CLB Sử học và Lý luận Trẻ

CLB Sử học và Lý luận Trẻ CLB Sử học & Lý luận trẻ được thành lập vào ngày 15/10/2022

 # Vua Minh Mạng xử tử cả cha vợ: 30.000 quan tiền tham nhũng đã khiến một người quyền thế không thể thoát ánCó một câu ...
19/09/2026

# Vua Minh Mạng xử tử cả cha vợ: 30.000 quan tiền tham nhũng đã khiến một người quyền thế không thể thoát án

Có một câu chuyện dưới triều Nguyễn mà mỗi lần đọc lại vẫn khiến người ta phải dừng lại: một vị quan từng có công lớn với nhà Nguyễn, lại là **cha vợ của chính nhà vua**, cuối cùng vẫn bị kết án tử hình vì tham nhũng. Người đó là Huỳnh Công Lý. Điều khiến vụ án trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở con số hơn 30.000 quan tiền, mà còn ở cách Minh Mạng đối diện với một người có quan hệ huyết thống với hoàng gia. Nếu vua có thể bỏ qua cho người thân, luật pháp còn có ý nghĩa gì? Và đằng sau quyết định tưởng như lạnh lùng ấy còn có một chi tiết ít được chú ý.

Minh Mạng là vị vua thứ hai của triều Nguyễn, lên ngôi năm 1820 sau khi vua Gia Long qua đời. Trong sử liệu, ông thường được nhắc đến là một vị vua nghiêm khắc, đặc biệt đối với những hành vi tham nhũng của quan lại.

Một trong những trường hợp cho thấy sự cứng rắn ấy xảy ra vào tháng 5 năm 1823. Lý Hữu Diệm, khi giữ chức tại phủ Nội vụ, bị phát hiện lấy trộm hơn một lạng vàng. Theo quy định của Luật Gia Long, hành vi trộm cắp tài sản trong kho nhà nước, dù số lượng ít hay nhiều, đều có thể bị xử chém.

Bộ Hình xét thấy Lý Hữu Diệm từng có công nên đề nghị giảm từ án tử xuống hình phạt đi đày xa. Nhưng Minh Mạng không chấp thuận.

Nhà vua yêu cầu đưa Lý Hữu Diệm ra chợ Đông Ba xử chém trước công chúng, đồng thời yêu cầu quan lại Nội vụ phủ đến chứng kiến. Mục đích được thể hiện rất rõ: hình phạt không chỉ dành cho người phạm tội mà còn nhằm cảnh tỉnh những người đang nắm giữ tài sản công.

Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đó.

Năm 1831, Nguyễn Đức Tuyên, tư vụ Nội vụ phủ, bị phát hiện ăn bớt nhựa thơm. Lần này, Minh Mạng quyết định áp dụng một hình thức trừng phạt đặc biệt nghiêm khắc: chặt một bàn tay, xóa tên khỏi sổ quan và để người này sống phần đời còn lại trong sự hối hận, đồng thời làm gương cho những người khác.

Đến năm 1834, tuần phủ Trịnh Đức bị xử chết vì tham ô 1.000 quan tiền rồi khai gian rằng số tiền đã bị giặc cướp. Cũng trong năm đó, quản mộc Hồ Văn Hạ phải chịu án tử vì tội tham nhũng.

Những vụ việc ấy cho thấy Minh Mạng không chỉ xử lý tham quan bằng những lời cảnh cáo. Nhưng rồi xuất hiện một trường hợp đặc biệt hơn tất cả: **người bị đưa vào vòng điều tra lại chính là cha vợ của nhà vua.**

Huỳnh Công Lý từng là võ tướng có công dưới thời Gia Long, được phong Lý Chính Hầu. Khi con gái ông được Minh Mạng phong làm Huệ phi, địa vị của gia đình càng trở nên đặc biệt.

Huỳnh Công Lý sau đó giữ chức Phó Tổng trấn Gia Định, quyền lực chỉ đứng sau Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Chính vị trí ấy khiến vụ việc về sau trở nên đáng chú ý hơn.

Trong thời gian Lê Văn Duyệt ra Huế, Huỳnh Công Lý được giao quyền ở Gia Định. Theo nội dung được dẫn từ *Đại Nam thực lục*, ông bị tố cáo đã lợi dụng chức vụ để thu vét tiền của nhân dân và binh lính.

Khi Lê Văn Duyệt trở lại Gia Định, những tố cáo được báo về triều đình. Minh Mạng không vì người bị tố cáo là cha vợ mà bỏ qua. Nhà vua cho bắt giam Huỳnh Công Lý và cử Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định điều tra.

Kết quả điều tra khiến vụ án trở nên nghiêm trọng hơn. Số tiền bị cáo buộc tham nhũng lên tới **hơn 30.000 quan**.

Con số ấy khiến Minh Mạng đặc biệt lo lắng cho dân chúng. Trong lời được ghi lại, nhà vua đặt câu hỏi nếu những viên quan cai trị địa phương đều làm như vậy thì người dân còn biết dựa vào đâu.

Nhưng rồi cuộc điều tra tiếp tục phát hiện thêm một vấn đề khác.

Không chỉ những khoản tiền ở Gia Định, Huỳnh Công Lý còn bị phát hiện từng bắt lính xây dựng nhà riêng bên bờ sông Hương khi làm quan tại Huế. Minh Mạng ra lệnh tịch thu căn nhà và bán lấy tiền giúp cho cấm binh.

Sau khi điều tra hoàn tất, hồ sơ được đưa về triều đình để bàn xét. Kết luận cuối cùng xác định Huỳnh Công Lý đáng tội chết.

Năm 1821, tại Gia Định, Tổng trấn Lê Văn Duyệt thi hành án tử đối với Huỳnh Công Lý. Tài sản của ông bị tịch thu để hoàn trả cho quân lính và người dân theo quyết định của triều đình.

Điều khiến vụ án này còn được nhắc đến nhiều về sau không đơn giản là con số 30.000 quan tiền. Điều đáng chú ý hơn chính là người phạm tội không phải một viên quan vô danh. Đó là một người từng có công, từng giữ chức vụ lớn và quan trọng nhất, là **cha vợ của hoàng đế**.

Theo tôi, chính chi tiết này khiến câu chuyện trở nên đáng suy ngẫm. Một triều đại có thể nghiêm khắc với quan lại là điều không quá bất thường, nhưng khi sự nghiêm khắc ấy được đặt trước một mối quan hệ gia đình ngay trong hoàng gia, câu chuyện lập tức có một ý nghĩa khác. Dù nhìn từ góc độ lịch sử hay pháp luật, vụ Huỳnh Công Lý vẫn đặt ra một câu hỏi rất đáng chú ý: **khi quyền lực và tình thân đứng trước pháp luật, bên nào sẽ được lựa chọn?** Và trong trường hợp được ghi lại này, câu trả lời của Minh Mạng đã được thể hiện bằng chính bản án cuối cùng.

Kính mời các bạn đọc bài của Bộ Nội Vụ về giáo dục Khai Phóng.https://tcnnld.vn/news/detail/72269/Nhan-dien-va-dau-tranh...
21/06/2026

Kính mời các bạn đọc bài của Bộ Nội Vụ về giáo dục Khai Phóng.
https://tcnnld.vn/news/detail/72269/Nhan-dien-va-dau-tranh-voi-am-muu-thu-doan-dien-bien-hoa-binh-trong-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao.html?fbclid=IwY2xjawSkOptleHRuA2FlbQIxMABicmlkETE5R0pQaVR3a3BKUk8xS0ZVc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHtN_twhGZSZJBm1_Ppct_KWYFGRLFKjfpskFiLVlbTau7BcRTwwqB4BIfdQh_aem_R3znfmFjSD6u6tQXv1S5SQ
Từ thực tiễn hoạt động của ngành Giáo dục và đào tạo và đào tạo những năm vừa qua, chúng ta có thể nhận thấy những biểu hiện rõ nét của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện trong lĩnh vực này. Những âm mưu, thủ đoạn đó là:

Thứ nhất, đào tạo lực lượng đối lập ngay trong ngành Giáo dục và đào tạo để phá hoại nền giáo dục nước nhà.

Để thực hiện “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chúng xác định trước hết phải có lực lượng chống phá và lực lượng tốt nhất để thực hiện các hoạt động chống phá không ai khác chính là đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong cơ quan quản lý giáo dục các cấp và đội ngũ nhà giáo đang giảng dạy trong hệ thống trường học ở Việt Nam. Các thế lực thù địch xem xây dựng lực lượng từ bên trong là mấu chốt quyết định thành công của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực này. Bởi cán bộ quản lý giáo dục và nhà giáo là lực lượng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp xác định phương châm giáo dục, định hướng giáo dục nước nhà, và là lực lượng trực tiếp tham gia sự nghiệp trồng người. Để hiện thực hóa được điều này, hàng năm các thế lực thù địch đã trao nhiều suất học bổng cho cán bộ đang công tác trong ngành Giáo dục và đào tạo đi học, đi đào tạo ở nước ngoài, hoặc đào tạo tại các cơ sở giáo dục do họ đầu tư ở Việt Nam. Ngoài ra, họ tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, dưới danh nghĩa hợp tác, hỗ trợ đào tạo nhân lực cho ngành Giáo dục và đào tạo Việt Nam.

Trong quá trình đào tạo, họ tập trung truyền bá tư tưởng giáo dục phương Tây, công nghệ giáo dục phương Tây, điển hình là “tư tưởng giáo dục khai phóng”. Họ rêu rao rằng “giáo dục khai phóng” là chìa khóa để mở ra kỷ nguyên mới cho giáo dục Việt Nam, là liều “doping” để nâng cấp giáo dục Việt Nam, giúp giáo dục Việt Nam “vươn mình” lên tầm thế giới. Họ cho rằng chí có “giáo dục khai phóng” mới giúp cho người dạy, người học thoát ra khỏi những giáo điều, gò bó về tư tưởng, từ đó kích thích tinh thần sáng tạo của người dạy và người học. Và rằng, chỉ có “giáo dục khai phóng” mới tạo ra được nhiều người tài, nhiều “thủ lĩnh” cho xã hội.

Do bị mua chuộc, hoặc do nhận thức chính trị yếu kém, một số cán bộ quản lý giáo dục và nhà giáo đã không biết rằng, bản chất của “giáo dục khai phóng” kiểu phương Tây chính là “giáo dục phi giai cấp”, giáo dục đứng ngoài chính trị, giáo dục đề cao lợi ích cá nhân, đề cao tự do cá nhân, tự do tư tưởng một cách tùy tiện. Họ tích cực tham mưu, đề xuất tổ chức thực hiện “tư tưởng giáo dục khai phóng”, tích cực cổ xúy, thực hiện “giáo dục khai phóng” mà không nhận thức được rằng, áp dụng tư tưởng giáo dục này sẽ làm mất đi bản chất tốt đẹp của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, các thế lực thù địch tìm cách “cài cắm” những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống vào tham gia xây dựng chương trình giáo dục các cấp, biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học.

Cùng với xây dựng lực lượng trong ngành Giáo dục và đào tạo, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực này, các thế lực thù địch tìm cách đưa những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hoặc những người được họ đào tạo, mua chuộc vào các ban biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo định hướng của họ. Thủ đoạn này được thực hiện thông qua hoạt động tài trợ, viện trợ có điều kiện. Điều kiện mà họ đưa ra là, người thực hiện các chương trình biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học phải do họ lựa chọn, chỉ định.

Thứ ba, nâng cao độ khó của chương trình giáo dục vượt quá khả năng tâm lý, lứa tuổi.

Lợi dụng chủ trương đổi mới giáo dục, giảm nhẹ chương trình, các phần tử chống phá tìm mọi cách can thiệp để nâng cao độ khó của chương trình sao cho vượt quá khả năng tiếp thu kiến thức của tâm lý lứa tuổi. Đây là thủ đoạn vô cùng thâm độc, nhưng lại được che giấu một cách tinh vi bằng cụm từ “cải cách giáo dục”. Sự thâm độc ấy được thể hiện ở chỗ, thủ đoạn này không chỉ gây áp lực và làm giảm hứng thú học tập của học sinh mà nguy hiểm hơn còn làm cho học sinh, nhất là học sinh bậc tiểu học bị mất gốc, từ đó sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức ở những lớp học, bậc học tiếp theo. Hơn nữa, thông qua các “cải cách” này, các thế lực thù địch còn làm cho học sinh, sinh viên suy giảm niềm tin đối với Đảng và Nhà nước ta.

Thứ tư, xét lại lịch sử, xuyên tạc lịch sử trong sách giáo khoa lịch sử.

Cùng với âm mưu thủ đoạn trên, các thế lực thù địch còn đẩy mạnh xuyên tạc lịch sử và tìm cách đưa các nội dung xuyên tạc vào trong sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh. Trong thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, họ tập trung biện hộ cho một số phần tử đi ngược lại với lịch sử của dân tộc, đồng thời xuyên tạc bản chất chính nghĩa của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Nhân dân ta. Chẳng hạn, dưới sự nhào nặn của một số nhà sử học, những kẻ bán nước, hại dân trước đây nay lại trở thành những anh hùng dân tộc và mưu đồ đưa vào sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy cho học sinh. Gần đây, có một nhóm nhà sử học còn ngang nhiên biện hộ cho đế quốc Mỹ bằng cách bỏ từ “ngụy quân”, “ngụy quyền” khi nói đến thể chế Việt Nam cộng hòa. Họ cho rằng, sau năm 1954 ở Việt Nam có hai chính quyền. Ở miền Bắc là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn ở miền Nam là chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và Việt Nam cộng hòa là một chính quyền vì nó được dân bầu nên không thể gọi nó ngụy quyền, gọi như thế là “miệt thị”, là không văn minh… Việc bóp méo sự thật lịch sử này sẽ làm cho học sinh, sinh viên và người dân nhận thức sai lệch về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm phai nhạt tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lý tưởng và niềm tin cách mạng của thế hệ trẻ nước nhà. Nguy hiểm hơn, những tư tưởng này còn hướng đến phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi những nhân vật lịch sử trên đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án là những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về giày mả tổ” và bản chất cuộc chiến tranh mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam là chiến tranh xâm lược.

Thứ năm, đẩy mạnh phi chính trị hóa giáo dục, coi nhẹ giáo dục đạo đức, lối sống, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Thời gian vừa qua, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh các hoạt động nhằm phi chính trị hóa giáo dục. Họ mong muốn sao cho trong chương trình giáo dục ở các bậc học hiện nay thì việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục lý tưởng cách mạng, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong nhà trường phải bị xem nhẹ; đi liền với đó là quan điểm giáo dục thuần túy kỹ thuật phải được đề cao và áp dụng ngày càng mạnh mẽ.

Thứ sáu, đẩy mạnh đầu tư mở các trường học có vốn và chương trình học của nước ngoài.

Lợi dụng chủ trương mở cửa giáo dục, hợp tác giáo dục, các thế lực thù địch đẩy mạnh đầu tư mở trường học ở Việt Nam. Ở các trường này, chương trình giáo dục dễ bị chi phối theo hướng không thực hiện theo chương trình do cơ quan chức năng Việt Nam quy định mà nặng về yếu tố ngoại lai. Thậm chí, có nơi còn cho rằng giáo dục các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là các môn lý luận Mác - Lênin theo cách hiểu của mình. Các thế lực thù địch cũng tìm cách tăng cường thu hút học sinh Việt Nam du học nước ngoài thông qua các chương trình học bổng, để nhằm mục đích đào tạo ra những người có tư tưởng lệch lạc, chống đối chế độ, từ đó hình thành lực lượng có tư tưởng đối lập để thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Nhân vật Tam Quốc: Gia Cát ChiêmGia Cát Chiêm (227 - 263), tự Tư Viễn, con trai của Gia Cát Lượng, trọng thần cuối thời ...
08/06/2026

Nhân vật Tam Quốc: Gia Cát Chiêm

Gia Cát Chiêm (227 - 263), tự Tư Viễn, con trai của Gia Cát Lượng, trọng thần cuối thời Thục Hán.

1. Biên niên sử

• Năm Kiến Hưng thứ 5 nhà Thục Hán, năm 227 sau Công nguyên

Gia Cát Chiêm ra đời tại Thành Đô, quận Thục.

Trước đó, do không có con ruột, Gia Cát Lượng đã nhận con trai thứ hai của anh cả Gia Cát Cẩn là Gia Cát Kiều làm con nuôi. Gia Cát Kiều qua đời vì bệnh vào năm Kiến Hưng thứ 6 (năm 228). Gia Cát Chiêm là con trai ruột duy nhất của Gia Cát Lượng.

• Năm Kiến Hưng thứ 12 nhà Thục Hán, năm 234

Đầu năm, Gia Cát Lượng dẫn đại quân đồn trú tại Ngũ Trượng Nguyên thuộc Võ Công để chuẩn bị cho lần Bắc phạt thứ năm, đã gửi thư cho anh cả Gia Cát Cẩn đang ở Đông Ngô, đánh giá Gia Cát Chiêm khi đó 8 tuổi: "Chiêm nay đã 8 tuổi, thông minh đáng yêu, nhưng hiềm nỗi cháu phát triển quá sớm, e rằng sau này khó thành tài lớn."

Trước khi lâm chung, Gia Cát Lượng đã viết Giới Tử Thư (Thư răn dạy con) để lại cho Gia Cát Chiêm, để lại lời giáo huấn thiên cổ "Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn" (Không đạm bạc thì không thể sáng cái chí, không yên tĩnh thì không thể nghĩ xa được).

Mùa thu tháng 8, Gia Cát Lượng mắc bệnh qua đời trong quân tại Ngũ Trượng Nguyên. Gia Cát Chiêm với thân phận con cả thừa kế tước vị Vũ Hương hầu của cha.

• Năm Diên Hy thứ 6 nhà Thục Hán, năm 243

Gia Cát Chiêm kết hôn với công chúa, con gái của Thục Hán Hậu chủ Lưu Thiện, được phong làm Kỵ đô úy, chính thức bước vào con đường quan lộ.

• Năm Diên Hy thứ 7 nhà Thục Hán, năm 244

Gia Cát Chiêm thăng chức Vũ Lâm trung lang tướng, thống lĩnh cấm quân Vũ Lâm kỵ của hoàng đế, bảo vệ cấm cung, trở thành cận thần nòng cốt của Hậu chủ.

• Trong những năm Diên Hy nhà Thục Hán (245 - 253)

Con đường làm quan của Gia Cát Chiêm thăng tiến vững chắc, lần lượt giữ các chức Xạ Thanh hiệu úy, Thị trung.

Vì bách tính Thục Hán tưởng nhớ ân đức của Gia Cát Lượng nên cũng yêu mến lây sang Gia Cát Chiêm, cộng thêm việc Gia Cát Chiêm giỏi thư họa, hiểu biết sâu rộng, trí nhớ tốt, nên bách tính đất Thục đều tin phục tài danh của ông. Triều đình mỗi khi có một chính sách tốt mang lại lợi ích cho dân, cho dù không phải do Gia Cát Chiêm đề xuất thi hành, bách tính cũng truyền miệng nhau rằng "Đây là việc do Gia Cát hầu làm", do đó mỹ danh của Gia Cát Chiêm có nhiều phần phóng đại, tồn tại chỗ hữu danh vô thực.

• Năm Diên Hy thứ 16 nhà Thục Hán, năm 253

Gia Cát Chiêm lúc này giữ chức Thị trung. Anh họ của ông là Thái phó Đông Ngô Gia Cát Khác dấy đại quân Bắc phạt Tào Ngụy.

Thái thú quận Việt Huề nhà Thục là Trương Ngực gửi thư cho Gia Cát Chiêm, nói thẳng rằng Gia Cát Khác "khinh suất thiếu cẩn trọng, không tính hậu họa", khuyên Gia Cát Chiêm với tư cách là em họ hãy viết thư khuyên can Gia Cát Khác bãi binh để dân nghỉ ngơi, chăm lo nông nghiệp củng cố nền tảng, nếu không e rằng sẽ chuốc lấy đại họa. Việc Gia Cát Chiêm có gửi thư khuyên can hay không, chính sử không ghi chép rõ ràng.

Mùa đông cùng năm, Gia Cát Khác quả nhiên bị Tôn Tuấn giết chết trong cuộc chính biến ở Đông Ngô, tru di tam tộc.

• Từ cuối năm Diên Hy đến đầu năm Cảnh Diệu nhà Thục Hán (255 - 258)

Gia Cát Chiêm thăng chức Thượng thư bộc xạ, thêm tước Quân Sư tướng quân, bước vào tầng lớp ra quyết định trung ương của Thục Hán, nắm giữ chính vụ cốt lõi của Thượng thư đài.

Năm Diên Hy thứ 14 (251) Đại tư mã Tưởng Uyển bệnh mất, năm Diên Hy thứ 16 (253) Đại tướng quân Phí Y bị ám sát qua đời, quân chính đại quyền của Thục Hán dần dần rơi vào tay Đại tướng quân Khương Duy; năm Cảnh Diệu nguyên niên (258) Thị trung thủ Thượng thư lệnh Trần Chi bệnh mất, hoạn quan Hoàng Hạo bắt đầu chuyên quyền tham chính, triều chính Thục Hán ngày càng bại hoại.

Gia Cát Chiêm và Phụ quốc Đại tướng quân Đổng Quyết tuy ở vị trí trung ương, nhưng lại không thể uốn nắn Hậu chủ, kiềm chế sự chuyên quyền của Hoàng Hạo, đối với những hành vi loạn chính của Hoàng Hạo phần nhiều là hùa theo nhân nhượng, không làm tròn trách nhiệm của bậc tể phụ, chính sử ghi chép rõ rằng họ "đều cùng bao che, không thể uốn nắn".

• Năm Cảnh Diệu thứ 4 nhà Thục Hán, năm 261

Gia Cát Chiêm được thăng làm Hành Đô hộ Vệ tướng quân, cùng Phụ quốc Đại tướng quân Đổng Quyết cùng quản lý Thượng thư sự, hai người cùng nhau nắm giữ chính vụ Thượng thư đài, trở thành tể phụ cốt lõi trung ương của Thục Hán.

• Năm Cảnh Diệu thứ 5 nhà Thục Hán, năm 262

Đại tướng quân Khương Duy dẫn quân Bắc phạt Tào Ngụy, bị Chinh Tây tướng quân nhà Ngụy là Đặng Ngải đánh bại again tại Hầu Hòa, phải dẫn quân rút về Đạp Trung đồn điền. Khương Duy nhiều năm liền Bắc phạt, quốc lực Thục Hán hao tổn to lớn, trong ngoài triều đình có nhiều bất mãn.

Gia Cát Chiêm cùng Đổng Quyết dâng sớ lên Hậu chủ Lưu Thiện, cho rằng Khương Duy "hiếu chiến không có công, trong nước mỏi mệt", tâu xin Hậu chủ tước đoạt binh quyền của Khương Duy, gọi Khương Duy về Thành Đô giữ chức Ích Châu thứ sử, lấy Hữu Đại tướng quân Diêm Vũ thay Khương Duy làm Đại tướng quân. Biểu chương này cuối cùng không được thi hành, Khương Duy sau khi biết chuyện không dám trở về Thành Đô, xin được lưu trú tại Đạp Trung để làm đồn điền.

• Năm Cảnh Diệu thứ 6/Viêm Hưng nguyên niên nhà Thục Hán, năm 263

Mùa hạ, quyền thần Tào Ngụy là Tư Mã Chiêu hạ lệnh cho ba đạo đại quân phạt Thục: Chinh Tây tướng quân Đặng Ngải dẫn ba vạn quân từ Địch Đạo đánh Đạp Trung, kiềm chế Khương Duy; Thứ sử Ung Châu Gia Cát Tự dẫn ba vạn quân từ Kỳ Sơn đánh cầu Vũ Nhai, cắt đứt đường lui của Khương Duy; Trấn Tây tướng quân Chung Hội dẫn hơn mười vạn quân chủ lực từ Tà Cốc, Lạc Cốc, Tý Ngọ Cốc chia đường tấn công Hán Trung.

Mùa đông tháng 10, Đặng Ngải nhân lúc Khương Duy dẫn quân chủ lực chống cự đại quân của Chung Hội tại Kiếm Các, đã dẫn quân tinh nhuệ vượt lén đường mòn Âm Bình, đi qua vùng không người hơn bảy trăm dặm, đục núi mở đường, vượt qua đỉnh Ma Thiên, tiến vào vùng đồng bằng đất Thục, đánh bại tướng giữ Giang Du là Mã Mạc, Thành Đô của Thục Hán chấn động.

Hậu chủ Lưu Thiện phong Gia Cát Chiêm làm chủ soái, đốc suất các quân lưu thủ ở Thành Đô tiến lên chống cự Đặng Ngải. Gia Cát Chiêm sau khi dẫn quân đến huyện Phù thì dừng lại, do dự không tiến. Thượng thư lang Hoàng Sùng (con trai Hoàng Quyền) nhiều lần khổ sở khuyên can, khuyên ông hỏa tốc dẫn quân tiến lên, chiếm giữ địa thế hiểm yếu, không cho đại quân Đặng Ngải tiến vào vùng đồng bằng, lời lẽ khẩn thiết thậm chí khóc lóc thảm thiết. Gia Cát Chiêm từ đầu đến cuối do dự không quyết định, cự tuyệt không chấp nhận kiến nghị của Hoàng Sùng, cuối cùng lui về giữ Miên Trúc, để mặc đại quân Đặng Ngải tiến vào đồng bằng, đánh mất thời cơ tốt nhất để chống lại quân Ngụy.

Đại quân Đặng Ngải tiến đến Miên Trúc, phái sứ giả đưa thư cho Gia Cát Chiêm khuyên hàng, hứa hẹn "nếu đầu hàng, ắt dâng biểu phong làm Lang Gia vương". Gia Cát Chiêm nổi giận đùng đùng, chém sứ giả của Đặng Ngải, hạ lệnh dàn trận quyết chiến với đại quân Đặng Ngải.

Trận Miên Trúc bùng nổ, Gia Cát Chiêm trước tiên đặt phục binh đánh bại hai cánh quân Ngụy của Đặng Trung (con trai Đặng Ngải) và Sư Toản; Đặng Trung, Sư Toản thua chạy, Đặng Ngải nổi giận, lấy quân pháp ra ép buộc, hai người dẫn quân quay lại chiến đấu, đại phá quân Thục.

Gia Cát Chiêm thấy quân Thục đại bại, than rằng: "Ta ở trong không trừ được Hoàng Hạo, ở ngoài không chế ngự được Khương Duy, tiến lên không giữ được Giang Du, ta có ba tội, còn mặt mũi nào mà trở về!" Bèn lao vào trận quân Ngụy liều chết chiến đấu rồi tử trận, năm đó 37 tuổi. Con trai ông là Gia Cát Thượng khi đó chưa đầy 20 tuổi, nghe tin cha tử trận, than rằng: "Hai cha con chịu ơn nặng của nước, không sớm chém Hoàng Hạo, để đến nỗi thất bại sụp đổ, sống còn làm gì!" cũng thúc ngựa lao vào trận quân Ngụy tử chiến.

Miên Trúc thất thủ, cha con Gia Cát Chiêm tử trận, Thành Đô của Thục Hán không còn bức bình phong nào nữa, Hậu chủ Lưu Thiện không lâu sau đó đã đầu hàng Đặng Ngải, Thục Hán diệt vong.

2. So sánh khác biệt với Tam Quốc Diễn Nghĩa
Nội dung ghi chép trong chính sử và tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung về nhân vật Gia Cát Chiêm có một số điểm khác biệt nổi bật sau:

• Chi tiết sử dụng tượng gỗ Gia Cát Lượng:
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, khi giao chiến với quân Ngụy tại Miên Trúc, Gia Cát Chiêm đã cho khắc một pho tượng gỗ hình người cha là Gia Cát Lượng, đặt lên xe bốn bánh đẩy ra trận để hù dọa quân Ngụy. Quân Ngụy trông thấy tưởng Khổng Minh vẫn còn sống nên hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Chi tiết mang tính dã sử huyền thoại này hoàn toàn không có trong ghi chép của chính sử.

• Sai lầm chiến thuật và lời khuyên của Hoàng Sùng
Theo lịch sử, Gia Cát Chiêm vì do dự, chần chừ không nghe theo lời khuyên can thống thiết của Hoàng Sùng nên đã để lỡ cơ hội vàng chiếm giữ các điểm hiểm yếu, dẫn đến thất bại. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, sai lầm chiến lược này không được khắc họa quá nặng nề; thay vào đó, tác phẩm chủ yếu tôn vinh hình ảnh một trung thần dũng cảm, khí tiết lẫm liệt, thà chết vinh chứ không chịu đầu hàng.

• Thái độ đối với Khương Duy
Chính sử ghi nhận mâu thuẫn nội bộ khi Gia Cát Chiêm từng dâng biểu lên Hậu chủ xin tước binh quyền của Khương Duy, cho rằng Khương Duy hiếu chiến làm kiệt quệ đất nước. Tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa ít đề cập sâu đến sự rạn nứt này, nhằm bảo vệ hình tượng anh hùng tích cực chung cho cả hai nhân vật quan trọng của phe Thục Hán.

05/06/2026
ĐÀI TƯỞNG NIỆM THÁNH TỬ ĐẠO PHẬT GIÁOĐịa chỉ: Gần cầu Trường Tiền, Đường Lê Lợi, Phường Thuận Hóa, Thành Phố Huế.Mỗi độ ...
24/05/2026

ĐÀI TƯỞNG NIỆM THÁNH TỬ ĐẠO PHẬT GIÁO

Địa chỉ: Gần cầu Trường Tiền, Đường Lê Lợi, Phường Thuận Hóa, Thành Phố Huế.

Mỗi độ mùa Phật Đản trở về trên đất cố đô Huế, tiếng chuông chùa ngân vang khắp xứ Thừa Thiên lại gợi nhắc trong lòng người con Phật một ký ức đau thương nhưng bất diệt - Sự kiện tám vị Thánh Tử Đạo Phật Giáo tử nạn tại đài phát thanh Huế đêm ngày 15 tháng 4 năm Quý Mão (1963) nhằm ngày 8 tháng 5 năm 1963 tây lịch trong Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2507.

Đó không chỉ là một sự kiện lịch sử. Đó là một vết thương của dân tộc, một trang sử viết bằng máu của Phật giáo Việt Nam, nơi tám người con Phật đã ngã xuống trong tinh thần bất bạo động, chỉ vì khát vọng được tôn trọng đức tin và quyền bình đẳng tôn giáo.

Ngày đó, từ chùa Diệu Đế đến chùa Từ Đàm, cờ Phật giáo tung bay trong niềm hân hoan kính mừng ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Hàng vạn Tăng Ni, Phật tử và đồng bào đã cùng nhau tham dự lễ cung nghinh Phật đản trong không khí trang nghiêm nhưng cũng đầy ưu tư khi những lá cờ Phật giáo bị buộc phải triệt hạ.

Tối đến, dòng người từ khắp nơi đổ về đài phát thanh Huế để chờ nghe chương trình phát thanh Phật Đản như thông lệ hằng năm. Nhưng rồi chương trình ấy không bao giờ được phát đi. Thay vào đó là những phút giây kinh hoàng đã khắc sâu vào lịch sử.

Tiếng nước từ xe cứu hỏa xịt thẳng vào đoàn người tay không. Tiếng súng nổ vang trong màn đêm. Tiếng la hét hỗn loạn xen lẫn tiếng khóc gọi nhau thảm thiết. Máu đã đổ xuống trước đài phát thanh Huế trong đêm Phật Đản linh thiêng ấy. Tám người con Phật đã ngã xuống:

1. Tâm Đồng Đặng Văn Công (1950 - 1963)

2. Tâm Thành Dương Viết Đạt (1950 - 1963)

3. Tâm Thanh Nguyễn Thị Yến (1943 - 1963)

4. Tâm Thông Nguyễn Thị Phúc (1943 - 1963)

5. Tâm Hiển Lê Thị Kim Anh (1948 - 1963)

6. Tâm Thuận Trần Thị Phước Trị (1946 - 1963)

7. Tâm Chánh Nguyễn Thị Ngọc Lan (1951 - 1963)

8. Tâm Tôn Huyền Tôn Nữ Tuyết Hòa (1951 - 1963)

Các vị không mang binh khí, Không hận thù, Không bạo động. Các vị chỉ mang theo niềm tin nơi Tam Bảo và tấm lòng muốn bảo vệ sự công bằng cho tôn giáo của mình.

Máu của tám vị Thánh tử đạo đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam năm Quý Mão (1963). Từ đau thương ấy, bản Tuyên ngôn 5 nguyện vọng ra đời, cất lên tiếng nói ôn hòa nhưng kiên quyết cho tự do tín ngưỡng, cho công bằng xã hội và cho phẩm giá con người.

Điều đáng kính phục nhất là giữa máu và nước mắt ấy, Phật giáo vẫn chọn con đường từ bi và bất bạo động. Không trả thù, Không kích động hận thù tôn giáo, Không xem ai là kẻ thù. Tinh thần ấy đã làm rung động lương tri của cả thế giới.

Hơn sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh đêm Phật Đản năm Quý Mão (1963) nơi đài phát thanh Huế vẫn còn như mới. Lý tưởng mà các vị Thánh Tử Đạo để lại vẫn còn sống mãi trong lòng dân tộc và đạo pháp.

Tưởng niệm không phải để khơi lại hận thù.
Tưởng niệm là để nhắc nhau gìn giữ lòng từ bi, sự bao dung và quyền tự do tín ngưỡng thiêng liêng của con người. Tưởng niệm là để thế hệ hôm nay hiểu rằng: hòa bình, công bằng và sự tôn trọng lẫn nhau chưa bao giờ là điều tự nhiên có được... mà đôi khi đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt của biết bao người đi trước.

Nguyện cầu anh linh tám vị Thánh Tử Đạo cùng chư vị vị pháp vong thân đời đời siêu sinh tịnh cảnh, thùy từ gia hộ cho đạo pháp trường tồn, quê hương thanh bình và lòng người luôn biết yêu thương nhau hơn.

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Việt Nam Phật Giáo Vị Pháp Thiêu Thân, Vị Pháp Vong Thân Liệt Vị, Chư Anh Linh Thánh Tử Đạo !!!

*********
Để tưởng niệm biến cố đau thương xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm Quý Mão (1963), nhân ngày vía Đức Phật A Di Đà năm Ất Tỵ (1965), một công trình tưởng niệm đã được khởi công xây dựng trước Đài Phát thanh Huế, mang tên Đài Tưởng Niệm Thánh Tử Đạo.

Kể từ đó, vào mỗi dịp lễ, đặc biệt là mùa Phật Đản rằm tháng Tư, chư Tăng Ni, Phật tử cùng đông đảo thiện tín lại trang nghiêm vân tập về nơi đây dâng hương tưởng niệm, thành kính tri ân những bậc tiền nhân đã xả thân vì đạo để gìn giữ và tiếp nối mạng mạch Phật giáo Việt Nam cho đến hôm nay.

Nhiều anh chị em mình đều nhớ bài ca dao về thắng cảnh và con người Huế được truyền tụng từ bao đời nay :Đất Thừa Thiên ...
24/05/2026

Nhiều anh chị em mình đều nhớ bài ca dao về thắng cảnh và con người Huế được truyền tụng từ bao đời nay :

Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,

Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng,

Tháp bảy tầng, Thánh miếu, chùa Ông,

Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Toà.

Cầu Trường Tiền mười hai nhịp bắc qua,

Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đợi khách âu ca thái bình.

Câu thơ " Chuông khua Diệu đế Trống rung Tam Tòa" làm không ít người thắc mắc vì sao giữa các danh thắng của Đế Đô lại xuất hiện hai hình ảnh " Chuông khua " " trống rung" ,ở đây Sử sách nói về tiếng trống ấy chính là Trống ĐĂNG VĂN - Tiếng trống kêu oan dưới triều Nguyễn!

Trong thời kỳ độc lập, tự chủ (1802-1885), dưới thời trị vì của các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, triều Nguyễn đã có một số biện pháp nhằm giám sát hoạt động của bộ máy hành chính, trừng trị tham quan, bảo vệ nền quân chủ và phần nào đảm bảo quyền lợi cho dân chúng, triều đình cho thành lập các cơ quan tư pháp gồm bộ Hình, Đại Lý tự, viện Đô sát,gọi là Tam Pháp ty.

Từ 1802 đến 1831, cơ quan tư pháp tối cao của triều Nguyễn là bộ Hình. Đây là cơ quan tham mưu cho triều đình và thực thi các hoạt động liên quan đến lĩnh vực tư pháp như xét xử và thi hành các vụ trọng án, tham gia sửa định luật lệ, thực thi mệnh lệnh của nhà vua, thụ lý kiện tụng và phải phúc thẩm các bản án do địa phương đệ trình lên, tiếp nhận danh sách hình án cuối năm của các nha môn sau đó tổng hợp lên vua nghị xử… Tuy nhiên, năm 1831, vua Minh Mạng cho rằng mỗi khi triều đình đang bàn việc ở Tả triều đường mà bộ Hình trừng phạt những người can phạm và dân đến kiện cáo nộp đơn là “hỗn tạp” nên sai đình thần bàn bạc, tham khảo “điển lệ Bắc triều”, lấy 3 nha là Hình bộ, viện Đô sát, Đại Lý tự lập thành Tam Pháp ty. Chức năng chính của tổ chức này là nhận đơn kiện hay các án oan của dân chúng trong cả nước và xét xử các vụ án lớn, nhất là hình án. Mặc dù là cơ quan được lập từ 3 cơ quan khác nhau nhưng để thuận lợi cho việc thực thi nhiệm vụ, triều đình cũng cho đặt Văn phòng ở góc đông nam trong kinh thành, với kiến trúc một tòa 3 gian, 2 chái, mặt tả, mặt hữu và đằng sau đều xây tường xung quanh, phía trước treo tấm biển “Công chính đường”, đằng trước về bên tả, treo 1 cái trống lớn gọi là “Đăng Văn cổ”, đúc ấn bằng bạc (khắc 4 chữ triện “Tam Pháp ty ấn”), dấu kiềm bằng ngà (khắc 3 chữ triện “Tam Pháp ty”). Về chức trách thường ngày, bộ Hình giữ ấn triện, dấu; còn viện Đô sát và Đại Lý tự thì lo việc nhận và niêm phong đơn kiện .

Vua Minh Mạng lo ngại nỗi oan của người dân triều đình khó mà biết được, vì thế vua cho đặt một chiếc trống lớn đem treo lên ở Đông Nam Kinh thành và xuống chiếu ai có điều oan khuất mà các quan địa phương đã xử không thỏa đáng thì sẽ vào đánh trống Đăng Văn để trình đơn kêu oan lên nhà vua .Nếu kiện đúng, nhà vua sẽ phán quyết. Để đề phòng bọn gây rối đánh trống náo loạn kinh thành, người đánh trống sẽ phải tự trói tay chân mình lại để khẳng định tiếng trống Đăng Văn ấy đúng là của mình đánh. Bản thân người đánh trống phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của tiếng trống ấy.

Vua ra quyết định hàng tháng, cứ đến ngày 6, 16, 26 thì Tam Pháp ty phải mở hội đồng để xét đơn thưa kiện của người dân trong cả nước..

Đến đời vua Tự Đức (1847-1883), để biểu hiện thêm sự nghiêm minh, vua ra lệnh trong Thành Nội không ai được đánh trống để khỏi lầm với tiếng trống Đăng Văn. Nghe thấy tiếng trống, dù lúc ấy nhà vua đang làm gì cũng chuẩn bị sẵn sàng nhận đơn kêu oan kịp thời được đưa lên. Nhà vua đọc xong, sẽ tự phê ngay trên đơn và đưa xuống Tam Pháp ty.

Trống Đăng Văn của triều Nguyễn giúp người dân giải oan nhiều vụ, một trong những vụ oan án lớn nhất là vụ án của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 - 1872):

Ông Bùi Hữu Nghĩa, người tỉnh An Giang, đậu Thủ khoa thi Hương năm 1835, làm Tri huyện, ghét bọn giàu có cậy quyền thế ức hiếp dân lành, năm 1848 ông bị quan trên vu oan bắt giam khép tội chết, đưa về kinh thành chờ ngày tử hình, vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn đã ròng rã cả tháng trời vượt biển với chiếc ghe bầu từ trong nam ra Kinh đô Huế đánh trống Đăng Văn để nộp đơn kêu oan, vua Tự Đức đọc xong, tự phê ngay trên đơn và đưa xuống Ty Tam Pháp xem xét, Bùi Hữu Nghĩa được cứu thoát khỏi án tử hình. Sau đó, bà Nguyễn Thị Tồn được vua Tự Đức ban Võng điều có bốn lọng, nơi đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ ; Bà Từ Dũ - mẹ VuaTự Đức - cho mời bà Tồn vào khen ngợi và ban cho tấm biển chạm 4 chữ vàng " Liệt phụ khả gia".

(Nguồn TTLT Quốc gia và Bảo Tàng LS Quốc gia) https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/68380/trong-djang-van-mot-bieu-tuong-dan-chu-cua-trieu-nguyen.html

Có thể nói, chiếc trống Đăng Văn dưới triều Nguyễn đã thể hiện được tinh thần dân chủ, ngăn cản việc lạm quyền, tham ô trù dập của các quan lại địa phương; đồng thời cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật thời bấy giờ.

Rất tiếc đến nay trống Đăng Văn đã không còn nữa. Nếu trống Đăng Văn được tôn tạo, phục hồi, chắc chắn Huế sẽ có thêm một điểm văn hóa đầy ý nghĩa và sẽ rất hấp dẫn khách du lịch bốn phương!

Address

14 Lê Lợi
Hue

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CLB Sử học và Lý luận Trẻ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to CLB Sử học và Lý luận Trẻ:

Shortcuts

Share

Category