18/09/2026
⭐[BÀI VIẾT SỐ 283]⭐
❗BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI TÀI SẢN❗
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tranh chấp tài sản vốn là một trong những vấn đề rất phổ biến trong xã hội và cũng là vấn đề nhức nhối đối với luật pháp ở Việt Nam. Trong thực tiễn, ta thấy được quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản của mình rất dễ bị xâm phạm bởi những người khác. Chính vì thế, pháp luật nước ta đã có những quy định về quyền kiện đòi tài sản. Quyền kiện đòi tài sản hay còn gọi là quyền đòi lại tài sản là một trong những quyền mà nhà nước trao cho chủ sở hữu với mục đích bảo vệ được quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu, giúp chủ sở hữu có thể đòi lại tài sản của mình từ người chiếm hữu nó không có căn cứ pháp luật thông qua Tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bài viết dưới đây sẽ đề cập tới những vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản.
2. NỘI DUNG BÀI VIẾT
2.1. Khái niệm, phân loại và điều kiện áp dụng
2.1.1. Khái niệm của “kiện đòi tài sản”:
Theo từ điển Tiếng Việt, “kiện” có nghĩa là đưa ra tòa án người mà mình cho là đã làm việc gì phạm pháp đối với mình ; còn “đòi” có nhiều nghĩa nhưng một trong những nghĩa chính quan trọng là yêu cầu người khác phải trả mình một thứ gì đó . Bên cạnh đó, định nghĩa về “tài sản” được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ tại Điều 105. Như vậy, kiện đòi tài sản được hiểu như là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án xét xử buộc người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản của mình phải trả lại tài sản đó cho mình.
Để tránh việc hiểu nhầm hoặc có sai sót về mặt lý thuyết, Bộ luật Dân sự đã quy định các điều khoản về quyền đòi lại tài sản như sau:
“Điều 166. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó”.
Hay tại khoản 2 Điều 164 cũng có đề cập: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
2.1.2. Phân loại
Khi xem xét trong việc phân loại quyền đòi lại tài sản, căn cứ theo Điều 167 và 168 BLDS 2015, ta có thể thấy các nhà làm luật rất chú trọng việc có phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình hay không và việc tài sản đó là bất động sản hay động sản.
Đầu tiên, ta thấy rằng tài sản là bất động sản luôn cần phải được đăng ký quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, căn cứ theo khoản 1 Điều 106 BLDS 2015 còn động sản chỉ có trong những trường hợp pháp luật quy định khác thì mới cần phải đăng ký, theo khoản 2 Điều 106 BLDS 2015. Vì vậy mà tại Điều 168 và 167, quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền hay bất động sản được đặt kế bên nhau còn động sản không phải đăng ký đặt riêng nhằm phân biệt rành mạch hai nhóm tài sản cần phải đăng ký và không phải đăng ký từ người chiếm hữu ngay tình. Điều này cho thấy mức độ quan trọng về mặt pháp lý của hai đối tượng này khác nhau, việc tài sản phải được đăng ký sẽ khẳng định hơn về sự hiện hữu của quyền, tạo ra chứng cứ chính thức và tuyệt đối về tạo lập quyền.
Trước khi phân loại kĩ hơn, ta phải hiểu rõ làm thế nào để một người có thể xác lập quyền sở hữu ngay tình về tài sản không có căn cứ pháp luật. Căn cứ tại Điều 236 BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, người chiếm hữu ngay tình có thể hiểu là người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục và công khai trong một thời hạn nhất định.
Mặt khác, tại Điều 168 có đề cập việc trường hợp tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 thì không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình: “2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu. Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”. Như vậy, người chiếm hữu thứ ba ngay tình có thể được xem là người không biết cụ thể sự việc chiếm hữu bất hợp pháp về tài sản trước đó, họ đơn giản là người có nhu cầu mua lại tài sản đó và đã vô tình giao dịch dân sự với người chiếm hữu không có căn cứ, vì thế pháp luật hiện hành vẫn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp đầy đủ cho người thứ ba ngay tình.
2.2. Thời hiệu khởi kiện
Yêu cầu đòi lại tài sản có thể xem là yêu cầu thuộc về bảo vệ quyền sở hữu, vì vậy mà căn cứ theo khoản 2 Điều 155 BLDS 2015 thì quyền đòi lại tài sản không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Qua đó, ta thấy rằng chủ sở hữu tài sản hợp pháp có thể khởi kiện bất cứ lúc nào mà không bị giới hạn bởi thời hiệu, như vậy sẽ đảm bảo cho quyền, lợi ích đầy đủ và hợp pháp cho họ.
2.3. Hậu quả pháp lý khi kiện đòi tài sản
Nhìn chung, việc kiện đòi lại tài sản sẽ dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý tùy thuộc vào kết quả của vụ kiện và quyết định của thẩm phán. Trong trường hợp nguyên đơn là bên thắng kiện thì bị đơn có nghĩa vụ phải trả lại tài sản mà bị đơn đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật cho nguyên đơn. Bên cạnh đó, nguyên đơn còn có quyền yêu cầu bị đơn đền bù thiệt hại mà nguyên đơn phải chịu trong quá trình bị chiếm giữ tài sản hoặc bồi thường thiệt hại khi mà trong quá trình chiếm giữ, bị đơn đã làm hư hại đến tài sản tranh chấp theo quy định Điều 170 BLDS 2015: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại”. Còn trong trường hợp nguyên đơn là bên thua kiện, thông thường người khởi kiện sẽ không chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng, có thể người khởi kiện sẽ phải chịu các chi phí phát sinh, trong một số trường hợp, nếu người khởi kiện khởi kiện vô căn cứ, họ có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
2.4. Điểm mới so với Bộ luật dân sự 2005
Trong BLDS 2005, quyền đòi lại được quy định tại Điều 256: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.”
Một cách tổng quan, ta có thể thấy quy định tại Điều 166 BLDS 2015 có phần ngắn gọn so với quy định tại Điều 256 BLDS 2005. Điều 166 đã dùng cụm từ “đòi lại” thay vì “yêu cầu trả lại” như ở Điều 256, sự thay đổi này hoàn toàn hợp lý vì rõ ràng “yêu cầu trả lại” thì có thể bị từ chối nhưng đã “đòi lại” thì bên bị đòi có nghĩa vụ trả lại. Bên cạnh đó, Điều 256 còn có quy định: “Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này”, rõ ràng việc này là không cần thiết và dư thừa, nên BLDS 2015 đã không còn quy định này. Có thể nói, yếu tố ngắn gọn và dễ hiểu rất quan trọng trong việc lập pháp để người dân có thể dễ dàng tiếp cận với các quy định pháp luật hơn, vì thế việc chỉnh sửa lại câu chữ, lược bỏ những quy định dư thừa như trên là rất cần thiết.
Mặt khác, Điều 256 BLDS 2005 chỉ đề cập tới chủ thể là người sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp trong khi ở Điều 166 BLDS 2015 còn đề cập tới chủ thể có quyền khác đối với tài sản. Đây như một sự mở rộng về quyền đối với chủ thể có quyền khác đối với tài sản khi hiện nay, chủ thể này cũng có quyền kiện đòi tài sản và chủ sở hữu lại không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể này. Qua đó ta thấy được pháp luật đã có sự ưu ái hơn đối với lại chủ thể có quyền khác với tài sản, thậm chí còn ưu ái hơn cả người sở hữu khi mà cả người sở hữu cũng không thể đòi lại tài sản từ người có quyền khác đối với tài sản, cho thấy được quyền lợi của họ đã được đảm bảo hơn.
2.5. Phương thức kiện đòi tài sản ở nước ngoài
Pháp luật của các nước phát triển khác trên thế giới cũng có những quy định về kiện đòi tài sản.
Ví dụ Bộ luật Dân sự Đức (Bürgerliches Gesetzbuch), tại Điều 985 có quy định: “The owner may require the possessor to surrender the thing”, tạm dịch: “Chủ sở hữu có thể yêu cầu người chiếm hữu trả lại tài sản”.
Sau Điều 985, Bộ luật Dân sự Đức tiếp tục nêu các quy định về các trường hợp liên quan đến đòi tài sản như Điều 986:
“(1) Người chiếm hữu có thể từ chối giao nộp vật nếu người chiếm hữu hoặc người chiếm hữu gián tiếp mà người chiếm hữu có quyền chiếm hữu có quyền chiếm hữu liên quan đến chủ sở hữu. Nếu người chiếm hữu gián tiếp không được ủy quyền liên quan đến chủ sở hữu để cung cấp quyền chiếm hữu cho người chiếm hữu, thì chủ sở hữu có thể yêu cầu người chiếm hữu giao nộp vật cho người chiếm hữu gián tiếp hoặc, nếu người chiếm hữu gián tiếp không thể hoặc không muốn chiếm hữu lại, thì giao nộp cho chính chủ sở hữu.
(2) Người chiếm hữu vật đã được chuyển nhượng theo điều 931 bằng cách chuyển nhượng quyền yêu cầu giao nộp có thể đưa ra phản đối đối với chủ sở hữu mới mà họ có quyền sử dụng để phản đối quyền yêu cầu được chuyển nhượng”.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Đức còn quy định về đòi lại hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 987, 988), quy định về bồi thường thiệt hại trong quá trình chiếm hữu tài sản (Điều 989).
3. KẾT LUẬN
Nhìn chung, kiện đòi tài sản là một trong những phương thức quan trọng để giúp người dân có thể bảo vệ quyền sở hữu đối với lại tài sản của mình. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi các vụ việc liên quan đến lừa đảo để chiếm đoạt tài sản đang diễn ra rất phổ biến thì việc kiện tụng là cách duy nhất để người chịu thiệt hại có thể đòi lại tài sản của mình. Tuy nhiên, do chính sự rườm rà và phức tạp của quy trình tố tụng đã tạo nên tâm lý e ngại đối với người dân nên họ ít khi chọn tòa án để giải quyết tranh chấp. Vì vậy, pháp luật hiện hành cần phải tối ưu hóa lại hệ thống tư pháp để người dân có thể dễ dàng tiếp cận với việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình hơn.
---------------------------------------------
Bài viết: Lê Trương Tuấn Khanh, Lê Ngọc Phương Thảo - NBLG Kỳ 19 (T9/2024)
Hình ảnh: Thảo Ngân
---------------------------------------------
📌THÔNG TIN VỀ CLB LUẬT GIA TRẺ
Fanpage: CLB Luật Gia Trẻ
Email: [email protected]
“Luật Gia Trẻ - Lấy sức trẻ - Bẻ gian lao"