05/06/2026
CLB Sử học và Lý luận Trẻ
CLB Sử học & Lý luận trẻ được thành lập vào ngày 15/10/2022
05/06/2026
24/05/2026
ĐÀI TƯỞNG NIỆM THÁNH TỬ ĐẠO PHẬT GIÁO
Địa chỉ: Gần cầu Trường Tiền, Đường Lê Lợi, Phường Thuận Hóa, Thành Phố Huế.
Mỗi độ mùa Phật Đản trở về trên đất cố đô Huế, tiếng chuông chùa ngân vang khắp xứ Thừa Thiên lại gợi nhắc trong lòng người con Phật một ký ức đau thương nhưng bất diệt - Sự kiện tám vị Thánh Tử Đạo Phật Giáo tử nạn tại đài phát thanh Huế đêm ngày 15 tháng 4 năm Quý Mão (1963) nhằm ngày 8 tháng 5 năm 1963 tây lịch trong Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2507.
Đó không chỉ là một sự kiện lịch sử. Đó là một vết thương của dân tộc, một trang sử viết bằng máu của Phật giáo Việt Nam, nơi tám người con Phật đã ngã xuống trong tinh thần bất bạo động, chỉ vì khát vọng được tôn trọng đức tin và quyền bình đẳng tôn giáo.
Ngày đó, từ chùa Diệu Đế đến chùa Từ Đàm, cờ Phật giáo tung bay trong niềm hân hoan kính mừng ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Hàng vạn Tăng Ni, Phật tử và đồng bào đã cùng nhau tham dự lễ cung nghinh Phật đản trong không khí trang nghiêm nhưng cũng đầy ưu tư khi những lá cờ Phật giáo bị buộc phải triệt hạ.
Tối đến, dòng người từ khắp nơi đổ về đài phát thanh Huế để chờ nghe chương trình phát thanh Phật Đản như thông lệ hằng năm. Nhưng rồi chương trình ấy không bao giờ được phát đi. Thay vào đó là những phút giây kinh hoàng đã khắc sâu vào lịch sử.
Tiếng nước từ xe cứu hỏa xịt thẳng vào đoàn người tay không. Tiếng súng nổ vang trong màn đêm. Tiếng la hét hỗn loạn xen lẫn tiếng khóc gọi nhau thảm thiết. Máu đã đổ xuống trước đài phát thanh Huế trong đêm Phật Đản linh thiêng ấy. Tám người con Phật đã ngã xuống:
1. Tâm Đồng Đặng Văn Công (1950 - 1963)
2. Tâm Thành Dương Viết Đạt (1950 - 1963)
3. Tâm Thanh Nguyễn Thị Yến (1943 - 1963)
4. Tâm Thông Nguyễn Thị Phúc (1943 - 1963)
5. Tâm Hiển Lê Thị Kim Anh (1948 - 1963)
6. Tâm Thuận Trần Thị Phước Trị (1946 - 1963)
7. Tâm Chánh Nguyễn Thị Ngọc Lan (1951 - 1963)
8. Tâm Tôn Huyền Tôn Nữ Tuyết Hòa (1951 - 1963)
Các vị không mang binh khí, Không hận thù, Không bạo động. Các vị chỉ mang theo niềm tin nơi Tam Bảo và tấm lòng muốn bảo vệ sự công bằng cho tôn giáo của mình.
Máu của tám vị Thánh tử đạo đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam năm Quý Mão (1963). Từ đau thương ấy, bản Tuyên ngôn 5 nguyện vọng ra đời, cất lên tiếng nói ôn hòa nhưng kiên quyết cho tự do tín ngưỡng, cho công bằng xã hội và cho phẩm giá con người.
Điều đáng kính phục nhất là giữa máu và nước mắt ấy, Phật giáo vẫn chọn con đường từ bi và bất bạo động. Không trả thù, Không kích động hận thù tôn giáo, Không xem ai là kẻ thù. Tinh thần ấy đã làm rung động lương tri của cả thế giới.
Hơn sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh đêm Phật Đản năm Quý Mão (1963) nơi đài phát thanh Huế vẫn còn như mới. Lý tưởng mà các vị Thánh Tử Đạo để lại vẫn còn sống mãi trong lòng dân tộc và đạo pháp.
Tưởng niệm không phải để khơi lại hận thù.
Tưởng niệm là để nhắc nhau gìn giữ lòng từ bi, sự bao dung và quyền tự do tín ngưỡng thiêng liêng của con người. Tưởng niệm là để thế hệ hôm nay hiểu rằng: hòa bình, công bằng và sự tôn trọng lẫn nhau chưa bao giờ là điều tự nhiên có được... mà đôi khi đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt của biết bao người đi trước.
Nguyện cầu anh linh tám vị Thánh Tử Đạo cùng chư vị vị pháp vong thân đời đời siêu sinh tịnh cảnh, thùy từ gia hộ cho đạo pháp trường tồn, quê hương thanh bình và lòng người luôn biết yêu thương nhau hơn.
NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Việt Nam Phật Giáo Vị Pháp Thiêu Thân, Vị Pháp Vong Thân Liệt Vị, Chư Anh Linh Thánh Tử Đạo !!!
*********
Để tưởng niệm biến cố đau thương xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm Quý Mão (1963), nhân ngày vía Đức Phật A Di Đà năm Ất Tỵ (1965), một công trình tưởng niệm đã được khởi công xây dựng trước Đài Phát thanh Huế, mang tên Đài Tưởng Niệm Thánh Tử Đạo.
Kể từ đó, vào mỗi dịp lễ, đặc biệt là mùa Phật Đản rằm tháng Tư, chư Tăng Ni, Phật tử cùng đông đảo thiện tín lại trang nghiêm vân tập về nơi đây dâng hương tưởng niệm, thành kính tri ân những bậc tiền nhân đã xả thân vì đạo để gìn giữ và tiếp nối mạng mạch Phật giáo Việt Nam cho đến hôm nay.
24/05/2026
Nhiều anh chị em mình đều nhớ bài ca dao về thắng cảnh và con người Huế được truyền tụng từ bao đời nay :
Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,
Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng,
Tháp bảy tầng, Thánh miếu, chùa Ông,
Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Toà.
Cầu Trường Tiền mười hai nhịp bắc qua,
Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đợi khách âu ca thái bình.
Câu thơ " Chuông khua Diệu đế Trống rung Tam Tòa" làm không ít người thắc mắc vì sao giữa các danh thắng của Đế Đô lại xuất hiện hai hình ảnh " Chuông khua " " trống rung" ,ở đây Sử sách nói về tiếng trống ấy chính là Trống ĐĂNG VĂN - Tiếng trống kêu oan dưới triều Nguyễn!
Trong thời kỳ độc lập, tự chủ (1802-1885), dưới thời trị vì của các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, triều Nguyễn đã có một số biện pháp nhằm giám sát hoạt động của bộ máy hành chính, trừng trị tham quan, bảo vệ nền quân chủ và phần nào đảm bảo quyền lợi cho dân chúng, triều đình cho thành lập các cơ quan tư pháp gồm bộ Hình, Đại Lý tự, viện Đô sát,gọi là Tam Pháp ty.
Từ 1802 đến 1831, cơ quan tư pháp tối cao của triều Nguyễn là bộ Hình. Đây là cơ quan tham mưu cho triều đình và thực thi các hoạt động liên quan đến lĩnh vực tư pháp như xét xử và thi hành các vụ trọng án, tham gia sửa định luật lệ, thực thi mệnh lệnh của nhà vua, thụ lý kiện tụng và phải phúc thẩm các bản án do địa phương đệ trình lên, tiếp nhận danh sách hình án cuối năm của các nha môn sau đó tổng hợp lên vua nghị xử… Tuy nhiên, năm 1831, vua Minh Mạng cho rằng mỗi khi triều đình đang bàn việc ở Tả triều đường mà bộ Hình trừng phạt những người can phạm và dân đến kiện cáo nộp đơn là “hỗn tạp” nên sai đình thần bàn bạc, tham khảo “điển lệ Bắc triều”, lấy 3 nha là Hình bộ, viện Đô sát, Đại Lý tự lập thành Tam Pháp ty. Chức năng chính của tổ chức này là nhận đơn kiện hay các án oan của dân chúng trong cả nước và xét xử các vụ án lớn, nhất là hình án. Mặc dù là cơ quan được lập từ 3 cơ quan khác nhau nhưng để thuận lợi cho việc thực thi nhiệm vụ, triều đình cũng cho đặt Văn phòng ở góc đông nam trong kinh thành, với kiến trúc một tòa 3 gian, 2 chái, mặt tả, mặt hữu và đằng sau đều xây tường xung quanh, phía trước treo tấm biển “Công chính đường”, đằng trước về bên tả, treo 1 cái trống lớn gọi là “Đăng Văn cổ”, đúc ấn bằng bạc (khắc 4 chữ triện “Tam Pháp ty ấn”), dấu kiềm bằng ngà (khắc 3 chữ triện “Tam Pháp ty”). Về chức trách thường ngày, bộ Hình giữ ấn triện, dấu; còn viện Đô sát và Đại Lý tự thì lo việc nhận và niêm phong đơn kiện .
Vua Minh Mạng lo ngại nỗi oan của người dân triều đình khó mà biết được, vì thế vua cho đặt một chiếc trống lớn đem treo lên ở Đông Nam Kinh thành và xuống chiếu ai có điều oan khuất mà các quan địa phương đã xử không thỏa đáng thì sẽ vào đánh trống Đăng Văn để trình đơn kêu oan lên nhà vua .Nếu kiện đúng, nhà vua sẽ phán quyết. Để đề phòng bọn gây rối đánh trống náo loạn kinh thành, người đánh trống sẽ phải tự trói tay chân mình lại để khẳng định tiếng trống Đăng Văn ấy đúng là của mình đánh. Bản thân người đánh trống phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của tiếng trống ấy.
Vua ra quyết định hàng tháng, cứ đến ngày 6, 16, 26 thì Tam Pháp ty phải mở hội đồng để xét đơn thưa kiện của người dân trong cả nước..
Đến đời vua Tự Đức (1847-1883), để biểu hiện thêm sự nghiêm minh, vua ra lệnh trong Thành Nội không ai được đánh trống để khỏi lầm với tiếng trống Đăng Văn. Nghe thấy tiếng trống, dù lúc ấy nhà vua đang làm gì cũng chuẩn bị sẵn sàng nhận đơn kêu oan kịp thời được đưa lên. Nhà vua đọc xong, sẽ tự phê ngay trên đơn và đưa xuống Tam Pháp ty.
Trống Đăng Văn của triều Nguyễn giúp người dân giải oan nhiều vụ, một trong những vụ oan án lớn nhất là vụ án của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 - 1872):
Ông Bùi Hữu Nghĩa, người tỉnh An Giang, đậu Thủ khoa thi Hương năm 1835, làm Tri huyện, ghét bọn giàu có cậy quyền thế ức hiếp dân lành, năm 1848 ông bị quan trên vu oan bắt giam khép tội chết, đưa về kinh thành chờ ngày tử hình, vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn đã ròng rã cả tháng trời vượt biển với chiếc ghe bầu từ trong nam ra Kinh đô Huế đánh trống Đăng Văn để nộp đơn kêu oan, vua Tự Đức đọc xong, tự phê ngay trên đơn và đưa xuống Ty Tam Pháp xem xét, Bùi Hữu Nghĩa được cứu thoát khỏi án tử hình. Sau đó, bà Nguyễn Thị Tồn được vua Tự Đức ban Võng điều có bốn lọng, nơi đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ ; Bà Từ Dũ - mẹ VuaTự Đức - cho mời bà Tồn vào khen ngợi và ban cho tấm biển chạm 4 chữ vàng " Liệt phụ khả gia".
(Nguồn TTLT Quốc gia và Bảo Tàng LS Quốc gia) https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/68380/trong-djang-van-mot-bieu-tuong-dan-chu-cua-trieu-nguyen.html
Có thể nói, chiếc trống Đăng Văn dưới triều Nguyễn đã thể hiện được tinh thần dân chủ, ngăn cản việc lạm quyền, tham ô trù dập của các quan lại địa phương; đồng thời cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật thời bấy giờ.
Rất tiếc đến nay trống Đăng Văn đã không còn nữa. Nếu trống Đăng Văn được tôn tạo, phục hồi, chắc chắn Huế sẽ có thêm một điểm văn hóa đầy ý nghĩa và sẽ rất hấp dẫn khách du lịch bốn phương!
VTV ĐÃ LÊN TIẾNG VỀ VẤN ĐỀ LẬT SỬ‼️
🇻🇳(Lịch sử không chỉ là ký ức của dân tộc mà còn là nền tảng tư tưởng, nguồn sức mạnh tinh thần của cách mạng Việt Nam)🇻🇳
Trước những hoạt động xuyên tạc, "lật sử" của các thế lực thù địch nhằm thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", việc nâng cao cảnh giác và kiên quyết bảo vệ sự thật lịch sử trở thành yêu cầu cấp thiết. Nhận diện đúng các thủ đoạn bóp méo quá khứ không chỉ góp phần bảo vệ tính chính danh của chế độ mà còn củng cố niềm tin, khơi dậy tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh tình hình tư tưởng, văn hóa và thông tin trên không gian mạng diễn biến ngày càng phức tạp, các thế lực thù địch từ lâu đã xác định lịch sử là một "mặt trận mềm" trọng yếu để chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là lĩnh vực nhạy cảm bởi lịch sử không chỉ phản ánh tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc mà còn gắn chặt với niềm tin chính trị, bản sắc văn hóa và hệ giá trị tinh thần của quốc gia. Chúng tập trung khai thác những vấn đề dễ gây tranh luận, những giai đoạn bước ngoặt của lịch sử dân tộc như các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thời kỳ đổi mới, cải cách và xây dựng đất nước để gieo rắc sự hoài nghi, tạo ra tâm lý dao động trong nhận thức xã hội.
Trong tinh thần đó, các văn kiện quan trọng gần đây tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng, văn hóa và lịch sử dân tộc trên môi trường số. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị đã đặt ra nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, tin giả và các nội dung xuyên tạc trên mạng xã hội; đồng thời xác định rõ việc bảo vệ chủ quyền văn hóa số, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu cấp thiết trong kỷ nguyên mới.
Thủ đoạn xuyên tạc lịch sử hiện nay ngày càng tinh vi, có tổ chức và được ngụy trang dưới nhiều hình thức mới. Các đối tượng thường sử dụng phương thức cắt xén tư liệu, bóp méo sự kiện, tách rời bối cảnh lịch sử cụ thể để "diễn giải lại lịch sử" theo góc nhìn phiến diện, một chiều. Nguy hiểm hơn, một số phần tử lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu khoa học, hội thảo học thuật, xuất bản sách báo hoặc sản xuất nội dung đa phương tiện để "hợp thức hóa" các quan điểm sai trái, tạo vỏ bọc khách quan giả tạo nhằm đánh lừa người tiếp nhận, nhất là giới trẻ, lực lượng có mức độ tiếp cận thông tin nhanh nhưng đôi khi thiếu khả năng kiểm chứng nguồn tin. Mục tiêu sâu xa của chúng là làm suy yếu nhận thức chính trị, gây xói mòn niềm tin của nhân dân đối với lịch sử cách mạng, từ đó từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tính chính nghĩa của con đường mà dân tộc đã lựa chọn.
Đáng chú ý, xu hướng "hạ bệ thần tượng", bôi nhọ và xuyên tạc hình tượng các anh hùng dân tộc, lãnh tụ cách mạng ngày càng xuất hiện với tần suất dày đặc trên mạng xã hội. Các đối tượng cố tình phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò của những biểu tượng lịch sử tiêu biểu như Vua Quang Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng các anh hùng liệt sĩ như Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi thông qua những thông tin không được kiểm chứng, các lập luận võ đoán và suy diễn chủ quan. Đây hoàn toàn không phải là tranh luận học thuật thuần túy mà là thủ đoạn chính trị thâm độc, nhằm phủ nhận giá trị hy sinh, lý tưởng cách mạng và tinh thần yêu nước đã được hun đúc qua nhiều thế hệ. Việc tấn công vào các biểu tượng tinh thần chính là bước mở đầu trong chiến lược làm phai nhạt lòng tự hào dân tộc, phá vỡ niềm tin vào lịch sử cách mạng Việt Nam.
Song song với đó là thủ đoạn "tâng công – xóa tội", từng bước thúc đẩy xu hướng "xét lại lịch sử" đối với một số nhân vật còn nhiều tranh luận trong tiến trình lịch sử dân tộc như Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… Các thế lực thù địch cùng một số phần tử cơ hội chính trị tìm cách tuyệt đối hóa, tô đậm một chiều những đóng góp cá nhân, đồng thời cố tình lược bỏ hoặc làm mờ đi những yếu tố gắn với lợi ích ngoại bang hay những quyết định đi ngược lại lợi ích dân tộc trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Chúng triệt để lợi dụng các hoạt động như đặt tên đường, dựng tượng, phục hồi lễ giỗ, tổ chức tôn vinh để từng bước "xã hội hóa" nhận thức lệch chuẩn, tạo ra sự nhập nhằng giữa công và tội, giữa đánh giá lịch sử khách quan với dụng ý chính trị. Về thực chất, đây là âm mưu lâu dài nhằm làm thay đổi hệ giá trị lịch sử và chuẩn mực nhận thức xã hội.
Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của môi trường số, nền tảng mạng xã hội, video ngắn và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã làm gia tăng đáng kể tốc độ, phạm vi và mức độ lan truyền của các nội dung xấu độc. Các sản phẩm "ngụy tạo lịch sử", video cắt ghép, hình ảnh deepfake, giọng nói mô phỏng bằng AI đang được sử dụng để sản xuất và phát tán thông tin sai lệch với tốc độ rất nhanh, tạo hiệu ứng lan truyền mạnh, khó kiểm soát. Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều nội dung xuyên tạc có thể thu hút hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu lượt xem, bình luận và chia sẻ, gây nhiễu loạn dư luận xã hội, nhất là trong giới trẻ và người dùng mạng xã hội thường xuyên.
Thực tiễn đó cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ sự thật lịch sử trong bối cảnh mới không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, đội ngũ nghiên cứu lịch sử hay báo chí chính thống, mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong việc nâng cao bản lĩnh chính trị, khả năng sàng lọc thông tin và ý thức bảo vệ các giá trị cốt lõi của dân tộc.
🔸️Lịch sử cách mạng Việt Nam – sự thật khách quan không thể phủ nhận
Lịch sử cách mạng Việt Nam là kết quả của một quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ và đầy hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là một sự thật khách quan, đã được kiểm chứng bằng thực tiễn lịch sử, được hun đúc qua những chặng đường đấu tranh gian khổ và được cộng đồng quốc tế ghi nhận một cách công bằng, khách quan. Không một thế lực nào có thể phủ nhận những hy sinh to lớn, xương máu và công lao của hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trong các cuộc kháng chiến trường kỳ vì Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, đưa đất nước từ thân phận nô lệ, mất nước trở thành một quốc gia độc lập, tự chủ, thống nhất và ngày càng khẳng định vị thế, uy tín trên trường quốc tế.
Các văn kiện của Đảng trong thời kỳ mới tiếp tục khẳng định kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc bất di bất dịch, đồng thời là yêu cầu cốt lõi trong nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ khi thành lập vào năm 1930 đến nay, Đảng luôn đồng hành cùng dân tộc, lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn thử thách, thác ghềnh của lịch sử để giành lấy những thành tựu có ý nghĩa đặc biệt to lớn. Những mốc son chói lọi như Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, đồng thời khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, mọi cố gắng nhằm bóc tách vai trò của Đảng ra khỏi dòng chảy lịch sử dân tộc không chỉ phi thực tế mà còn đi ngược lại sự thật lịch sử đã được khẳng định bằng thực tiễn.
Lịch sử cách mạng Việt Nam còn được minh chứng bằng những chiến công vang dội mang tầm vóc thời đại. Tiêu biểu là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, mốc son "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ ở Đông Dương, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Tiếp đó là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là những sự kiện lịch sử có thật, được ghi nhận bằng hệ thống tư liệu trong nước và quốc tế, là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Việt Nam, đồng thời trở thành bài học quý giá về nghệ thuật quân sự, ý chí độc lập và sức mạnh chiến tranh nhân dân đối với bạn bè thế giới. Mọi nỗ lực bóp méo hoặc phủ nhận những sự thật đó đều không thể làm lu mờ chân lý về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Đáng chú ý, một số luận điệu xuyên tạc hiện nay cố tình gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là "nội chiến", hoặc tìm cách xóa bỏ, làm mờ đi bản chất lịch sử của chính quyền tay sai do ngoại bang hậu thuẫn. Đây là thủ đoạn nguy hiểm nhằm đánh tráo bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược, làm sai lệch nhận thức về tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Việc sử dụng các thuật ngữ như "Ngụy quyền Sài Gòn" hay "quân ngụy Sài Gòn" trong các tài liệu chính thống là nhằm phản ánh đúng bản chất của bộ máy chính trị và quân sự lệ thuộc, được thiết lập dưới sự bảo trợ và chi phối của nước ngoài trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Bảo vệ sự thật lịch sử, vì thế, không chỉ là bảo vệ công lý mà còn là bảo vệ danh dự, sự hy sinh và máu xương của biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc.
Bất kỳ sự thỏa hiệp nào trong việc đánh tráo khái niệm, làm sai lệch bản chất lịch sử hay xuyên tạc ý nghĩa của các cuộc kháng chiến đều có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng đối với nhận thức của các thế hệ mai sau. Do đó, kiên quyết bảo vệ sự thật lịch sử cách mạng Việt Nam chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ bản sắc dân tộc và củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường mà dân tộc đã lựa chọn.
Xuyên tạc lịch sử – nguy cơ trực tiếp đối với nền tảng tư tưởng và niềm tin xã hội
Xuyên tạc lịch sử không chỉ dừng lại ở sự sai lệch thông tin đơn thuần mà thực chất là một hình thức tấn công trực diện, có chủ đích vào nền tảng tư tưởng của Đảng và hệ giá trị cốt lõi của xã hội. Khi các sự kiện, nhân vật và mốc son lịch sử bị bóp méo, cắt xén hoặc diễn giải sai lệch bản chất, niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và vào những thành quả cách mạng đã được đánh đổi bằng xương máu sẽ đứng trước nguy cơ bị lung lay. Đây chính là mục tiêu sâu xa mà các thế lực thù địch luôn hướng tới: tạo ra sự hoang mang trong nhận thức, gây dao động về lập trường tư tưởng, từng bước thúc đẩy quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", từ đó dẫn tới sự suy yếu từ bên trong. Trong bối cảnh mới, yêu cầu chủ động nhận diện và đấu tranh từ sớm, từ xa đối với các luận điệu sai trái, thù địch trên mọi mặt trận tư tưởng càng trở nên cấp thiết.
Hệ quả nghiêm trọng của việc xuyên tạc lịch sử không chỉ nằm ở phương diện nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến niềm tin xã hội và sự đồng thuận trong cộng đồng. Khi niềm tin vào lịch sử dân tộc, vào các giá trị cách mạng và vào con đường phát triển của đất nước bị xói mòn, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc. Những khoảng trống trong nhận thức lịch sử rất dễ trở thành môi trường để các tư tưởng cực đoan, phản động, cơ hội chính trị len lỏi và phát tán. Một xã hội không trân trọng quá khứ, không nhận thức đầy đủ giá trị của lịch sử sẽ dễ rơi vào trạng thái phân hóa, chia rẽ, suy giảm sức đề kháng trước các luồng tư tưởng lệch lạc và những âm mưu chống phá từ bên ngoài. Đây là nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự ổn định chính trị, trật tự xã hội và sự bền vững của chế độ mà nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng.
Trong thời đại bùng nổ thông tin và truyền thông số, nguy cơ này càng trở nên rõ nét hơn khi một bộ phận giới trẻ tiếp cận lịch sử chủ yếu thông qua mạng xã hội, nền tảng video ngắn và các nguồn thông tin thiếu kiểm chứng. Đặc điểm lan truyền nhanh, tính tương tác cao cùng tâm lý tiếp nhận thông tin theo xu hướng cảm xúc khiến không ít nội dung sai lệch dễ dàng tác động đến nhận thức của người trẻ. Đáng chú ý, một số tác phẩm văn học, nghệ thuật phản ánh chiến tranh và thân phận con người trong chiến tranh, như "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh, khi bị tách rời khỏi giá trị nhân văn và bối cảnh sáng tác ban đầu, đã bị một số đối tượng cố tình lợi dụng để xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến. Chúng cố ý suy diễn những mất mát, đau thương cá nhân thành sự phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, từ đó đánh tráo bản chất lịch sử của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Cần khẳng định rõ rằng, những tác phẩm phản ánh nỗi đau chiến tranh, khát vọng hòa bình và giá trị nhân văn sâu sắc không thể bị lợi dụng để phục vụ các mục đích xuyên tạc lịch sử. Việc nhìn nhận chiến tranh dưới góc độ con người và cảm xúc không đồng nghĩa với phủ nhận lý tưởng, mục tiêu và tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh cứu nước. Mọi sự suy diễn nhằm biến cuộc chiến tranh cách mạng thành biểu tượng của sự bi quan, yếm thế đều là hành vi cố tình đánh tráo khái niệm, làm sai lệch bản chất của lịch sử dân tộc.
Nếu không được đấu tranh kịp thời, kiên quyết và hiệu quả, tình trạng xuyên tạc lịch sử có thể dẫn đến quá trình "xói mòn tư tưởng" từ bên trong, tác động âm thầm nhưng sâu rộng đến nền tảng tinh thần của xã hội. Đây là một nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khi các luồng thông tin đa chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực, liên tục tác động đến đời sống xã hội. Bảo vệ sự thật lịch sử vì thế không chỉ là nhiệm vụ của các nhà sử học, cơ quan nghiên cứu hay báo chí chính thống, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chỉ khi xây dựng được một nền tảng tư tưởng vững chắc dựa trên chân lý lịch sử, trên nhận thức đúng đắn về quá khứ và giá trị của những hy sinh mà các thế hệ đi trước đã cống hiến, chúng ta mới có thể giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ thành quả cách mạng và tiếp tục đưa đất nước phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Chủ động đấu tranh bảo vệ sự thật lịch sử trong điều kiện mới
Trong bối cảnh tình hình tư tưởng, thông tin và truyền thông số diễn biến nhanh chóng, đấu tranh bảo vệ sự thật lịch sử phải được tiến hành một cách chủ động, sắc bén, kiên quyết và dựa trên cơ sở khoa học chặt chẽ. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt nhận thức mà còn là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Muốn làm tốt nhiệm vụ này, cần tăng cường hơn nữa công tác nghiên cứu, sưu tầm, hệ thống hóa và công bố rộng rãi các nguồn tư liệu chính thống, có giá trị lịch sử và pháp lý rõ ràng để tạo thế đối trọng với các thông tin giả mạo, các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật. Việc phản bác không thể dừng ở mức phủ nhận cảm tính mà phải dựa trên hệ thống luận cứ chặt chẽ, lập luận sắc sảo, bằng chứng xác thực và sức thuyết phục cao, phù hợp với tinh thần chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng trong tình hình mới. Không chỉ dừng ở thế phòng thủ, công tác đấu tranh phải chuyển mạnh sang thế chủ động tấn công, kịp thời làm rõ bản chất phản động, chống phá của các luận điệu "lật sử", "xét lại lịch sử" bằng chứng cứ lịch sử và lý luận chính trị vững vàng trong mọi hoàn cảnh.
Cùng với đó, đổi mới phương thức tuyên truyền, giáo dục lịch sử là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng xu hướng tiếp nhận thông tin của xã hội hiện đại, đặc biệt là giới trẻ. Trong thời đại số, việc truyền tải lịch sử theo phương thức truyền thống là chưa đủ; cần tận dụng tối đa sức mạnh của các nền tảng công nghệ và truyền thông mới để sản xuất những nội dung hấp dẫn, trực quan, dễ tiếp cận nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác và chiều sâu học thuật. Các hình thức như phim tài liệu, video ngắn, đồ họa tương tác, podcast, triển lãm số, bảo tàng ảo, ứng dụng học tập tương tác và các chiến dịch truyền thông trên mạng xã hội cần được đầu tư bài bản, chuyên nghiệp. Không gian mạng phải thực sự trở thành một mặt trận quan trọng để chiếm lĩnh dư luận, lan tỏa các giá trị lịch sử chính thống và củng cố niềm tin xã hội. Trong bối cảnh tỷ lệ người dân sử dụng internet và mạng xã hội ngày càng cao, việc xây dựng các kênh thông tin uy tín, chính thống, có sức lan tỏa lớn sẽ góp phần đẩy lùi các nội dung xấu độc, tạo dựng một môi trường văn hóa số lành mạnh, tin cậy và giàu giá trị giáo dục.
Vai trò của các cơ quan báo chí, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhà sử học và giáo viên lịch sử trong nhiệm vụ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây chính là lực lượng nòng cốt trong việc cung cấp tri thức chính xác, định hướng dư luận và giữ vững trận địa tư tưởng. Họ không chỉ là những người truyền tải kiến thức mà còn là những "người gác cổng" trên mặt trận nhận thức, có trách nhiệm phát hiện, bóc trần và phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, xuyên tạc ngay từ khi mới manh nha xuất hiện trên không gian mạng. Cần xây dựng một mạng lưới chuyên gia phản biện có chiều sâu lý luận, nhạy bén về thời cuộc và đủ năng lực truyền thông để tham gia đấu tranh hiệu quả trên các nền tảng số. Đồng thời, việc lồng ghép nội dung bảo vệ sự thật lịch sử, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái vào chương trình giáo dục và hoạt động ngoại khóa trong nhà trường là hết sức cần thiết, nhằm hình thành một "lá chắn tư tưởng" vững chắc ngay từ sớm cho thế hệ trẻ.
Bên cạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và truyền thông, cần kết hợp chặt chẽ với các biện pháp pháp lý và công nghệ để nâng cao hiệu quả phòng, chống. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi cố tình xuyên tạc lịch sử, phát tán thông tin sai lệch, kích động dư luận hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự xã hội là yêu cầu tất yếu nhằm giữ vững kỷ cương pháp luật. Các cơ quan chức năng cần tăng cường phối hợp trong công tác rà soát, phát hiện, gỡ bỏ các trang web, tài khoản mạng xã hội, kênh truyền thông số có nội dung vi phạm; đồng thời ứng dụng công nghệ hiện đại, bao gồm trí tuệ nhân tạo và công cụ giám sát dữ liệu số, để truy vết nguồn phát tán thông tin giả mạo, ngăn chặn từ sớm các chiến dịch thao túng dư luận. Tinh thần đặt ra là phải kiên quyết, đồng bộ, không khoan nhượng đối với mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích dân tộc, đến sự thật lịch sử và nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong điều kiện mới, bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là một yêu cầu sống còn đối với sự ổn định chính trị, sự bền vững của hệ giá trị quốc gia và niềm tin xã hội. Chỉ khi chủ động đấu tranh trên cả ba phương diện: tư tưởng, truyền thông và pháp lý, chúng ta mới có thể giữ vững trận địa lịch sử – tư tưởng, bảo vệ thành quả cách mạng và tiếp tục củng cố sức mạnh tinh thần của dân tộc trong thời kỳ phát triển mới.
🔸️Xây dựng "lá chắn tư tưởng" từ mỗi cán bộ, đảng viên tới người dân
Trong bối cảnh các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các hoạt động xuyên tạc, bóp méo lịch sử nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, việc xây dựng một "lá chắn tư tưởng" vững chắc từ mỗi cán bộ, đảng viên đến từng người dân là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược, lâu dài và cấp thiết. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là lực lượng tiên phong trong nhận thức sâu sắc giá trị của lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Việc học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là trách nhiệm chính trị, là quá trình tự rèn luyện bản lĩnh, củng cố niềm tin và nâng cao sức đề kháng trước những luận điệu sai trái, thù địch. Khi mỗi đảng viên có nền tảng tri thức lịch sử vững vàng, họ sẽ trở thành những tuyên truyền viên tích cực, những hạt nhân nòng cốt trong việc định hướng dư luận xã hội, lan tỏa nhận thức đúng đắn và bảo vệ sự thật lịch sử trong đời sống hằng ngày.
Cùng với đó, xây dựng khả năng bảo vệ sự thật lịch sử trong Nhân dân phải được xác định là một nhiệm vụ chiến lược của toàn hệ thống chính trị. Đặc biệt, cần dành sự quan tâm đúng mức cho công tác giáo dục lịch sử đối với thế hệ trẻ bằng những phương pháp hiện đại, gần gũi với thực tiễn và phù hợp với xu thế tiếp cận thông tin trong thời đại số. Việc tổ chức các hoạt động về nguồn, tham quan di tích lịch sử, bảo tàng, địa chỉ đỏ, kết hợp với ứng dụng công nghệ số trong dạy và học lịch sử sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu đúng, hiểu sâu hơn về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ đó bồi đắp niềm tự hào, trách nhiệm và lý tưởng cống hiến. Khi có nền tảng kiến thức vững chắc và tư duy phản biện tốt, giới trẻ sẽ có khả năng tự phân tích, sàng lọc, nhận diện và phản bác các thông tin xuyên tạc, sai lệch trên không gian mạng. Đây chính là nền tảng để xây dựng một thế hệ kế tục có bản lĩnh, trung thành với lý tưởng cách mạng và sự nghiệp phát triển đất nước.
Không chỉ dừng lại ở đội ngũ cán bộ, đảng viên hay thế hệ trẻ, mỗi người dân cũng cần nâng cao ý thức trách nhiệm, trở thành một "người bảo vệ sự thật lịch sử" tích cực trong cộng đồng. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là nền tảng vững chắc nhất để hóa giải mọi âm mưu chia rẽ, kích động và xuyên tạc. Khi mỗi người dân đều có ý thức cảnh giác trước các luận điệu sai trái, biết kiểm chứng thông tin, chủ động tiếp cận nguồn tin chính thống và kiên quyết lên án các hành vi bóp méo lịch sử, môi trường tư tưởng – văn hóa của xã hội sẽ ngày càng trong sạch, lành mạnh. Chính sự đồng lòng của nhân dân sẽ tạo nên bức tường thành kiên cố nhất để bảo vệ những giá trị thiêng liêng mà biết bao thế hệ cha ông đã hy sinh, vun đắp bằng mồ hôi, xương máu và lòng yêu nước.
Quan trọng hơn, xây dựng "lá chắn tư tưởng" không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là công việc mang tính nền tảng cho tương lai dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển bùng nổ của không gian số, cuộc đấu tranh bảo vệ lịch sử sẽ ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, thường xuyên và liên tục của cả hệ thống chính trị. Mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần chủ động xây dựng cơ chế phối hợp trong công tác tuyên truyền, giáo dục và phản bác các quan điểm sai trái, bảo đảm không để hình thành "khoảng trống nhận thức" trong xã hội.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát huy sức mạnh của văn hóa, giáo dục, báo chí và truyền thông hiện đại trong việc lan tỏa các giá trị lịch sử chân thực, nhân văn và cách mạng. Khi lịch sử được truyền tải bằng ngôn ngữ gần gũi, giàu cảm xúc và phù hợp với tâm lý tiếp nhận của công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên, thì sức sống của sự thật lịch sử sẽ càng bền vững, thấm sâu vào đời sống xã hội. Đây chính là cách biến lịch sử từ những trang sách thành niềm tin, thành ý chí và thành hành động cụ thể trong mỗi con người Việt Nam hôm nay.
Bảo vệ lịch sử, suy cho cùng, chính là bảo vệ chân lý, bảo vệ chính nghĩa và bảo vệ tương lai của đất nước Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực lịch sử không phải là trách nhiệm của riêng một lực lượng nào, mà là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Giữ vững sự thật lịch sử chính là giữ vững nền móng tinh thần cho ngôi nhà chung Việt Nam phát triển bền vững, độc lập và trường tồn. Chúng ta kiên quyết không để bất kỳ luận điệu xuyên tạc nào xâm lấn vào nhận thức xã hội, bởi bảo vệ lịch sử cũng chính là bảo vệ tương lai tươi sáng của dân tộc. Sự thật lịch sử sẽ mãi là ánh sáng soi đường, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta tiếp tục đi tới những thắng lợi mới./.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Website
Address
14 Lê Lợi
Hue