CLB LUẬT GIA TRẺ

CLB LUẬT GIA TRẺ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from CLB LUẬT GIA TRẺ, College & University, số 02, Nguyễn Tất Thành, Phường 13, Quận 04, Ho Chi Minh City.

CLB Luật Gia Trẻ - Lấy sức trẻ - Bẻ gian lao
Fanpage hoạt động chính thức tại phân mảng học thuật; hỗ trợ cập nhật, giải đáp những thông tin liên quan đến NCKH đến các bạn sinh viên Ulaw.

⭐[BÀI VIẾT SỐ 283]⭐❗BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI TÀI SẢN❗1. ĐẶT VẤN ĐỀTranh chấp tài sản vốn là một tro...
18/09/2026

⭐[BÀI VIẾT SỐ 283]⭐
❗BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI TÀI SẢN❗

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tranh chấp tài sản vốn là một trong những vấn đề rất phổ biến trong xã hội và cũng là vấn đề nhức nhối đối với luật pháp ở Việt Nam. Trong thực tiễn, ta thấy được quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản của mình rất dễ bị xâm phạm bởi những người khác. Chính vì thế, pháp luật nước ta đã có những quy định về quyền kiện đòi tài sản. Quyền kiện đòi tài sản hay còn gọi là quyền đòi lại tài sản là một trong những quyền mà nhà nước trao cho chủ sở hữu với mục đích bảo vệ được quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu, giúp chủ sở hữu có thể đòi lại tài sản của mình từ người chiếm hữu nó không có căn cứ pháp luật thông qua Tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bài viết dưới đây sẽ đề cập tới những vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản.

2. NỘI DUNG BÀI VIẾT
2.1. Khái niệm, phân loại và điều kiện áp dụng
2.1.1. Khái niệm của “kiện đòi tài sản”:
Theo từ điển Tiếng Việt, “kiện” có nghĩa là đưa ra tòa án người mà mình cho là đã làm việc gì phạm pháp đối với mình ; còn “đòi” có nhiều nghĩa nhưng một trong những nghĩa chính quan trọng là yêu cầu người khác phải trả mình một thứ gì đó . Bên cạnh đó, định nghĩa về “tài sản” được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ tại Điều 105. Như vậy, kiện đòi tài sản được hiểu như là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án xét xử buộc người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản của mình phải trả lại tài sản đó cho mình.
Để tránh việc hiểu nhầm hoặc có sai sót về mặt lý thuyết, Bộ luật Dân sự đã quy định các điều khoản về quyền đòi lại tài sản như sau:
“Điều 166. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó”.
Hay tại khoản 2 Điều 164 cũng có đề cập: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

2.1.2. Phân loại
Khi xem xét trong việc phân loại quyền đòi lại tài sản, căn cứ theo Điều 167 và 168 BLDS 2015, ta có thể thấy các nhà làm luật rất chú trọng việc có phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình hay không và việc tài sản đó là bất động sản hay động sản.
Đầu tiên, ta thấy rằng tài sản là bất động sản luôn cần phải được đăng ký quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, căn cứ theo khoản 1 Điều 106 BLDS 2015 còn động sản chỉ có trong những trường hợp pháp luật quy định khác thì mới cần phải đăng ký, theo khoản 2 Điều 106 BLDS 2015. Vì vậy mà tại Điều 168 và 167, quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền hay bất động sản được đặt kế bên nhau còn động sản không phải đăng ký đặt riêng nhằm phân biệt rành mạch hai nhóm tài sản cần phải đăng ký và không phải đăng ký từ người chiếm hữu ngay tình. Điều này cho thấy mức độ quan trọng về mặt pháp lý của hai đối tượng này khác nhau, việc tài sản phải được đăng ký sẽ khẳng định hơn về sự hiện hữu của quyền, tạo ra chứng cứ chính thức và tuyệt đối về tạo lập quyền.
Trước khi phân loại kĩ hơn, ta phải hiểu rõ làm thế nào để một người có thể xác lập quyền sở hữu ngay tình về tài sản không có căn cứ pháp luật. Căn cứ tại Điều 236 BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, người chiếm hữu ngay tình có thể hiểu là người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục và công khai trong một thời hạn nhất định.
Mặt khác, tại Điều 168 có đề cập việc trường hợp tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 thì không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình: “2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu. Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”. Như vậy, người chiếm hữu thứ ba ngay tình có thể được xem là người không biết cụ thể sự việc chiếm hữu bất hợp pháp về tài sản trước đó, họ đơn giản là người có nhu cầu mua lại tài sản đó và đã vô tình giao dịch dân sự với người chiếm hữu không có căn cứ, vì thế pháp luật hiện hành vẫn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp đầy đủ cho người thứ ba ngay tình.

2.2. Thời hiệu khởi kiện
Yêu cầu đòi lại tài sản có thể xem là yêu cầu thuộc về bảo vệ quyền sở hữu, vì vậy mà căn cứ theo khoản 2 Điều 155 BLDS 2015 thì quyền đòi lại tài sản không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Qua đó, ta thấy rằng chủ sở hữu tài sản hợp pháp có thể khởi kiện bất cứ lúc nào mà không bị giới hạn bởi thời hiệu, như vậy sẽ đảm bảo cho quyền, lợi ích đầy đủ và hợp pháp cho họ.

2.3. Hậu quả pháp lý khi kiện đòi tài sản
Nhìn chung, việc kiện đòi lại tài sản sẽ dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý tùy thuộc vào kết quả của vụ kiện và quyết định của thẩm phán. Trong trường hợp nguyên đơn là bên thắng kiện thì bị đơn có nghĩa vụ phải trả lại tài sản mà bị đơn đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật cho nguyên đơn. Bên cạnh đó, nguyên đơn còn có quyền yêu cầu bị đơn đền bù thiệt hại mà nguyên đơn phải chịu trong quá trình bị chiếm giữ tài sản hoặc bồi thường thiệt hại khi mà trong quá trình chiếm giữ, bị đơn đã làm hư hại đến tài sản tranh chấp theo quy định Điều 170 BLDS 2015: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại”. Còn trong trường hợp nguyên đơn là bên thua kiện, thông thường người khởi kiện sẽ không chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng, có thể người khởi kiện sẽ phải chịu các chi phí phát sinh, trong một số trường hợp, nếu người khởi kiện khởi kiện vô căn cứ, họ có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

2.4. Điểm mới so với Bộ luật dân sự 2005
Trong BLDS 2005, quyền đòi lại được quy định tại Điều 256: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.”
Một cách tổng quan, ta có thể thấy quy định tại Điều 166 BLDS 2015 có phần ngắn gọn so với quy định tại Điều 256 BLDS 2005. Điều 166 đã dùng cụm từ “đòi lại” thay vì “yêu cầu trả lại” như ở Điều 256, sự thay đổi này hoàn toàn hợp lý vì rõ ràng “yêu cầu trả lại” thì có thể bị từ chối nhưng đã “đòi lại” thì bên bị đòi có nghĩa vụ trả lại. Bên cạnh đó, Điều 256 còn có quy định: “Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này”, rõ ràng việc này là không cần thiết và dư thừa, nên BLDS 2015 đã không còn quy định này. Có thể nói, yếu tố ngắn gọn và dễ hiểu rất quan trọng trong việc lập pháp để người dân có thể dễ dàng tiếp cận với các quy định pháp luật hơn, vì thế việc chỉnh sửa lại câu chữ, lược bỏ những quy định dư thừa như trên là rất cần thiết.
Mặt khác, Điều 256 BLDS 2005 chỉ đề cập tới chủ thể là người sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp trong khi ở Điều 166 BLDS 2015 còn đề cập tới chủ thể có quyền khác đối với tài sản. Đây như một sự mở rộng về quyền đối với chủ thể có quyền khác đối với tài sản khi hiện nay, chủ thể này cũng có quyền kiện đòi tài sản và chủ sở hữu lại không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể này. Qua đó ta thấy được pháp luật đã có sự ưu ái hơn đối với lại chủ thể có quyền khác với tài sản, thậm chí còn ưu ái hơn cả người sở hữu khi mà cả người sở hữu cũng không thể đòi lại tài sản từ người có quyền khác đối với tài sản, cho thấy được quyền lợi của họ đã được đảm bảo hơn.

2.5. Phương thức kiện đòi tài sản ở nước ngoài
Pháp luật của các nước phát triển khác trên thế giới cũng có những quy định về kiện đòi tài sản.
Ví dụ Bộ luật Dân sự Đức (Bürgerliches Gesetzbuch), tại Điều 985 có quy định: “The owner may require the possessor to surrender the thing”, tạm dịch: “Chủ sở hữu có thể yêu cầu người chiếm hữu trả lại tài sản”.
Sau Điều 985, Bộ luật Dân sự Đức tiếp tục nêu các quy định về các trường hợp liên quan đến đòi tài sản như Điều 986:
“(1) Người chiếm hữu có thể từ chối giao nộp vật nếu người chiếm hữu hoặc người chiếm hữu gián tiếp mà người chiếm hữu có quyền chiếm hữu có quyền chiếm hữu liên quan đến chủ sở hữu. Nếu người chiếm hữu gián tiếp không được ủy quyền liên quan đến chủ sở hữu để cung cấp quyền chiếm hữu cho người chiếm hữu, thì chủ sở hữu có thể yêu cầu người chiếm hữu giao nộp vật cho người chiếm hữu gián tiếp hoặc, nếu người chiếm hữu gián tiếp không thể hoặc không muốn chiếm hữu lại, thì giao nộp cho chính chủ sở hữu.
(2) Người chiếm hữu vật đã được chuyển nhượng theo điều 931 bằng cách chuyển nhượng quyền yêu cầu giao nộp có thể đưa ra phản đối đối với chủ sở hữu mới mà họ có quyền sử dụng để phản đối quyền yêu cầu được chuyển nhượng”.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Đức còn quy định về đòi lại hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 987, 988), quy định về bồi thường thiệt hại trong quá trình chiếm hữu tài sản (Điều 989).

3. KẾT LUẬN
Nhìn chung, kiện đòi tài sản là một trong những phương thức quan trọng để giúp người dân có thể bảo vệ quyền sở hữu đối với lại tài sản của mình. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi các vụ việc liên quan đến lừa đảo để chiếm đoạt tài sản đang diễn ra rất phổ biến thì việc kiện tụng là cách duy nhất để người chịu thiệt hại có thể đòi lại tài sản của mình. Tuy nhiên, do chính sự rườm rà và phức tạp của quy trình tố tụng đã tạo nên tâm lý e ngại đối với người dân nên họ ít khi chọn tòa án để giải quyết tranh chấp. Vì vậy, pháp luật hiện hành cần phải tối ưu hóa lại hệ thống tư pháp để người dân có thể dễ dàng tiếp cận với việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình hơn.
---------------------------------------------
Bài viết: Lê Trương Tuấn Khanh, Lê Ngọc Phương Thảo - NBLG Kỳ 19 (T9/2024)
Hình ảnh: Thảo Ngân
---------------------------------------------
📌THÔNG TIN VỀ CLB LUẬT GIA TRẺ
Fanpage: CLB Luật Gia Trẻ
Email: [email protected]
“Luật Gia Trẻ - Lấy sức trẻ - Bẻ gian lao"

⭐[BÀI VIẾT SỐ 282]⭐❗TỘI GIẾT HOẶC VỨT BỎ CON MỚI ĐẺ - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM❗TÓM TẮT: Quy...
15/09/2026

⭐[BÀI VIẾT SỐ 282]⭐
❗TỘI GIẾT HOẶC VỨT BỎ CON MỚI ĐẺ - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM❗

TÓM TẮT: Quyền sống là quyền đặc biệt quan trọng được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, trẻ em là đối tượng đặc biệt được bảo vệ, điều đó được khẳng định rất rõ tại Điều 12 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển”. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, thực trạng tước đoạt mạng sống của người khác nói chung và mạng sống của trẻ em nói riêng đang diễn ra hết sức phức tạp. Trong đó phải kể đến số lượng vụ việc giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ ngày càng gia tăng. Đây là những hành vi không chỉ vi phạm tiêu chuẩn đạo đức truyền thống mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại quyền con người, quyền trẻ em.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực trạng vụ việc giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ ngày càng gia tăng, đây là tội phạm được quy định cụ thể tại Điều 124 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ mới đang định tội danh đối với chủ thể là người mẹ có hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ trong 07 ngày tuổi mà hậu quả là đứa trẻ chết. Hậu quả đứa trẻ chết đã hoàn thành và xảy ra nên việc phải chịu mức hình phạt theo luật định theo nhóm tác giả là chưa thực sự phù hợp, không đủ tính răn đe cho xã hội. Bên cạnh đó, việc đứa trẻ may mắn sống sót thì vấn đề trách nhiệm hình sự ở đây chưa được đặt ra.

2. NỘI DUNG
2.1 Những vấn đề chung về tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ
Thứ nhất, về khách thể, Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ xâm phạm đến tính mạng, quyền được sống của đứa trẻ. Đối tượng tác động của tội phạm này là con mới đẻ, đứa trẻ phải còn sống và mới sinh trong vòng 07 ngày tuổi kể từ khi đứa trẻ được sinh ra đến khi bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe.
Thứ hai, về chủ thể, đây là tội phạm có chủ thể đặc biệt. Cụ thể, chủ thể của Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ phải là người mẹ có cùng huyết thống với đứa trẻ mới sinh trong vòng 07 ngày tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự. Người mẹ có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ phải nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi ấy tuy nhiên người mẹ vẫn mong muốn con mình chết.
Thứ ba, về mặt khách quan, hành vi giết con mới đẻ được thể hiện dưới dạng hành động phạm tội như bóp cổ, đánh, thả từ trên cao xuống, dìm xuống nước,... Mặt khác, các hành vi này còn biểu hiện dưới dạng không hành động như người mẹ của đứa trẻ không cho con mình bú sữa; đứa trẻ ốm mà không cho uống thuốc dẫn đến đứa trẻ chết. Hành vi vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết được biểu hiện dưới dạng hành động như vứt bỏ con mình ở một nơi nào đó như ngoài nghĩa trang, cổng bệnh viện, cổng chùa,... Hậu quả đứa trẻ chết là dấu hiệu bắt buộc của tội này.
Thứ tư, về mặt chủ quan, tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, người mẹ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và có thể làm đứa trẻ chết tuy nhiên vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra.

2.2 Thực trạng và bất cập
Trong những năm vừa qua, số lượng vụ việc giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ đã và đang ngày một gia tăng, gây rúng động dư luận. Tiêu biểu phải kể đến các vụ việc như: N.K.H vứt bỏ con sơ sinh giữa khe tường (Gia Lâm, Hà Nội); bé trai 1 tuần tuổi bị bỏ rơi trên cống chui (Điện Bàn, Quảng Nam); bé trai sơ sinh còn nguyên dây rốn bị bỏ lại trước cổng nhà dân (Nam Sách, Hải Dương), v.v… Điểm chung của những vụ việc nêu trên chính là không xảy ra hậu quả đứa trẻ chết. Điều này đồng nghĩa với việc chưa đủ cơ sở để cấu thành Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại Điều 124 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), do vậy, người mẹ đã thực hiện hành vi nêu trên sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tội giết hoặc vứt đỏ con mới đẻ là trường hợp đặc biệt của tội giết người. Vấn đề được nhóm tác giả đặt ra ở đây là tuy cùng xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của con người nhưng trong khi Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự hiện hành thuộc nhóm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất có thể là tử hình thì Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại Điều 124 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) lại thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng do khung hình phạt cao nhất của tội này là 03 năm tù. Trong hầu hết các tội phạm xâm hại đến tính mạng, sức khỏe được quy định trong Bộ luật Hình sự khi đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì được quy định nằm trong mức định khung tăng nặng hình phạt. Tuy nhiên, theo tinh thần của Nghị quyết số 04/1986/NQ-HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định về một số tình tiết định khung giảm nhẹ thì tội giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết là một tội phạm có cấu thành giảm nhẹ đặc biệt. Tuy chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam đặt ra cho người mẹ khi thực hiện hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ trong trường hợp người mẹ đã phải chịu nhiều điều tiêu cực đến tâm sinh lý do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt có ý nghĩa nhân đạo, giúp cho người mẹ sớm hoàn lương. Dù vậy, nhóm tác giả cho rằng không có cơ sở nào khẳng định rằng khi áp dụng chính sách khoan hồng đối với người phạm Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại Điều 124 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì số lượng vụ việc trẻ sơ sinh bị giết hoặc vứt bỏ sẽ giảm thiểu. Bên cạnh đó, cũng không có căn cứ chứng minh rằng người mẹ phạm tội này sẽ có xu hướng ăn năn, hối cải sau khi được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, tính mạng của trẻ nhỏ sẽ còn bị xâm phạm và ngày càng theo chiều hướng gia tăng nếu không đặt ra những hình phạt khắt khe hơn đối với Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ.

2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Để hoàn thiện quy định của pháp luật về tội “Giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ” (Điều 124 Bộ luật Hình sự hiện hành) dựa trên những bất cập của quy định pháp luật nêu trên, nhóm tác giả xét thấy cần hoàn thiện những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, cần tăng nặng hình phạt đối với Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ. Như những gì nhóm tác giả đã phân tích ở phần Thực trạng và bất cập, Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ là trường hợp đặc biệt của Tội giết người (Điều 123 Bộ luật Hình sự hiện hành), vì vậy khi quyết định hình phạt đối với tội này cần đặt trong tương quan với các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người. Do đó, việc tăng nặng hình phạt đối với tội phạm này là cần thiết.
Thứ hai, cần bổ sung thêm quy định về giai đoạn thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp người mẹ thực hiện hành vi giết hoặc vứt bỏ con mình mà hậu quả đứa trẻ chết không xảy ra thì người mẹ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Như vậy, đối với hậu quả đứa trẻ chết thì người mẹ luôn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm hoàn thành hay phạm tội chưa đạt nhằm mục đích răn đe và không bỏ lọt tội phạm.
Thứ ba, việc thiếu quy định cụ thể về chế tài đối với những trường hợp người mẹ cố ý vứt bỏ nhưng đứa trẻ lại may mắn được cứu sống hoặc được nuôi dưỡng bởi người khác vẫn đang là một lỗ hổng của pháp luật Việt Nam. Cần bổ sung thêm những hình phạt thích đáng để răn đe những đối tượng có hành vi trái đạo đức, trái pháp luật này để tránh bỏ sót tội phạm.

3. Kết luận
Qua phân tích thực trạng và những bất cập của pháp luật hiện hành về Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, có thể thấy rằng vấn đề này đang đặt ra những thách thức lớn cho xã hội. Việc hoàn thiện bộ máy pháp luật là một yêu cầu cấp thiết để bảo vệ quyền lợi của trẻ em, ngăn chặn hành vi tàn ác và xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.
---------------------------------------------
Bài viết: Nguyễn Ngọc Trâm Anh, Phạm Quỳnh Như - NBLG Kỳ 19 (T9/2024)
Hình ảnh: Thảo Ngân
---------------------------------------------
📌THÔNG TIN VỀ CLB LUẬT GIA TRẺ
Fanpage: CLB Luật Gia Trẻ
Email: [email protected]
“Luật Gia Trẻ - Lấy sức trẻ - Bẻ gian lao"

✨ [THÔNG BÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NCKH SINH VIÊN LẦN THỨ 30 NĂM HỌC 2025 – 2026 LĨNH VỰC LUẬT THƯƠNG MẠI] ✨💌 Sau một thời g...
10/09/2026

✨ [THÔNG BÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NCKH SINH VIÊN LẦN THỨ 30 NĂM HỌC 2025 – 2026 LĨNH VỰC LUẬT THƯƠNG MẠI] ✨

💌 Sau một thời gian dài nỗ lực không ngừng nghỉ để hoàn thiện đề tài thì giờ đây đã lên lúc các bạn sinh viên hái quả ngọt. Ngày nghiệm thu đề tài NCKH sinh viên chính là cơ hội để các bạn trình bày kết quả nghiên cứu sau gần một năm vất vả 😍

📌CLB Luật gia trẻ xin gửi đến các nhóm nghiên cứu những thông tin liên quan đến Hội đồng nghiệm thu đề tài NCKH sinh viên lần thứ 30 năm học 2025 – 2026 lĩnh vực Luật Thương mại, cụ thể như sau:

📚 HỘI ĐỒNG LUẬT ĐẤT ĐAI – MÔI TRƯỜNG📚
⏰ Thời gian: Cả ngày 13/9/2026 (Chủ Nhật)
👉 Buổi sáng: Bắt đầu từ 07 giờ 30
👉 Buổi chiều: Bắt đầu từ 13 giờ 30
🏫 Địa điểm: Phòng E.201 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cơ sở 123 Quốc Lộ 13 (Bình Triệu).

📚 HỘI ĐỒNG LUẬT THƯƠNG MẠI📚
⏰ Thời gian: Bắt đầu từ 08 giờ 00 ngày 13/9/2026 (Chủ Nhật)
🏫 Địa điểm:
1. Hội đồng 1: Phòng A.704 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cơ sở 02 Nguyễn Tất Thành
2. Hội đồng 2: Phòng A.710 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cơ sở 02 Nguyễn Tất Thành
✅ Đối với Hội đồng Luật Thương mại, địa điểm nghiệm thu được chia thành 2 phòng (2 hội đồng), các nhóm NCKH xem chi tiết trong danh sách.

📚 HỘI ĐỒNG LUẬT THUẾ - TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG📚
⏰ Thời gian: Bắt đầu từ 08 giờ 00 ngày 14/9/2026 (Thứ Hai)
🏫 Địa điểm:
1. Hội đồng 1: Phòng A.604 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cơ sở 02 Nguyễn Tất Thành
2. Hội đồng 2: Phòng A.605 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cơ sở 02 Nguyễn Tất Thành
✅ Đối với Hội đồng Luật Thuế - Tài chính – Ngân hàng, địa điểm nghiệm thu được chia thành 2 phòng (2 hội đồng), các nhóm NCKH xem chi tiết trong danh sách.

‼️ Thông tin về danh sách chi tiết hội đồng, các bạn vui lòng truy cập vào đường link: https://luatthuongmai.hcmulaw.edu.vn/vi/thong-bao-tin-tuc/thong-bao-nghiem-thu-de-tai-nghien-cuu-khoa-hoc-sinh-vien-lan-thu-30?fbclid=IwY2xjawUPA_BwZG9mBWV4dG4DYWVtAjEwAGJyaWQRMW5vTG1kbWJlblQ5RENtV0tzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeZxvqd8pQKZyaUAJjK7n3w88eLRUXFPKIVXDfXwNfEGboJEyX8sEI9-sL0Qw_aem_Abk-c1VQl1zlSDnrKrDnZw

📍Lưu ý:
- Các nhóm NCKH có mặt ngay từ đầu buổi bảo vệ;
- Nhóm nghiên cứu xem kỹ và theo dõi thông tin về thứ tự, thời gian, địa điểm được cập nhật trong danh sách các đề tài.

👐Chúc các nhóm nghiên cứu bình tĩnh, tự tin và có buổi bảo vệ thật thành công 💪💪

⭐[BÀI VIẾT SỐ 281]⭐❗THỰC TIỄN HÀNH VI LỪA ĐẢO TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ HÌNH SỰ❗I. ĐẶT VẤN ĐỀ Hành v...
08/09/2026

⭐[BÀI VIẾT SỐ 281]⭐
❗THỰC TIỄN HÀNH VI LỪA ĐẢO TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ HÌNH SỰ❗
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hành vi lừa đảo trên không gian mạng đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng và phức tạp trong thời đại công nghệ 4.0. Tình trạng này không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào các tổ chức và cơ quan chức năng. Bài viết này sẽ phân tích thực tiễn hành vi lừa đảo trên không gian mạng và một số vấn đề pháp lý hình sự liên quan.

II. NỘI DUNG BÀI VIẾT
1. Thực tiễn hành vi lừa đảo trên không gian mạng
Thực tiễn lừa đảo trên không gian mạng là những hoạt động gian lận, đánh lừa người dùng để chiếm đoạt tài sản, thông tin cá nhân hoặc gây thiệt hại về tinh thần. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các hình thức lừa đảo ngày càng trở nên tinh vi và đa dạng, gây ra nhiều hậu quả thực tiễn lừa đảo trên không gian mạng là những hoạt động gian lận, đánh lừa người dùng để chiếm đoạt tài sản, thông tin cá nhân hoặc gây thiệt hại về tinh thần. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các hình thức lừa đảo ngày càng nghiêm trọng cho cá nhân, tổ chức và xã hội.
Hành vi lừa đảo trên không gian mạng đang ngày càng tinh vi và đa dạng. Các đối tượng thường lợi dụng công nghệ 4.0, sử dụng server nước ngoài, số điện thoại ảo để che giấu danh tính, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy bắt.
Giả mạo cơ quan nhà nước và tổ chức: Các đối tượng thường giả mạo các cơ quan nhà nước, lập các trang web và tài khoản mạng xã hội giả mạo để thu hút sự quan tâm của người dân. Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) cho biết, chiêu trò lừa đảo giả danh cán bộ thuế, công an đã không còn xa lạ trên mạng. Tuy nhiên, do các đối tượng giả danh đã liên tục thay đổi kịch bản, thao túng tâm lý người dùng một cách tinh vi nên vẫn có không ít người dân bị "sập bẫy" .
Lợi dụng tình hình thiên tai: Các đối tượng lợi dụng tình hình thiên tai để thực hiện hành vi lừa đảo, tận dụng tâm lý đồng cảm của người dân để đánh lừa và chiếm đoạt tài sản. Lợi dụng sự quan tâm, thương cảm và sẻ chia của nhiều người dân trên cả nước với đồng bào tại các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng nặng nề bởi bão Yagi, một số fanpage, hội, nhóm giả được lập để kêu gọi ủng hộ từ thiện nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dân .
Tình trạng lừa đảo trên không gian mạng đã gây ra những thiệt hại lớn về tài sản và tinh thần cho người dân. Trong 6 tháng đầu năm 2024, số vụ lừa đảo qua mạng tại Việt Nam gia tăng mạnh hơn: Quý I với hơn 10.200 trường hợp và quý II với gần 11.500 trường hợp; Theo thống kê, chỉ trong tháng 8/2024 đã có 815 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó 55% là qua mạng. Tổng số tiền thiệt hại từ các vụ lừa đảo trực tuyến đã ghi nhận gần 16.000 phản ánh và gây thiệt hại hơn 390.000 tỷ đồng, tương đương với 3,6% GDP .
Thống kê từ số liệu của Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia - NCSC, Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, số địa chỉ website giả mạo thương hiệu với mục đích lừa đảo trong 06 tháng gần đây được NCSC phát hiện là gần 500. Cũng trong thời gian qua, mỗi tuần hệ thống kỹ thuật của NCSC tiếp nhận từ 400 - 500 phản ánh của người dùng Internet Việt Nam về các trường hợp lừa đảo, trong đó có nhiều trường hợp lừa đảo giả mạo website của các ngân hàng, trang thương mại điện tử …
Cục đã trực tiếp tham mưu cho Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an triển khai nhiều nghiệp vụ công tác. Trong năm 2023, các đơn vị đã đấu tranh, khởi tố hơn 1.500 vụ án, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, răn đe, trấn áp các loại tội phạm trên không gian mạng. Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng như Bộ TT&TT, Ngân hàng Nhà nước tham mưu triển khai các biện pháp rà soát, định danh xác thực nhằm ngăn chặn, hạn chế giao dịch chuyển dòng tiền vi phạm pháp luật. Tháng 4/2024, Cục đã phối hợp ngăn chặn gỡ bỏ hơn 2.100 tài khoản, trang mạng có dấu hiệu lừa đảo; Tổ chức các buổi làm việc với các đơn vị cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, triển khai các biện pháp kiểm soát, ngăn chặn, phối hợp cung cấp thông tin về tội phạm mạng nói chung và lừa đảo qua mạng nói riêng; đã triển khai chiến dịch tuyên truyền, phòng chống tội phạm lừa đảo trên không gian mạng…

2. Một số vấn đề pháp lý hình sự
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, quy định về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Điều 174 BLHS năm 2015 gần như là hoàn hảo, có giá trị lý luận cũng như thực tiễn cao. Tuy nhiên, đối với “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” tại Điều 290 BLHS năm 2015 lại có nhiều bất cập trong quy định, gây ra những khó khăn nhất định trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Có thể điểm qua một số bất cập trong quy định tại Điều 290 BLHS năm 2015, cụ thể như sau:
Thứ nhất, với kĩ thuật liệt kê, nhà làm luật đã liệt kê các hành vi phạm tội của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản giúp người áp dụng pháp luật có thể dễ dàng, nhanh chóng xác định hành vi phạm tội trên thực tế. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển khoa học công nghệ nhanh chóng như hiện tại, các hình thức phạm tội ngày càng phát triển tinh vi, xảo quyệt và khó lường. Mặt khác, để ban hành một văn bản pháp luật mới, mất rất nhiều thời gian để thực hiện theo quy trình nhất định và luật cũng không thể nào thay đổi quá nhiều trong một khoảng thời gian nhất định. Sự thay đổi của pháp luật cần phải có đủ thời gian để người dân nắm bắt luật, hiểu luật và tuân theo pháp luật. Như vậy, pháp luật mới thực hiện được sứ mệnh vốn có của mình. Do đó, việc xây dựng quy định pháp luật theo kĩ thuật liệt kê như vậy không thể theo kịp được thời đại, không liệt kê được toàn bộ hành vi phạm tội; từ đó có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm, định tội danh sai, không đúng với ý chí của nhà làm luật.
Thứ hai, chưa thực sự có sự tách bạch rõ ràng giữa quy định về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS năm 2015) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm 2015). Điều 290 BLHS năm 2015 chỉ quy định những hành vi nếu không thuộc Điều 173 và 174 BLHS năm 2015 thì phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Về bản chất, đây cũng là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà đã được quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015, chỉ là hành vi này diễn ra theo cách thức và núp dưới hình thức đặc biệt . Như vậy, trong nhiều trường hợp, khi hành vi của người phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của cả hai tội, người áp dụng pháp luật khó có thể xác định được chính xác tội danh.
Thứ ba, chưa có sự tương thích giữa quy định BLHS năm 2015 với Luật ANM năm 2018.
Một là, theo Luật ANM năm 2018, người phạm tội sử dụng các phương tiện, thiết bị điện tử, không gian mạng làm công cụ để thực hiện tất cả tội phạm quy định tại BLHS năm 2015 thì bị coi là tội phạm mạng. Tuy nhiên, Điều 290 BLHS năm 2015 đã quy định “Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử”, quy định này vô hình trung làm hẹp đi khái niệm “Tội phạm mạng” được quy định trong Luật ANM năm 2018. Trước tiên “mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử” có nghĩa như sau:
Mạng máy tính là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau .
Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông .
Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự .
Hai khái niệm “mạng máy tính” và “mạng viễn thông” không thể bao trùm được hết không gian mạng được. Như đã phân tích, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu. Nếu sử dụng quy định hiện nay tại Điều 290 năm 2015 thì việc sử dụng mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản sẽ được quy vào tội nào?
Hơn nữa, công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số . Khái niệm trên rõ ràng không nhắm tới không gian mạng, mà là tiền đề của không gian mạng bao gồm phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại. Điều 290 BLHS năm 2015 hiện nay đã không thể bao trùm được những vấn đề rộng lớn như vậy. Điều đó khiến cho khi có hành vi phạm tội mới xuất hiện trên các môi trường này thì người có thẩm quyền sẽ không biết để định tội danh như thế nào.
Hai là, điểm d, khoán 1 Điều 290 BLHS năm 2015 quy định việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ bị xử lý về tội này khi xảy ra trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng. Quy định này vô hình chung đã bó hẹp lại phạm vi xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để đối phó với tình trạng lừa đảo trên không gian mạng, cần có các biện pháp pháp lý và hình sự cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý: Cần rà soát và hoàn thiện khẩn trương các hành lang pháp lý liên quan đến lĩnh vực này, bao gồm cả việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để phù hợp với sự phát triển của công nghệ.
Tăng cường công tác phòng ngừa: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác của người dân đối với hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Phối hợp giữa các cơ quan: Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị với các lực lượng chức năng liên quan, đặc biệt là giữa ngân hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ internet với Cơ quan điều tra các cấp. Xử lý nghiêm các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng theo quy định của pháp luật.

III. KẾT LUẬN
Theo nhóm tác giả, thực tiễn hành vi lừa đảo trên không gian mạng đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác bảo vệ thông tin cá nhân và tài sản số. Để đối phó với tình trạng này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường công tác tuyên truyền, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là những biện pháp quan trọng để ngăn chặn và phòng ngừa lừa đảo trên không gian mạng.
---------------------------------------------
Bài viết: Dương Thị Loan, Nguyễn Hoài Phương Linh - NBLG Kỳ 19 (T9/2024)
Hình ảnh: Thảo Ngân
---------------------------------------------
📌THÔNG TIN VỀ CLB LUẬT GIA TRẺ
Fanpage: CLB Luật Gia Trẻ
Email: [email protected]
“Luật Gia Trẻ - Lấy sức trẻ - Bẻ gian lao"

Address

Số 02, Nguyễn Tất Thành, Phường 13, Quận 04
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CLB LUẬT GIA TRẺ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to CLB LUẬT GIA TRẺ:

Shortcuts

Share