13/06/2022
Dàn Tiểu nhạc
1, Mở đầu
Nhã nhạc Cung đình Huế với hệ thống âm nhạc Cung đình đa dạng, giá trị phong phú và độc đáo, ngày 07 - 11 - 2003 Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận Nhã nhạc Cung đình Huế là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử xã hội, Nhã nhạc Cung đình chỉ còn tồn tại hai dàn nhạc chính: Đại nhạc và Tiểu nhạc.
Việc khẳng định vai trò, vị trí và ý nghĩa của âm nhạc cung đình không chỉ là việc làm tự tôn mà chính yếu, cốt lõi là khẳng định sự kế thừa, hoàn thiện và phát huy “trí tuệ nghệ thuật âm nhạc” của quốc gia. Đồng thời làm giàu thêm “kho tàng âm nhạc di sản của dân tộc” để góp phần nâng cao tính hiệu quả cho công cuộc chấn hưng nền âm nhạc cung đình nói riêng và âm nhạc dân tộc Việt Nam nói chung.
2. Quá trình lịch sử dàn Tiểu nhạc
Dàn Tiểu nhạc là một trong những tổ chức dàn nhạc rất quan trọng trong hệ thống Nhã nhạc cung đình Việt Nam. Nó tồn tại và luôn hiện hữu trong không gian âm nhạc cung đình Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau. Nhưng xét về cơ cấu và tính chất của dàn nhạc thì dàn Tiểu nhạc trong đó có đàn Nhị, đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển của âm nhạc cung đình Việt Nam.
- Thời Lý (1010 - 1225), sau khi chấm dứt thời Tiền Lê cùng hôn quân Lê Ngọa Triều, Nhã nhạc cung đình đã có những bước đi chập chững ban đầu trên con đường lịch sử của nó. Việc thành lập một nhà nước phong kiến tập quyền dẫn đến phát sinh những tổ chức âm nhạc nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong cung. Với mục đích nhằm thiết lập kỷ cương cho bộ phận âm nhạc cung đình, các vua nhà Lý đã chính quy hóa và tạo điều kiện cho tổ chức âm nhạc cung đình phát triển. Trong đó, có Dàn nhạc cung đình tế lễ phật giáo. Thành phần dàn nhạc này gồm có: Trống da hoặc Mõ, Sáo ngang, Phách bản, Trống phong yêu, Khèn bè, Sáo dọc, đàn Nhị hồ, đàn Cầm, đàn Tỳ bà [7; 79]. Tuy được che đậy bằng tên gọi khác nhưng dựa vào các nhạc khí, chúng ta có thể nói rằng dàn nhạc này là tiền thân của dàn Tiểu nhạc.
- Thời Trần (1225 - 1400), dàn Tiểu nhạc đã chính thức xuất hiện cùng với dàn Đại nhạc. Nếu như dàn Đại nhạc dành riêng cho Vua và các quan từ Hành Khiển trở lên chỉ khi có những tế lễ lớn mới được dùng, thì dàn Tiểu nhạc “kẻ giàu hay nghèo đều có thể sử dụng” [12; 27]. Có thể nói, thời kỳ này Nhã nhạc cung đình đã có sự gắn bó khăng khít với âm nhạc dân gian cho nên Tiểu nhạc được phổ biến rộng rãi tử trong cung cho đến ngoài cung.
Biên chế dàn Tiểu nhạc thời Trần gồm có sáu nhạc cụ dây: đàn hồ gáo, đàn cầm, đàn thất huyền, đàn tỳ bà, đàn tranh đàn tam; Ba nhạc cụ hơi là: cái tất lật, cái Địch, cái Tiêu; Ba nhạc cụ gõ: Trống cơm, Phách, tiểu Bạt [12; 26, 27]. Khác với thời Lý, biên chế dàn Tiểu nhạc thời Trần có sự xuất hiện đàn Hồ gáo. Đây là một loại đàn Nhị khác được làm bằng gáo dừa. Như vậy, so với thời Lý, thời Trần đã có sự cải cách lớn trong biên chế cũng như không gian diễn xướng.
- Thời Hồ (1400 - 1407), không có tài liệu nào ghi chép về các tổ chức dàn nhạc.
- Thời Lê (1427 - 1788), Nhã nhạc mới hoàn thiện với tư cách một điển chế.
Vua Lê Thái Tông (1434 - 1442) đã chia Nhã nhạc cung đình làm hai loại nhạc, nhưng thực chất là hai dàn nhạc: Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chi nhạc [12; 28,29]. Trong hai dàn nhạc này không thấy xuất hiện nhạc cụ đàn Nhị.
Bước sang thời kỳ vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Âm nhạc cung đình đã có những bước tiến mới. Trong cố gắng chính quy hóa nền âm nhạc, nhà Lê đã có những chính sách ưu đãi cho âm nhạc cung đình. Bộ Lễ đã định ra “Quốc Nhạc” (Nhã nhạc), còn âm nhạc dân gian gọi là “Tục Nhạc”. Quốc nhạc là âm nhạc chốn cung đình gồm hai bộ phận: Thự Đồng Văn và Thự Nhã Nhạc do quan thái thường cai quản. Các nhạc khí dùng trong “quốc nhạc” gồm: Trống ngưỡng thiên lớn, kèn trúc lớn, long sinh, long phách, đàn ba dây, đàn bốn dây, đàn mười lăm dây, ống sáo, trống mảnh, sênh tiền [7; 83]. Xét về cơ cấu thì hai bộ phận này có đủ cơ cấu của một dàn Tiểu nhạc. Cơ cấu này có đủ bốn nhóm nhạc khí.
* Thời Tây Sơn (1789 - 1801), dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn song dàn Nhã nhạc thời Tây Sơn cũng đã tạo nên một bước chuyển quan trọng trong việc định hình cho dàn nhạc thời Nguyễn. Biên chế dàn nhạc thời này gồm có 8 loại nhạc cụ, được chia làm bốn nhóm: nhóm nhạc khí dây (đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tam); nhóm nhạc khí hơi (sáo ngang); nhóm nhạc khí gõ (bản cổ); nhóm nhạc khí có chức năng tiết tấu (tam âm, phách tiền) [7; 90].
* Thời Nguyễn (1802 - 1945), Nhã nhạc cung đình đã hồi sinh và khắc trên mình một diện mạo mới với những đặc điểm chung mang theo cội nguồn dân tộc.
- Tổ chức dàn Nhã nhạc gồm có: một bảng cổ, một tỳ bà, một đàn nguyệt, một nhị, hai địch (sáo ngang), một tam âm, một phách tiền. So với dàn nhạc Việt Nam trình diễn trong triều đình Trung Hoa thời nhà Thanh, dàn nhạc này chỉ thiếu chiếc đàn huyền tú (đàn ba dây). Cùng với những dàn nhạc khác nó được sử dụng trong lễ tế Nam Giao. [9; 40, 41]. Dàn nhạc này có xuất hiện đàn Nhị huyền như ở dàn nhạc thời Tây Sơn. Tạm gọi là dàn Tiểu nhạc 1.
- Dàn Tế nhạc gồm có: tám nhạc công, không rõ nhạc cụ gì. Từ năm 1828, nhóm này mang tên Hòa thanh thự. Tham gia cùng tám nhạc công, dàn Tế nhạc còn có tám ca sinh. [9; 41, 42]. Tạm gọi là dàn Tiểu nhạc 2.
- Đại Nam hội điển sử lệ có ghi một dàn nhạc phục vụ trong ngày sinh nhật Hoàng thái hậu tròn 60 tuổi dưới thời Minh Mạng (1827). Dàn nhạc này gồm: Trống bộc, đại cổ, phách, sinh tiền, tranh huyền, nguyệt cầm, tỳ bà, tam huyền, nhị huyền, địch, sáo, quản. [9; 42]. (tạm gọi là dàn Tiểu nhạc 3).
Sang đầu thế kỷ XX, người ta còn thấy hai dàn nhạc cung đình Huế, tạm gọi là dàn Tiểu nhạc 4, và dàn Tiểu nhạc 5. [9; 42, 43].
- Dàn Tiểu nhạc 4 gồm: Một đàn nhị, hai kèn, năm sáo, một sinh tiền, một tam âm la, một cặp phách, một trống.
- Dàn Tiểu nhạc 5 gồm: Một trống bộc, hai sáo, một sinh tiền, một tam âm la, một phách hoặc sanh, một nhị, một tam, một nguyệt, một tỳ bà.
3. Kết luận
Như vậy, từ thời Lý đã chính quy hóa và tạo điều kiện cho tổ chức âm nhạc cung đình phát triển, với sự xuất hiện của dàn nhạc cung đình tế lễ phật giáo. Thời Trần, dàn Tiểu nhạc đã chính thức xuất hiện cùng với dàn Đại nhạc. Thời Hồ, không thấy tài liệu nào ghi chép về các tổ chức dàn nhạc. Thời Lê về cơ cấu thì có đủ bốn nhóm nhạc khí của một dàn Tiểu nhạc. Thời Tây Sơn bắt đầu tạo nên một bước chuyển quan trọng trong việc định hình cho dàn nhạc thời Nguyễn, Biên chế dàn nhạc thời này có đầy đủ 8 nhạc cụ, được chia làm bốn nhóm. Đến thời Nguyễn, Nhã nhạc cung đình đã hồi sinh và khắc trên mình một diện mạo mới, các dàn nhạc thời kỳ này đều có nhiều chủng loại nhạc khí khác nhau trong các dàn nhạc khác nhau. Dàn Tiểu nhạc thời kỳ này, tồn tại với nhiều cơ chế và tên gọi khác nhau, khi thì được gọi bằng cái tên thật trang nhã là Nhã nhạc, khi thì được thay bằng cái tên Tế nhạc (còn gọi là Ti trúc tế nhạc) .v.v.. Dù với tên gọi nào, nhưng xét về cơ cấu dàn nhạc và ý nghĩa sử dụng của các nhạc cụ đều giống cơ cấu chung của dàn Tiểu nhạc. Về cơ bản, các dàn nhạc này có thành phần giống nhau, có chức năng như nhau nhưng tồn tại ở những thời điểm khác nhau.
Biên chế dàn Tiểu nhạc hiện nay: Một Trống bản, hai Sáo trúc, một đàn Tam, một đàn Tỳ bà, một đàn Nhị, một đàn Nguyệt, một Phách tiền, một Tam âm,một Phách một.
Biên chế dàn nhạc này sử dụng ở trong 2 nhóm bài bản Thập thủ liên hoàn và Năm bài Ngũ đối. Còn riêng ở bài Phú lục địch, biên chế dàn nhạc có sự hoán đổi nhạc cụ: Dùng Trống chiến, Mõ sừng trâu thay cho Trống bản và Phách một.
(Trích trong luận văn thạc sỹ Nghệ thuật âm nhạc – Nguyễn Đình Hưng 2015)