc kiểm tra và đánh giá chính sách
Tạo thuận lợi cho việc hợp tác cải thiện trường học dựa trên mạng lưới giữa các trường và các hiệp hội phi chính phủ địa phương
Các trường học trong môi trường nhiều cạnh tranh bị mắc kẹt trong một tình huốn tiến thoái lưỡng nan trong giáo dục. Con đường đi tiếp đòi hỏi phải có tư duy dũng cảm, mới mẻ về quá trình giáo dục học đường
Cải cách giáo dục thành công
Một đặc điểm thường thấy của giáo dục Phần Lan đó chính là cách giáo viên và học sinh được khuyến khích thử nghiệm những ý tưởng mới, phương pháp mới, học từ những cái đổi mới và nuôi dưỡng sự sáng tạo từ trên ghế nhà trường. Cùng lúc đó, nhiều giáo viên tôn trọng truyền thống dạy tốt. Các chính sách giáo dục ngày nay là kết quả của ba thập kỷ phát triển có hệ thống, chủ yếu là có mục đích và chủ ý rõ ràng, nhờ đó tạo ra một nền văn hóa đa dạng, tin tưởng và tôn trọng trong xã hội Phần Lan nói chung và hệ thống giáo dục Phần Lan nói riêng
Peruskolulu mang lại cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả
Trường tiểu học sáu năm được công nhận rộng rãi là cung bậc cơ sở vững chắc cho hệ thống giáo dục chất lượng cao. Kinh nghiệm Phần Lan và các nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng nếu ngay từ mầm non và giáo dục tiểu học đã được đầu tư phát triển thì các lớp sau gặt hái được thành quả, thể hiện năng khiếu và kỹ năng học tập tốt hơn cũng như kết quả học tập nói chung tích cực.
Dạy học là một nghề truyền cảm hứng và thu hút nhiều người trẻ Phần Lan
Trong xã hội Phần Lan, nghề dạy học được tôn trọng và đánh giá cao, như được giải thích trong chương 3. Dạy học trên lớp được coi là một nghề độc lập, được trọng vọng, thu hút một số lượng học sinh xuất sắc nhất mỗi năm. Lý do chính cho sức hút của nghề dạy đó chính là yêu cầu cơ bản để được tuyển dụng làm giáo viên trường học Phần Lan lâu dài là phải có bằng thạc sỹ, và việc có bằng thạc sỹ mở ra cánh cửa đến với vô vàn lựa chọn ngành nghề tương lai khác.
Phần Lan có chính sách trách nhiệm giải trình thông minh
Trách nhiệm giải trình trong bối cảnh giáo dục Phần Lan có nghĩa là bảo vệ và tăng cường sự tín nhiệm tin tưởng giữa các giáo viên và học sinh, lãnh đạo nhà trường và giới chức giáo dục, và thu hút sự tham gia của họ vào quá trình này, mang lại cho họ cảm giác ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm và sáng kiến nghề nghiệp. Trách nhiệm chia sẻ đối với việc dạy và học đó chính là đặc trưng trách nhiệm giải trình giáo dục ở Phần Lan.
Tăng cường bình đẳng trong kết quả là chính sách giáo dục then chốt
Cách Phần Lan để tăng cường công bằng bao gồm điều chỉnh ngân sách cho trường học phù hợp với nhu cầu thực sự của mỗi trường; thực hiện giáo dục trở nên phổ cập và linh hoạt sao cho trẻ được giúp đỡ ngay từ sớm, lồng ghép dịch vụ sức khỏe và phúc lợi trong mỗi trường học, cho mọi học sinh, đảm bảo cân bằng trong toàn hệ thống trường học để phục vụ các loại trí thông minh và tính cách khác nhau một cách công bằng, đảm bảm tất cả các trường đều tuyển về các giáo viên dạy giỏi.
Hệ thống giáo dục Phần Lan được sự lãnh đạo bền vững và sự ổn định chính trị
Tình hình chính trị ổn định và sự lãnh đạo trong ngành giáo dục ổn định đã cho phép trường học và giáo viên Phần Lan tập trung vào phát triển việc dạy và học. Thay vì liên tục phân bổ nguồn lực tài chính và dành thời gian để thực hiện những cải cách mới, giáo viên ở Phần Lan lại được giao cho sự tự do nghề nghiệp để phát triển kiến thức và kỹ năng, sư phạm liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ
Chuyển giao tri thức giáo dục
Việc thành công trong công cuộc cải cách trong giáo dục ở Phần Lan là điều không cần bàn cãi. Chính nhờ thành công này mà các nước luôn luôn muốn học hỏi Phần Lan để giải quyết bài toán giáo dục của riêng mình. Nhưng không phải mô hình, phương pháp của Phần Lan đều áp dụng thành công ở các nước. Chúng ta phải nhìn một phương diện theo nhiều khía cạnh khác nhau để chỉnh lý, sửa đổi sao cho phù hợp nhất, “dễ tiêu hóa” nhất . Bí quyết dẫn tới việc cải thiện giáo dục vững chắc và thành tích giáo dục cao của Phần Lan là kết quả của một sự kết hợp thông minh giữa truyền thống quốc gia với ảnh hưởng từ nước ngoài.
Tương lai giáo dục Phần Lan
Cách Phần Lan trọng thay đổi giáo dục nên có tính khích lệ với những ai thấy rằng con đường cạnh tranh, lựa chọn trách nhiệm, trách nhiệm giải trình dựa trên bài kiểm tra và trả lương theo kết quả là ngõ cụt. Đối với người Phần Lan, cá nhân hóa không phải là để cho học sinh làm việc độc lập trước máy tính. Cách Phần Lan làm là đáp ứng nhu cầu của mỗi học sinh bằng cách tổ chức linh hoạt và các con đường học tập khác nhau.
Sự thông thái trong giáo dục Phần Lan thật giản dị : Nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh làm hết sức mình. Hơn nữa, giáo dục Phần Lan còn cho thấy chương trình đào tạo sáng tạo, giáo viên tự chủ, lãnh đạo can đảm và kết quả là luôn đi cùng nhau. Cách Phần Lan làm rõ một điều là hợp tác chứ không phải đối đầu với giáo viên là con đường dẫn tới kết quả tốt hơn. Bằng chứng đã rõ, và con đường phía trước cũng nên như thế
Kết
Bài học Phần Lan 2.0 nhắc nhở chúng ta rằng bất kỳ quốc gia nào cũng có thể xây dựng một cách có ý thức một hệ thống trường lớp tuyệt vời miễn sao họ biết chú ý sát sao đến nhu cầu của học sinh, lựa chọn và chuẩn bị tốt cho các nhà giáo dục và xây dựng cộng đồng không chỉ có sức hấp dẫn tự nhiên và còn có tác dụng tạo niềm vui thích thú cho việc dạy và học. Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế ấn tượng và những thành tựu trong những thập kỷ qua thật ngoạn mục. Có thể thấy, cải cách hệ thống giáo dục là một trong những ưu tiên quốc gia hàng đầu tại Việt Nam. Hy vọng với cuốn sách này sẽ mang lại những hiểu biết về quá trình phát triển của hệ thống giáo dục Phần Lan và là nguồn khích lệ cho cuộc thảo luận giáo dục tại Việt Nam!
Tác giả: Bùi Hoài Nam – Bookademy