25/03/2022
LỢI ÍCH TẬP LUYỆN VÕ THUẬT
Bài viết: Võ sư Nguyễn Văn Dũng - Người sáng lập Nghĩa Dũng Karate-Do
1- Trước hết, võ mang lại cho người tập đức tự tin - mà đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các mối quan hệ xã hội. Nhờ tự tin, ta không bị rơi vào một trong hai khuynh hướng tệ hại: hung hăng, gây hứng, hoặc tự ti mặc cảm. Nhờ tự tin, ta mới có thể phát huy hết tinh hoa của mình, nhờ tự tin ta không tự hạ mình trước đối tác… Môi trường võ thuật có vô số nội dung để un đúc nên đức tính tự tin.
Từ những cái hít đất tưởng không thể hít nổi, đến động tác xoạc chân sát đất, đứng tấn Siko Dachi 30 phút trở lên; từ những trận song đấu với đòn đánh đẹp và hiệu quả được huynh đệ thán phục, đến những trận đấu quả cảm dành chiến thắng trong gang tấc; từ chỉ một viên gạch tưởng như ngọn núi không thể vượt qua đến cả chồng gạch 5 viên xuống tay ngọt lịm; từ những ấp úng, vụng về trước đám đông đến phong thái chững chạc, tự tin khiến bạn bè sững sốt; từ những ngày đầu lớp tập đông vui, qua mùa đông tháng giá rơi rụng đâu mất chỉ còn lèo tèo chục mạng, đến khi thi lên đai đen, nhìn quanh quất không còn tới năm đầu ngón tay…
Thế đấy, quá trình tập võ là quá trình chà xát, thử thách, sàng lọc… Đó là quá trình lau chùi cho tấm kính được trong veo; là quá trình trui rèn cho thanh sắt thành thép, cho thanh thép thành kiếm báu… Qua đó dần dà un đúc nơi người tập nhận thức đúng đắn về mình, để rồi có niềm tin và niềm tự hào về mình. Trong cuộc sống, niềm tin cần thiết và quí giá như nhựa sống nuôi dưỡng ngọn cây, như dòng điện cung cấp nguồn sáng cho bóng đèn.
2- Lễ là qui tắc trong các mối quan hệ giữa người và người. Người có võ rất coi trọng Lễ và giữ Lễ, mà biểu hiện rõ nhất của Lễ là cái chào. Trong thời đại giao lưu hội nhập, khi các giá trị truyền thống trở nên lung lay, biến dạng, cả hòa tan, xem ra chỉ có võ còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, còn trọng Lễ và giữ Lễ.
Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ thể thao như nhiều người nghĩ, mà là Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi nơi tập võ là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức). “Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định, nhất quán trong suốt quá trình dạy võ và học võ: Ngày đầu tiên đi học võ, người học phải trải qua thủ tục “Bái sư nhập môn”. Bởi vì phòng tập võ là đạo đường nên mỗi lần vào ra môn sinh phải chào. Bất cứ lúc nào gặp thầy, bạn, huynh đệ, đều phải cúi chào. Bắt đầu và kết thúc một buổi tập, môn sinh phải chào Tổ, chào Thầy. Bắt đầu và kết thúc một trận đấu tập, hai đối thủ phải cúi chào nhau. Bắt đầu và kết thúc một bài quyền bao giờ cũng là cái chào.
Bài tập đầu tiên trong cuộc đời học võ là bài chào… Trong Võ đường, và qua các kỳ kiểm tra, người học võ được đánh giá dựa trên hai tiêu chuẩn: thành tựu công phu và phẩm chất đạo đức - được thể hiện qua cung cách quan hệ, ứng xử với mọi người.
Tất nhiên cái chào chỉ là hình thức của Lễ, là cách thể hiện nội dung của Lễ: nghiêng mình về trước 45 độ, mắt nhìn sâu vào mắt người đối diện với đầy đủ sự tôn trọng, kính trọng, và lòng nhân ái. Do sự tôn trọng, kính trọng, và lòng nhân ái được biểu hiện trong cái chào của con nhà võ cũng là cách thể hiện sự tự tin và tự trọng, bởi thế tuy kính nhưng không sợ, tuy cúi nhưng không lòn. Trong các mối quan hệ xã hội, nếu có được một nhân cách như thế, sẽ không khó gì để anh ta có thêm bè bạn, thêm đối tác, sự kính trọng từ mọi người, và tất nhiên cả sự thành công.
3- Đạo lý của con nhà võ là ăn ở có nghĩa có tình. Cho nên tội nặng nhất của người học võ là tội bất nghĩa, bất trung, lừa thầy phản bạn. Không phải người thầy võ nào cũng đều chuẩn mực, nhưng vị võ sư chân chính là người biết dạy cho người học đạo lý trên. Trước hết người thầy phải là một tấm gương cho võ sinh noi theo, cộng với lề lối tổ chức trong võ đường, ở các chi phái, truyền thống tôn sư trọng đạo còn được duy trì, và những thử thách thường trực qua các kỳ thi… nên ai đã có duyên đến với võ trước sau đều được thấm nhuần đạo lý ấy. Giữa thời đại kim tiền, con người chỉ vì chút lợi nhỏ mà sẵn sàng lừa lọc, phản phúc… thì làng võ là nơi tệ trạng ấy bộc lộ ít nhất. Chả thế mà dân gian thường ngợi ca: “Con nhà võ sống có tình có nghĩa, có thủy có chung”.
Đi vào đời với đạo lý tình nghĩa, thủy chung, “Không thầy giàu mà ham, không vì nghèo mà đổi lòng, không trước bạo lực mà sợ”, hỏi ai không yêu kính, quí trọng, và tin dùng.
4- Sẽ sai lầm nếu nghĩ võ chỉ là đấm đá, cơ bắp. Nên biết rằng, thay thế những phản xạ tự nhiên bằng một hệ thống những động tác kỹ thuật mang tính khoa học và hiệu quả, rèn giũa cho nó trở thành kỹ năng kỹ xảo, rồi nâng lên hàng nghệ thuật, đó là võ. Trong quá trình chuyển hóa ấy, trí tuệ được vận dụng tối đa. Từ những kỹ thuật đơn thuần phải thực hiện thế nào cho chuẩn và thuần thục; đến những bài quyền, phải phân tích cho được ý nghĩa của bài quyền và ý nghĩa của từng chi tiết nghệ thuật để thi triển sao cho có hồn và đẹp; đặc biệt với các trận đấu, muốn chiến thắng đối thủ tất phải có chiến lược, chiến thuật, và kế hoạch thực hiện từng mỗi chiến thuật. Đó là chưa kể, ở trình độ bậc cao, các môn sinh phải thường xuyên đối diện với nhiều “công án” thuộc về lĩnh vực võ đạo… Cho hay, khéo léo, quyền biến, mưu lược, trí tuệ, trầm tư…mới là tinh hoa của võ.
Như đã nói, quá trình tập võ là quá trình trui rèn cho thanh sắt thành thép, cho thanh thép thành kiếm báu. Thanh kiếm báu, đó chính là nội lực, là khí phách, là bản lĩnh của người tập võ. Xưa nay, chẳng bậc minh triết nào lại không nghĩ rằng dấu mình là sự cần thiết, chẳng vị cao thủ nào chịu vác thanh kiếm ngời ngời đi lại nghênh ngang ngoài đường mà không chịu đút nó vào vỏ. Cũng thế, đạo đức cao tột của con nhà võ là đức khiêm cung, được thể hiện bằng phong thái lúc nào cũng ung dung, trầm tĩnh, đĩnh đạt.
Thế đấy, có trí tuệ, có bản lĩnh, và một phong thái nhu hòa, thì dù đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, đối tác của bất cứ ai, cũng chẳng có gì để ngần ngại.
5/ Biết kiềm chế bản thân. Đối với người tập võ, nhất là với các môn sinh từ trình độ đai đen trở lên, thì một trong bốn lời nguyện phải quán chiếu mỗi ngày, đó là “Nguyện làm chủ bản thân mình”. Phàm khi đã biết dẹp bỏ tự ái, thế tất người ta sẽ có được sự trầm tĩnh trước mọi thử thách. “Ở đâu cũng có anh hùng, ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên”. Nếu cứ mỗi lần gặp cảnh bất như ý là nổi cơn thịnh nộ, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, thì rốt lại ta sẽ thêm thù bớt bạn, còn công việc thì chẳng có việc gì thành; đó là chưa nói đôi khi còn rước họa vào thân.
Người tập võ luôn có nhiều cơ hội thử thách để trui rèn đức tính “Làm chủ bản thân”, đặc biệt qua các trận song đấu tự do và nội dung “Tham thiền” vốn là linh hồn của võ.
6- Bởi vì võ đường là một “trại lính”, là cái “lò rèn”, nên mọi thứ đều được sắp xếp ngăn nắp, rõ ràng, giờ nào việc đó, “quân lệnh như sơn”… Lâu dần hình thành nơi người tập tác phong việc gì ra việc nấy, đúng giờ, đúng hẹn. Đây là điểm thanh niên Việt Nam chúng ta thiếu và thiếu trầm trọng - đó là cái tính lề mề, làm không ra làm chơi không ra chơi, không đúng giờ, không đúng hẹn…Trong thời đại giao lưu hội nhập, công nghiệp hóa hiện đại hóa, đó toàn là những tật xấu “chết người”.
7- Trong sáng, thẳng thắn, dạn dĩ, tháo vát, khéo léo, tính tổ chức kỹ luật, tinh thần cộng tác cộng đồng… Ai cũng biết đó còn là những phẩm chất võ đã dày công un đúc giúp người tập thành công trong cuộc sống. Nhưng có một phẩm chất rất ít được để ý, đó là tính dứt khoát, và rõ ràng của võ. Đặc biệt với Karate, từ các kỹ thuật căn bản đến chiêu thức, quyền pháp, tinh hoa của Karate không phải là vòng vèo, múa may huê dạng mà là trực tiếp, nhanh mạnh, và hiệu quả.