05/12/2024
𝐈𝐍𝐓𝐄𝐑𝐏𝐑𝐎𝐗𝐈𝐌𝐀𝐋 𝐖𝐄𝐀𝐑
Giữa các quần thể người, sự mòn tiếp xúc bên (và mặt nhai) phổ biến hơn ở các nhóm phi công nghiệp sống trong môi trường khắc nghiệt, đòi hỏi hoạt động nhai mạnh mẽ hơn so với các xã hội hiện đại tiêu thụ thực phẩm mềm, đã chế biến, mặc dù một số cá nhân nghiến răng quá mức cũng có thể thể hiện sự mòn bề mặt tiếp xúc và bề mặt nhai đáng kể.
Sự mòn tiếp xúc bên liên quan đến hai lực riêng biệt tác động lên răng, một là lực có vectơ hướng về phía trước tạo xu hướng di gần của răng, giúp duy trì sự tiếp xúc giữa các răng, hai là lực theo hướng trong-ngoài do chuyển động nhai sang bên. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về cách thức hình thành vectơ lực hướng về gần, nhưng nhìn chung, người ta cho rằng lực nhai tác động dọc theo trục dài của răng với chân răng nghiêng về phía xa, là nguyên nhân chính.
Thông thường, với sự mòn tiếp xúc bên, mặt gần răng phía sau sẽ mòn nhanh hơn mặt xa răng trước, dẫn đến sự phát triển của hình thái diện mòn lõm ở phía gần răng sau và diện mòn lồi ở phía xa răng trước (mesial concavity, distal convexity). Theo Kubein và Kruger, sự mòn không đều này thể hiện sự khác biệt về tốc độ dao động giữa hai răng tiếp xúc, với răng trước dao động với tần số cao hơn răng sau.
Nguyên tắc chỉnh nha của Begg được hỗ trợ bởi lý thuyết "khớp cắn mòn" của ông, dựa trên sự giảm chiều dài cung răng do sự di chuyển của răng về phía trước trong quá trình mòn tiếp xúc bên. Begg cho rằng sự giảm chiều dài cung răng cung cấp khoảng trống phía sau cho sự xuất hiện của răng khôn mà không bị kẹt, một đặc điểm phổ biến trong các quần thể thổ dân tiền hiện đại. Và tỉ lệ lệch lạc khớp cắn cao hơn trong các xã hội hiện đại có liên quan chặt chẽ đến sự thiếu hụt tương đối của sự mòn bề mặt tiếp xúc. Và xuất phát từ tiền đề của Begg, rằng sự giảm chiều dài cung răng trong suốt cuộc đời tương đương với đường kính gần-xa của một răng hàm nhỏ, dẫn đến hình thành quan điểm nhổ răng hàm nhỏ để trong điều trị chỉnh nha.
______
Brief Communication: Interproximal Tooth Wear: A New Observation - Kaidonis et al 1992
Tooth wear: the view of the anthropologist - Kaidonis et al 2008
Human tooth wear in the past and the present: Tribological mechanisms, scoring systems, dental and skeletal compensations - d'Incau et al 2012
The anterior component of occlusal force - Southard 1989
03/09/2024
Sự ổn định của kết quả điều trị chỉnh nha
Tiên lượng tốt nhất là cho những thay đổi theo chiều trước sau (cả Hạng II và Hạng III) (với việc duy trì thường có ảnh hưởng tương đối ít đến sự ổn định).
Sự ổn định của kết quả điều trị răng thưa/ chen chúc có thể cao nhưng phụ thuộc nhiều vào việc mang khí cụ duy trì.
Sự thay đổi theo chiều ngang (đặc biệt là nong rộng) không ổn định và phụ thuộc vào việc đeo dụng cụ duy trì cẩn thận, độ cứng của vật liệu duy trì cũng rất quan trọng.
Cuối cùng, việc điều chỉnh cắn hở phía trước thường rất thiếu ổn định, với các phương pháp tiếp cận thụ động để duy trì thường không thể làm giảm tái phát.
_________
Orthodontics current principles and techniques.
26/07/2024
DÁN ZIRCONIA - APC concept
________________
Markus B. Blatz, Marcela Alvarez, Kimiyo Sawyer, Marco Brindis.
11/06/2024
Về giấy phép hành nghề (trước 2027), cho một số bạn sắp ra trường nè 😘
02/06/2024
PHỤC HỒI RĂNG SAU NỘI NHA - Dùng chốt đúc, chốt sợi thủy tinh hay không dùng chốt?
______
* Chốt kim loại hay chốt sợi thủy tinh?
Sự thành công của việc phục hồi ETT (răng đã điều trị nội nha) không chỉ xét về tỷ lệ tồn tại của riêng phục hồi mà là tỷ lệ tồn tại của răng nói chung và khả năng tái phục hồi sau khi phục hồi cũ thất bại. Phục hồi thất bại có thể phân ra là các thất bại có thể sửa chữa được như là: thất bại trong lớp kết dính, thất bại giữa lớp kết dính và răng/phục hồi, hư hỏng nhẹ, sứt mẻ hoặc nứt cấu trúc răng bên dưới; hoặc các thất bại thảm khốc - “catastrophic failure”: liên quan đến việc gãy răng/chân răng, không thể sữa chữa và răng cần phải nhổ bỏ.
Theo hướng phục hồi truyền thống, khi răng bị mất chất nhiều, cấu trúc còn lại không đủ độ lưu giữ (chiều cao thân răng dưới 2 mm), thì chốt và cùi đúc được chỉ định để lưu giữ phục hồi. Nhìn chung chúng được khuyên dùng khi không có hoặc có tối thiểu cấu trúc thân răng, không đủ để dán phục hồi hay tạo hình thái chống xoay. Tuy nhiên, kỹ thuật chốt và cùi đúc truyền thống tốn nhiều thời gian hơn và thường liên quan đến chi phí vật liệu và lab cao hơn. Chốt kim loại có mô đun đàn hồi cao hơn ngà răng, có khả năng kháng gãy cao nhưng ứng suất tập trung ở một điểm trong chân răng, làm tăng tỷ lệ gãy chân răng.
Chốt sợi thủy tinh hiện được sử dụng rộng rãi, do tính thẩm mỹ và tiết kiệm thời gian. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về ảnh hưởng của loại vật liệu của chốt và cùi lên độ kháng nứt gãy của ETT. Chốt sợi thủy tinh làm sẵn có modun đàn hồi tương tự ngà răng, nó phân bố ứng suất dọc theo chân răng, giảm nguy cơ gãy chân răng. Dù độ kháng nứt gãy kém hơn so với chốt và cùi đúc, nhưng có dạng hư hỏng “thuận lợi” hơn, tức mang lại nhiều khả năng sửa chữa hơn khi thất bại, và thất bại dù xảy xa ở mức chịu tải thấp hơn nhưng khả năng để chân răng nguyên vẹn cao hơn. Trong một đánh giá lâm sàng kéo dài 4 năm (66) tỷ lệ thành công của chốt và cùi đúc (gắn với cement) là 84% so với 95% khi sử dụng trụ sợi thủy tinh và tái tạo cùi bằng resin composite (dán), hiện tượng gãy chân răng và sút mão chỉ được quan sát thấy ở nhóm chốt và cùi đúc. Nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng việc gắn các chốt làm sẵn bằng hệ thống dán có thể mang lại khả năng lưu giữ tốt hơn, ít vi thấm hơn và khả năng chống gãy chân răng cao hơn.
Nhiều nghiên cứu đưa ra những kết quả đối lập về chốt sợi thủy tinh. Đặc tính đàn hồi của loại chốt này cho phép uốn cong giữa sự phần cùi tái tạo và chân răng tạo ra các khoảng trống nhỏ giữa giao diện mão – chân răng. Khoảng trống này không thể phát hiện trên lâm sàng và được coi là khởi nguồn cho thất bại của phục hồi.
Một phân tích tổng (meta-analysis) hợp trên 13 nghiên cứu in vitro đánh giá khả năng kháng gãy của ETT được phục hồi bằng chốt kim loại so với chốt sợi thủy tinh, kết luận rằng nhóm chốt kim loại có có khả năng kháng gãy cao hơn so với nhóm chốt sợi thủy tinh. Một phân tích tổng hợp trên 7 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên và 7 nghiên cứu thuần tập kết luận tỷ lệ gãy chân răng là như nhau giữa chốt kim loại và chốt sợi thủy tinh. Một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên kèo dài 5 năm so sánh các hệ thống chốt và cùi giả kim loại và chốt gia cố sợi và cùi compostie trên ETT với sự hiện diện của ferrule, kết luận rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tồn tại. Một đánh giá hệ thống vào năm 2017 về các dạng hư hỏng ETT cho thấy trụ kim loại có nguy cơ gãy chân răng cao hơn, trong khi trụ sợi thủy tinh có nguy cơ mất khả năng lưu giữ chốt/cùi giả/mão cao hơn.
Tóm lại, các nghiên cứu gần đây không thống nhất về lợi ích lâm sàng của việc sử dụng chốt sợi thủy tinh chế tạo sẵn thay vì chốt và cùi đúc. Cần thực hiện nhiều nghiên cứu lâm sàng hơn để cung cấp thêm dữ liệu cho việc Đánh giá hệ thống/Phân tích tổng hợp
* Không dùng chốt?
Các nghiên cứu in vitro gần đây đã chứng minh rằng việc sử dụng chốt hay không không ảnh hưởng đến độ bền mỏi của răng sau và cũng không ảnh hưởng đến răng trước có ferrule. Và việc đặt chốt luôn đi kèm với dạng thất bại “thảm khốc”. Mặt khác, các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy tỷ lệ sống sót của ETT với mão PFM cao hơn khi được phục hồi bằng chốt so với không có chốt. Sự thiếu nhất quán trong tài liệu về ảnh hưởng của chốt trong phục hồi ETT đã dẫn đến một số nghiên cứu gần đây về các phương pháp tiếp cận không có chốt như là một giải pháp thay thế có tính mô phỏng sinh học cao hơn: Endocrown và mão với cùi tái tạo không dùng chốt .
Theo các báo cáo lâm sàng ngắn hạn, tỷ lệ sống sót của endocrown là 90-95% ở các răng sau. Một nghiên cứu phân tích tổng hợp gần đây đã đánh giá về endocrown và kết luận rằng chúng có hiệu quả tương tự hoặc tốt hơn các phương pháp điều trị thông thường bằng cách sử dụng chốt trong chân răng, phục hồi composite trực tiếp hoặc inlay/onlay. Kỹ thuật này là một giải pháp thay thế đầy hứa hẹn và bảo tồn thay thế cho mão răng toàn phần trong điều trị răng sau đã nội nha. Endocrown cho răng trước chưa được nghiên cứu trên lâm sàng.
KẾT LUẬN:
- Y văn không có thống nhất về sự cần thiết của chốt khi phục hồi ETT. Tuy nhiên, chốt được khuyến khích sử dụng khi răng không còn ferrule.
- Hiệu ứng ferrule và thành răng còn sót lại là những yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng sống sót của răng và phục hồi trên răng sau điều trị nội nha
______
Current options concerning the endodontically-treated teeth restoration with the adhesive approach - Carvalho, Marco Aurélio de; Lazari, Priscilla Cardoso; Gresnigt, Marco; Del Bel Cury, Altair Antoninha; Magne, Pascal (2018).
Restoration of Endodontic Treated Teeth, An Adhesive Dentistry Perspective (2016).
17/05/2024
LỰA CHỌN KIỂU PHỤC HỒI CHO RĂNG SAU NỘI NHA
_____
A Modern Guide in the Management of Endodontically Treated
Posterior Teeth - Motasum Abu‑Awwad.
Modern Endodontic Principles Part 7: The Restorative Interface - Warren Martin et al.
The Guidebook to Molars Endodontics - Berlin Heidelberg
15/05/2024
BƠM RỬA ỐNG TỦY VỚI NAOCL
_________
- Thời gian bơm rửa:
Y văn có sự khác biệt đáng kể về điều này. Trong một số bài báo, NaOCl được cho là có khả năng tiêu diệt vi sinh vật chỉ trong vòng vài giây, ngay cả với nồng độ thấp; một số bài báo khác thì báo cáo thời gian để NaOCl tiêu diệt vi sinh vật cùng loài lại lâu hơn đáng kể. Sự khác biệt về thời gian để NaOCl tác dụng hiệu quả này có thể giải thích do sự hiện diện của những chất hữu cơ, dịch viêm, mùn ngà và sinh khối vi sinh vật làm suy yếu tác dụng của dung dịch NaOCl. Để khắc phục hạn chế này, việc bơm rửa liên tục, tạo dòng chảy với dung dịch bơm rửa mới và tăng thời gian tiếp xúc là những yếu tố cần thiết để tăng hiệu quả của NaOCl.
Theo một số nghiên cứu được công bố gần đây, NaOCl tiếp xúc với ngà răng trong thời gian dài có thể có tác động bất lợi đến ngà răng. Natri hypochlorite 5,25% làm giảm độ bền uốn và mô đun đàn hồi của ngà răng. Kết quả là, một mặt, dung dịch bơm rửa cần nhiều thời gian tiếp xúc với thành ống tủy để loại bỏ màng sinh học; mặt khác, thời gian tăng lên này có thể gây hại cho ngà răng.
- Nồng độ:
NaOCl được sử dụng phổ biến với nhiều nồng độ khác nhau, từ 0,5 đến 6%. Nồng độ NaOCl cao có hiệu quả kháng khuẩn và phá vỡ và loại bỏ màng sinh học tốt hơn, đồng thời có đặc tính hòa tan mô tốt hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ thấp hơn có thể đạt hiệu quả tương tự khi sử dụng với dung tích lớn hơn và tần suất sử dụng thường xuyên hơn.
Nồng độ NaOCl cao sẽ độc hại hơn nồng độ thấp và nếu vô tình đẩy ra ngoài ống tủy, có thể gây phản ứng mô tồi tệ hơn. May mắn thay, do cấu trúc giải phẫu của hệ thống ống tủy nên những sự cố này rất hiếm, nồng độ cao được sử dụng thành công trong quá trình điều trị tủy răng với tỷ lệ rủi ro thấp.
- Tương tác:
Nhiều trình tự bơm rửa khác được đề xuất trên y văn. Các dung dịch bơm rửa khác nhau có thể tương tác tích cực hoặc tiêu cực khi dùng chung với nhau. Vì vậy cần có kiến thức đầy đủ về sự tương tác giữa các chất bơm rửa khi muốn kết hợp các dung dịch.
NaOCl và EDTA
NaOCl được sử dụng như là một chất hòa tan mô hữu cơ trong suốt quá trình tạo hình và làm sạch hệ thống ống tủy. Tuy nhiên, trong quá trình sửa soạn, lớp mùn ngà được tạo ra, chứa chất vô cơ và vi khuẩn, và không thể bị loại bỏ hiệu quả bởi NaOCl. Vì vậy cần thiết phải sử dụng các chất Chelat, chẳng hạn như EDTA, để loại bỏ mùn ngà, và trên thực tế nó ngày càng được sử dụng phổ biến, nhất là trong những case hoại tử tủy. Nghiên cứu cho thấy rằng cần khoảng 2 phút để loại bỏ bỏ lớp mùn ngà, lớp mùn càng dày thì cần thời gian tiếp xúc với EDTA càng lâu.
Để hưởng lợi từ các đặc tính của cả NaOCl và EDTA, điều quan trọng là phải biết sự tương tác của chúng: EDTA giữ được khả năng tạo phức với calci khi trộn với NaOCl. Tuy nhiên, EDTA làm mất khả năng hòa tan mô của NaOCl. Vậy nên về mặt lâm sàng, EDTA và NaOCl nên được sử dụng riêng biệt. Khi muốn bơm rửa xen kẽ, nên sử dụng một lượng lớn NaOCl để rửa sạch tàn dư của EDTA.
Điều cần biết là khi sử dụng NaOCl sau khi làm sạch bằng EDTA, có thể giúp làm sách ở mức độ sâu hơn của ngà răng, mặt khác sự xói mòn được tạo ra có thể góp phần làm suy yếu cấu trúc răng, có thể gây gãy chân răng theo chiều dọc.
Để khắc phục một số vấn đề đã đề cập, sự kết hợp nồng độ thấp hơn của NaOCl với các chất Chelat dạng khác, “mềm” hơn đang được đề xuất trong y văn với những kết quả đầy hứa hẹn. Axit etidronic hoặc Axit 1-hydroxyethane 1,1-diphosphonic (HEDP) cho thấy khả năng tương thích ngắn hạn với dung dịch NaOCl, do đó giữ được tác dụng kháng khuẩn và hòa tan mô hữu cơ mong muốn của NaOCl trong khi cho thêm yếu tố khử khoáng vào hỗn hợp.
NaOCl và Chlorhexidine
CHX là một chất kháng khuẩn phổ rộng, được sử dụng để bơm rửa ống tủy với độc tính thấp hơn so với NaOCl. CHX có hiệu quả kháng khuẩn tương đương với NaOCl và có ưu điểm là có "substantivity"- khả năng bám và duy trì tác dụng trong ống tủy theo thời gian. Tuy nhiên, CHX không có khả năng hòa tan mô như là NaOCl, do đó CHX không thể thay thế NaOCl mà là dùng như là một bước bơm rửa bổ sung cuối cùng sau khi bơm rửa với NaOCl và EDTA. Lưu ý là với sự hiện diện của NaOCl trong ống tủy, việc bơm rửa bằng CHX sẽ tạo ra kết tủa màu nâu cam. Người ta cũng đã chứng minh rằng trộn EDTA với CHX cũng tạo ra kết tủa có màu hồng. Vậy nên cần bơm rửa lại với nước muối thật nhiều để làm sạch NaOCl và EDTA nếu muốn sử dụng CHX như là dung dịch bơm rửa cuối cùng.
_______________
Nguồn:
Update on endodontic irrigating solutions - Bettina Basrani, Markus Haapasalo.
Root Canal Irrigants - Matthias Zehnder.
19/04/2024
𝐏𝐔𝐋𝐏 𝐁𝐈𝐎𝐋𝐎𝐆𝐘
Sinh lý tủy răng
______
Reference:
Textbook of endodontic 4th edition.
Dental Pulp Neurophysiology: Part 1. Clinical and
Diagnostic Implications.
An Insight Into Neurophysiology of Pulpal Pain: Facts and Hypotheses.
17/03/2024
𝗥𝗘𝗙𝗘𝗥𝗥𝗘𝗗 𝗣𝗔𝗜𝗡
Referred pain - Cơn đau quy chiếu / cơn đau chuyển vị: là cơn đau được cảm nhận ở một vị trí khác ngoài vị trí kích thích/ nguồn gốc cơn đau. Nó là kết quả của một mạng lưới các dây thần kinh cảm giác liên kết với nhau, và dẫn truyền cảm giác cho nhiều mô khác nhau. Khi có sang chấn tại một vị trí trong mạng lưới này, tín hiệu gửi về có thể được não diễn giải rằng đã được nhận từ một đường dẫn truyền khác cùng nằm trong mạng lưới đó.
01/03/2024
𝐆𝐢𝐚̉𝐧 𝐥𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐕𝐚̣̂𝐭 𝐥𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐭𝐫𝐚́𝐦 𝐛𝐢́𝐭 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐧𝐨̣̂𝐢 𝐧𝐡𝐚
_______
3 loại vật liệu trám bít phổ biến nhất dựa theo thành phần chính: Sealer dựa trên ZOE, sealer dựa trên epoxy resin và sealer dựa trên calcium silicate.
AH Plus (Resin based) được một số nghiên cứu cho là tiêu chuẩn vàng của vật liệu trám bít với khả năng bít kín ống tuỷ rất tốt.Tuy nhiên, nó vẫn còn những hạn chế, trong đó có khả năng gây độc tế bào, tạo phản ứng viêm và kỵ nước.
Vật liệu dựa trên Calcium silicate đang trở nên phổ biến nhờ mức độ tương thích sinh học cao, tính ưa nước và những đặc tính vật lý rất tốt của mình
MTA là một loại vật liệu dựa trên Calcium Silicate, Calcium Silicate là một loại vật liệu Bioceramic.
Thành phần chính của MTA Fillapex là resin.
_______
https://doi.org/10.5395/rde.2020.45.e35
DOI: 10.4012/dmj.2019-288
DOI: 10.4103/INJO.INJO_13_21
DOI: 10.1007/s10266-018-0400-3
Ingle's Endodontics
Harty's Endodontics
Bioceramic material in clinical endodontics.
23/02/2024
𝐓ó𝐦 𝐭ắ𝐭 𝐩𝐡â𝐧 𝐥𝐨ạ𝐢 𝐧𝐡𝐚 𝐜𝐡𝐮 𝟐𝟎𝟏𝟕 𝐀𝐀𝐏/𝐄𝐅𝐏
______
Được hỏi nên tiện thể ôn lại dị chứ số lần t thấy người ta dùng cái bảng ni nhiều như số lần Arsenal vô địch C1 v k*k