Thiếu Lâm Hồng gia quyền chủ về cương ngạnh, cận chiến và bám tấn. Hệ thống bài quyền và binh khí rất phong phú, gồm: La Hán Xuất Động, Sư Tử Cổn Cầu, Song Long Xuất Hải, Yến Tử Quy Sào (én bay về tổ), Tiểu Hồng Quyền, Đại Hồng Quyền, Hồng Quyền, Nam Hồng Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Hổ Hạc Song Hình Quyền, Cung Tự Phục Hổ Quyền, Dạ Hổ Xuất Lâm, Hắc Hổ Quyền, Hồng Gia Phá Sơn Quyền, Ngũ Hình Quyền (Long-Hổ-Báo-Xà-Hạc), Thập Hình Quyền (Long-Xà-Hổ-Báo-Hạc-Tượng-Hầu-Sư-Mã-Bưu), Kim Hầu Quyền, Ngũ Lang Bát Quái Côn, Bát Quái Côn Đơn Đầu, Lưỡng Đầu Côn, Đơn Đao, Song Đao, Mễ (Ghế Ngựa), Đơn và Song Ngư, Đinh Ba, Côn Tam Khúc, Tiêu, Quạt (Thiết Phiến),...
Hồng quyền xuất phát từ Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn và Lý Tẩu thì luyện bài Thái tổ Trường quyền, Đại Hồng quyền, Tiểu Hồng quyền,... là những bộ quyền củaThiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam. Lý Tẩu vốn là cao thủ môn Hồng Động Thông Bối quyền mà dân gian vùng Hà Bắc (Trung Quốc) thường gọi tắt là Hồng quyền gây ra sự ngộ nhận lầm lẫn sau này với Hồng quyền của Hồng Hi Quan gọi tắt từ chữ Hồng gia quyền.
Hồng quyền của Hồng Hi Quan và Phương Thế Ngọc xuất phát từ Nam Thiếu LâmPhúc Kiến nên luyện bài xưa nhất của Nam quyền là Cung Tự Phục Hổ quyền, Hổ Hạc Song Hình quyền, Thiết Tuyến quyền, Ngũ Hình quyền (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc), Thập Hình quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc, Sư (tử), Mã, Hầu, Bưu [cọp con]), Hắc Hổ quyền, Phá Sơn quyền,...
VÕ QUÁN HỒNG QUYỀN
Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Võ phái Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền. https://www.facebook.com/hunggar.edu/
25/02/2017
Tự luyện bằng hình ảnh, bảng vẽ theo mẫu thị phạm của danh sư Lam Sai Wing bài Cung tự phục hổ quyền.
25/02/2017
Phàm những tuyệt chiêu có thể gọi là “tuyệt”, cũng đều có những cách kềm chế, bản thân nó cũng có tính hạn chế rất lớn. Thứ nhất là không thể luyện thành trong một hai năm, thứ hai là bị ước thúc bởi sức mạnh của lời thề (sức mạnh của lời thề là một loại sức mạnh tinh thần, là một sự thể hiện cao độ của năng lượng, không phải là mê tín, cũng không phải là thứ hư ảo nào đó, tất cả những thứ thuộc về năng lượng tinh thần đều có thể có được bằng phương pháp luyện tập tương ứng), điều thứ ba là không cách nào bạn có thể an nhiên sử dụng khi hoàn cảnh không cho phép. Bất cứ tuyệt chiêu nào, cũng chỉ có thể thực hiện trong một điều kiện nhất định nào đó.
Đến đây bạn đã biết được trên đời này không có một tuyệt chiêu nào có thể đem lại chiến thắng tuyệt đối, bát cứ một chiêu thức nào cũng diều có chỗ sở trường và sở đoản của nó. Chỉ có tập luyện cho thật thuần thục kỹ thuật và trui rèn trong giao đấu thực tế, trải qua khảo nghiệm nhiều trường hợp, từ thuần thục mà sinh ra khéo léo, từ khéo léo mà đạt đến tinh hoa, khi đã đạt đến cảnh giới tinh hoa (tức chiêu thức đã được tiêu hóa và trở thành một với bản thân) thì chiêu nào cũng đều là “tuyệt”.
Tập võ cũng như đi xe đạp, lúc mới tập đi xe đạp thì dù có đi đường bằng phẳng cũng sẽ bị té, đến khi thuần thục rồi thì sự điều khiển sẽ trở thành tự động, tâm vừa ghi nhận thông tin từ hoàn cảnh thì mọi hoạt động của cơ thể đều ứng theo, vì thế không còn bị ngã nữa. Tập võ cũng vậy, không thường giao đấu thì người giỏi võ cũng sẽ trở thành dở, vì nó cũng không như tập đi xe đạp vậy, lúc ra thực tế thì không hành động theo quyết định chủ quan được, mà về cơ bản là phải dựa vào kinh nghiệm thực tế đã tích lũy trong quá khứ.
Trong các tình thế biến hóa phức tạp, bạn cần phải tùy cơ ứng biến. Một người đấu võ đã luyện đến cảnh giới tinh hoa thì mới có thể phát huy những chiêu thức mà mình tập luyện lúc bình thường thành những “tuyệt chiêu”. Nếu không, dù là một chiêu thức cao tuyệt đến đâu đi nữa, trong phản ứng của bạn nó cũng sẽ để lộ rất nhiều sơ hở (bạn cần chú ý thêm một điều là, thường thường, những chiêu thức cao tuyệt lại càng có nhiều sơ hở). Cho nên đối với tuyệt chiêu, một là bạn đừng quá sùng bái, hai là bạn phải khổ luyện. Luyện tập nhiều, giao đấu nhiều, thì bạn có thể biến cái bình thường thành kì tích.
Trong giao đấu thực tế, bạn cần xác lập cho mình một lối đánh thói quen có đặc điểm phù hợp với mình, rồi lại luyện một vài chiêu lạ. Theo nguyên tắc “Binh bất yếm trá, kì chính tương sinh” (việc binh làm sao không có chuyện dối trá, phải lấy lối đánh bình thường và lối đánh đột ngột tương hổ cho nhau), luyện cho tới cảnh giới tinh hoa để hình thành những “tuyệt chiêu” của bản thân. Hư Hư thực thực, khiến cho đối phương không nhìn ra được chiêu số của bạn, bị bạn điều động và chi phối trong giao đấu thực tế.
Khi làm được vậy thì bạn đã có tuyệt chiêu. Tuyệt chiêu vố là như thế! Đương nhiên kẻ mạnh còn có kẻ mạnh hơn, sau mỗi trận bạn phải tổng kết rút ra bài học từ phai phía, bao gồm cả việc lợi dụng kinh nghiệm của đối phương để không ngừng làm phong phú kinh nghiệm của mình, nâng cao trình độ giao đấu thực tế của mình (bạn cần phải có vài lối đánh như thế), thì mới có thể duy trì trình độ “tuyệt”.
Đó gọi là tuyệt chiêu mà không tuyệt, không tuyệt lại là tuyệt, tới lui phải trái, tránh né lạng lách, mọi động tác đều dung hội quán thông, tâm thái tự nhiên, không chút sơ sót, không chút miễn cưỡng, một chổ trên cơ thể mà động thì không chổ nào trên cơ thể là không động, một chổ phát kình thì không chổ nào là không phát kình, đạt tới cảnh giới tùy tâm ứng thủ một cách tự do thì mới là “tuyệt”.
Khi thảo luận về tuyệt chiêu, bạn đừng quyên hai câu ngạn ngữ võ thuật: “lưỡng cường tương ngộ dũng giả thắng” (hai kẻ mạnh gặp nhau, ai can đảm hơn sẽ thắng), “nhất đảm, nhị lực,tam kỹ xảo” (nhất là can đảm, nhì là sức mạnh, ba là khéo léo). Sức mạnh và sự khéo léo đương nhiên là quan trọng, nhưng quạn trong hơn vẫn là lòng dũng cảm. Lòng dũng cảo làm bật ra sức mạnh của tâm lý. Đây là nội dung quan trọng trong luận thuyết tập luyện của môn phái Thiếu Lâm Kim Cang Thiền.
25/02/2017
“Thiết tuyến quyền” là một trong tam bảo của Hồng Gia Quyền. Bài quyền này nguyên gốc do Thiết Kiều Tam sáng tác, sau đó được đệ tử Lâm Phúc truyền lại cho Hoàng Phi Hồng. Đệ tử của Hoàng Phi Hồng là Lâm Thế Vinh sau đó đã hiệu chỉnh lại và truyền bá rộng ra công chúng.”Thiết tuyến quyền” chủ yếu luyện kình, cốt, có công dụng dưỡng sinh rất tốt.
Thiết Tuyến Quyền là một quyền thuật của Thiết Kiều Tam(1813-1886) sáng tạo ra là một quyền sư nổi tiếng trong giới võ thuật Quảng đông thời đó, ông là đệ tử tâm đắc của Hoà thượng Giác Nhân ở Thiếu Lâm, Thiết Kiều Tam có rất nhiều đệ tử nổi tiếng khắp Trung quốc, có đệ tử là Lâm phúc Thành và Lâm phúc Thành truyền Thiết tuyến quyền cho Hoàng Phi Hồng và Hoàng Phi Hồng truyền lại cho Lâm thế Vinh và từ đó cho đến ngày nay có rất nhiều người luyện tập Thiết tuyến quyền Nhưng môn tập thiết tuyền không phải là để luyện tập, bởi do cách tập luyện này phải đeo vòng sắt hoặc đồng, mỗi 1 vòng thiết tuyến nặng tối thiểu 350 gram, mỗi tay đeo ít nhất 2 vòng, tối đa 5 vòng(tuỳ thể trạng cho từng người thì vòng nặng lên) đòi hỏi người tập luyện phải có một công phu thể lực tối thiểu, nếu chỉ biết theo qua sách vở hay film ảnh mà tập theo thì nguy hại đến cơ thể, do vậy nếu theo đuổi cách tập này phải có người hiểu biết tường tận các yếu lĩnh kỹ thuật thì mới tập được, do vòng thiết tuyến là kim loại nên khi vận động kình lực sẽ phát ra âm thanh và ma sát trên hai cánh tay khi vận động quyền pháp sẽ tạo ra sung điện từ chạy trên cánh tay, nếu người tập luyện không biết cách tập thi càng tập luyện thì cảm thấy mỏi mệt và các gân cơ mỏi nhừ, đó là hiện tượng do các vòng tác động lên cơ nhục mà cơ nhục không hấp thu được nên tạo ra phản ứng đau nhức mệt mỏi và ảnh hưởng đến hệ thần kinh thực vật, do vậy nên người tập luyện thiết tuyến phải có sự hướng dẫn của huấn luyện viên kinh nghiệm, không phai ai muốn tập cũng được mặc dù bài tập này la bài tập luyện về khí công, nội công và cũng là bài tập chữa bệnh Do vậy ta nói đó là bài tập chữa bệnh thì cách chữa như thế nào và cách tập ra sao là do người huấn luyện viên có kinh nghiệm về khí công, nội công hướng dẫn tuần tự phương pháp cho từng người từng thể tạng và cho từng giới tính v.v...
Hồng Gia quyền (Chữ Hán:洪家拳) còn được gọi là Thiếu Lâm Hồng gia quyền (Shaolin Hung Gar Kuen), hay Hồng quyền (Hung Kuen), Thiếu Lâm Hồng Quyền (Shaolin Hung Kuen) là một hệ pháiVõ Thiếu Lâm trong hệ thống võ thuật cổ truyền của Trung Quốc ở miền nam có gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến chứ không phải của Thiếu LâmTung Sơn Hà Nam.
Các danh quyền và danh phái võ thuật trong dân gian ở Trung Hoa thường được lưu truyền rằng đó là những bộ môn quyền thuật tiêu biểu, có tính đặc trưng cho tất cả các môn quyền và võ phái Trung Hoa cổ truyền khác, và nói chung là đều có nguồn gốc từ Thiếu Lâm. Do vậy ở Trung Hoa từ xưa đến nay thường có câu "thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm" nghĩa là "tất cả các bộ môn võ thuật ở Trung Hoa đều có nguồn gốc từ Thiếu Lâm". Thiếu Lâm Hồng gia thuộc Thiếu Lâm Nam Quyềntrong hệ phái Võ Thiếu Lâm
Khi nói đến chùa Thiếu Lâm tại Trung Quốc thường có khái niệm chùa Nam chùa Bắc, chùa Nam chính là Nam Thiếu Lâm Tự tại Phúc Kiến (có 3 chùa Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến: ở Toàn Châu, Phủ Điền và Phúc Thanh). Chùa Bắc chính là Hà Nam Tung Sơn Thiếu Lâm tự và Hà Bắc Bàn Sơn Tử Cái đỉnh Thiếu Lâm tự.
Ngoài ra còn có thể kể đến Hồng Quyền Quảng Tây của cụ Tô Tử Quang đang lưu truyền tại Quảng Tây (Trung Quốc) và Hà Nội,Hạ Tứ Hổ Hồng Gia Quyền (下四虎洪家拳) và Hồng Quyền Ngũ Hình (洪拳五形) giờ chỉ còn lưu truyền bàng bạc trong dân gian và trên phim ảnh có dấu tích từ Miêu Hiển cũng nổi danh khắp vùng Hoa Nam, Bắc Hồng Quyền (北洪拳) từ đầu vương triều Minh rồi đến Hồng Quyền Lĩnh Nam (洪拳嶺南), Hồng Gia Quyền La Phù Sơn (洪家拳 羅浮山), Hồng Quyền Thiên Địa Hội của Trần Cận Nam là thủ lĩnh Thiên Địa Hội nổi danh khắp vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Hồng Kông và Đài Loan, Hồng Quyền (紅拳) nguyên thủy của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn và Lý Tẩu (học trò của Bạch Ngọc Phong) từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự,Hồng Quyền Hổ Hạc Biến Hình (虎鶴雙形),...
Người sáng lập môn phái là Hồng Hy Quan (Chữ Hán: 洪熙官, phiên âm: Hung Hei-Gun)- một đệ tử tục gia của Chí Thiện (至善 - Jee Sin) thiền sư trụ trì tại chùa Nam Thiếu Lâm ở tỉnh Phúc Kiếnvào đầu thời kỳ vua Càn Long nhà Thanh (không phải là chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam). Sau khi chùa Thiếu Lâm Nam Phái Phúc Kiến theo truyền thuyết bị quan quân nhà Thanh đốt phá, Hồng Hy Quan đã rời chùa Nam Thiếu Lâm trở về thành phố Phật Sơn quê hương ông thuộc tỉnh Quảng Đông và mở võ quán truyền bá Thiếu Lâm quyền. Nhưng để giấu tung tích ông đã gọi môn võ này là Hồng Quyền (Hung Kuen) hay Hồng Gia Quyền (Hung Gar Kuen).
Lục A Thái (Luk A Choy) là truyền nhân của Chí Thiện Thiền Sư và sau này cũng được Chí Thiện Thiền Sư gửi đến Hồng Hy Quan để thụ huấn thêm Thiếu Lâm quyền.
Lục A Thái truyền lại cho Hoàng Thái (Wong Tai), Hoàng Thái truyền lại cho con trai là Hoàng Kỳ Anh (Wong Ky Ying), Hoàng Kỳ Anh truyền lại cho con trai là Hoàng Phi Hồng (Wong Fei Hung - 1847-1924), Hoàng Phi Hồngtruyền lại cho Lâm Thế Vinh (Lam Sai Wing - 1850-1943), Lâm Thế Vinh truyền lại cho con trai là Lâm Tổ (Lam Cho - 1910-?) và cháu nội (con của Lâm Tổ) là Lâm Chấn Huy (Lam Chun Fai) sinh năm 1940, Lâm Tổ hiện nay đang sống ở Hồng Kông được 97 tuổi (2007), tất cả các môn đồ Hồng Quyền Hồng Hy Quan ở Quảng Đông và Hoa Kỳ hiện nay đều là học trò của Lâm Thế Vinh và Lâm Tổ.
Lâm Chấn Huy (1940 - ?) hiện nay vẫn còn sống tại Hongkong và là chủ tịch hiệp hội Hồng Gia Quyền Quốc Tế, năm 2004 Lâm Chấn Huy đã có chuyến du lịch sang Nga và các nước trong khối liên bang Nga (SNG) để truyền bá Hồng Gia Quyền.Ông Lâm Chấn Huy đã từng sang Việt Nam và ghé thăm võ sư Nguyễn Quang Dũng chủ nhiệm Võ đường Thiếu Lâm Hồng Gia 220 Hàng Bông thuộc dòng Hồng Gia Quyền Quảng Tây của cụ Tô Tử Quang tại Hà Nội và có chụp hình lưu niệm
Lâm Thế Vinh đã viết 3 cuốn sách nổi tiếng trình bày bộ quyền thuật của Nam Thiếu Lâm là Cung Tự Phục Hổ quyền, Hổ Hạc Song Hình quyền, Thiết Tuyến quyền được xuất bản tại Hồng Kông vào năm 1920 và được dịch xuất bản ra tiếng Việt vào năm 1973 tại Sài Gòn trước năm 1975 (xem mục Tham Khảo phía dưới bài này). Họ Lâm còn truyền bá Hồng Gia quyền ra khắp tỉnh Quảng Đông và Hồng Kông, Bắc Mỹ, Anh quốc,...
Thật ra Hồng Gia quyền cũng như Nam Thiếu Lâm có rất nhiều bộ quyền khác 3 bộ quyền trên nhưng ít người biết đến. Do ảnh hưởng của họ Lâm mà Hồng Gia quyền được biết đến nhiều hơn ở bên ngoài Trung Hoa đại lục.
Thiếu Lâm Hồng gia quyền chủ về cương ngạnh, cận chiến và bám tấn. Hệ thống bài quyền và binh khí rất phong phú, gồm: La Hán Xuất Động, Sư Tử Cổn Cầu, Song Long Xuất Hải, Yến Tử Quy Sào (én bay về tổ), Tiểu Hồng Quyền, Đại Hồng Quyền, Hồng Quyền, Nam Hồng Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Hổ Hạc Song Hình Quyền, Cung Tự Phục Hổ Quyền, Dạ Hổ Xuất Lâm, Hắc Hổ Quyền, Hồng Gia Phá Sơn Quyền, Ngũ Hình Quyền (Long-Hổ-Báo-Xà-Hạc), Thập Hình Quyền (Long-Xà-Hổ-Báo-Hạc-Tượng-Hầu-Sư-Mã-Bưu), Kim Hầu Quyền, Ngũ Lang Bát Quái Côn, Bát Quái Côn Đơn Đầu, Lưỡng Đầu Côn, Đơn Đao, Song Đao, Mễ (Ghế Ngựa), Đơn và Song Ngư, Đinh Ba, Côn Tam Khúc, Tiêu, Quạt (Thiết Phiến),...
Hồng quyền xuất phát từ Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn và Lý Tẩu thì luyện bài Thái tổ Trường quyền, Đại Hồng quyền, Tiểu Hồng quyền,... là những bộ quyền củaThiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam. Lý Tẩu vốn là cao thủ môn Hồng Động Thông Bối quyền mà dân gian vùng Hà Bắc (Trung Quốc) thường gọi tắt là Hồng quyền gây ra sự ngộ nhận lầm lẫn sau này với Hồng quyền của Hồng Hi Quan gọi tắt từ chữ Hồng gia quyền.
Hồng quyền của Hồng Hi Quan và Phương Thế Ngọc xuất phát từ Nam Thiếu LâmPhúc Kiến nên luyện bài xưa nhất của Nam quyền là Cung Tự Phục Hổ quyền, Hổ Hạc Song Hình quyền, Thiết Tuyến quyền, Ngũ Hình quyền (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc), Thập Hình quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc, Sư (tử), Mã, Hầu, Bưu [cọp con]), Hắc Hổ quyền, Phá Sơn quyền,...
Điểm nổi bật giống nhau giữa các hệ phái Thiếu Lâm Hồng Quyền là hệ thống Ngũ Hình Quyền dựa trên cơ sở các động tác của Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc tượng trưng cho Ngũ Hành (Long (Thổ) luyện Thần, Xà (Thủy) luyện Khí, Hổ (Kim) luyện Xương Cốt, Báo (Mộc) luyện Gân, Hạc (Hỏa) luyện Tinh). Cũng có một số hệ phái Hồng quyền không có hệ thống Ngũ Hình Quyền, những hệ phái Hồng quyền này rất ít và không phải là Hồng quyền tiêu biểu.
Ngũ Hình quyền thật ra có nguồn gốc ban đầu từ Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam vào thời nhà Nguyên do Thu Nguyệt thiền sư, là pháp danh của Bạch Ngọc Phong, sáng tác trên cơ sở phát triển của 173 chiêu thức của La Hán Thập Bát thủ (18 thế tay của phật A La Hán).
Sau này bộ Ngũ Hình quyền này đã truyền vào chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến, do vậy các phái võ miền Nam Trung Hoa có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến đều có Ngũ Hình quyền, ví dụ như Vịnh Xuân quyền chẳng hạn cũng có bài Ngũ Hình quyền riêng không giống Ngũ Hình quyền của Hồng Gia quyền.
Bài Ngũ Hình quyền của Hồng Gia quyền sau này được phát triển lên thành Thập Hình quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc, Tượng, Mã, Sư, Hầu, Bưu), có nhiều lưu phái Hồng Gia quyền của Hồng Hy Quan đã không còn dạy bài Ngũ Hình nữa mà chỉ còn dạy bài Thập Hình.
Hiện nay nhiều lưu phái Hồng Gia quyền lấy hẳn bài Thập Hình quyền làm đặc trưng quyền pháp vì trong đó đã có bài Ngũ Hình rồi.
Bạch Mi quyền của Bạch Mi đạo nhân sau này cũng được sáng tác trên cơ sở Hổ hình quyền và Báo hình quyền của Ngũ Hình quyền của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.
Tuy rằng các hệ Hồng Quyền có chung đặc trưng là Ngũ Hình Quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc) nhưng để phân biệt Hồng Quyền của Hồng Hi Quan đó là kĩ thuật Kiều Thủ chia thủ pháp (đòn tay) làm 3 tiết đoạn: cổ tay, từ cổ tay đến cùi chỏ, từ cùi chỏ đến vai, và lối đánh phổ biến là kĩ thuật Trường Kiều (cánh tay thẳng dài và nắm thành quyền) đong đưa hai bên vai và hông như đòn gánh và đứng tấn Đại Mã tức thế tấn rộng và thấp.
Chí Thiện Thiền Sư và Hồng Hi Quan là người đã phát kiến và sáng tạo ra lối đánh Trường Kiều độc đáo và Kĩ Thuật Trường Kiều sau này đã trở nên rất thịnh hành trong các môn quyền thuật của Thiếu Lâm Trung Ngoại Chu Gia, Thiếu Lâm Thái Gia và Thái Lý Phật, Thiếu Lâm Phật Gia Quyền của các vị Lạt Ma ở Tây Tạng, đặc biệt là trong bài Nam Quyền của bộ môn Wushu hiện đại của Trung Quốc hiện nay.
Kĩ Thuật Trường Kiều (người Quảng Đông còn gọi là Phao Quyền) đứng tấn Đại Mã (bộ tấn rộng) là kĩ thuật rất đặc trưng trong bài Cung Tự Phục Hổ Quyền, Hổ Hạc Song Hình Quyền, Ngũ Hình Quyền (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc), Thập Hình Quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc, Tượng, Sư, Hầu, Mã, Bưu) Bưu là con cọp (hổ) con, Hắc Hổ Quyền của Thiếu Lâm Hồng Quyền và Tiểu Phục Hổ Quyền, Đại Phục Hổ Quyền của Thiếu Lâm Trung Ngoại Chu Gia,...
Bất cứ ai đã học Hồng Quyền Hồng Hi Quan đều biết kĩ thuật Trường Kiều Đại Mã là sở trường của lưu phái này chuyên chủ cương trong khi các hệ Hồng Quyền khác thường đánh đoản kiều (đòn tay ngắn) và chủ về cương nhu nhập nội (cận chiến).
Chiến thuật Tầm kiều - Phá mã là một chiến thuật phổ biến trong tất cả các hệ phái Nam Quyền Thiếu Lâm từ Hồng Gia quyền cho đến Bạch Mi quyền, Vịnh Xuân quyền, Phật Gia quyền, Trung Ngoại Chu Gia, Thái Gia quyền. Triệt Quyền Đạo của Lý Tiểu Long cũng phát triển trên nguyên lí này thành 2 nguyên lí căn bản của Triệt Quyền Đạo:
Triệt Đầu Quyền: ngăn chặn đòn của đối phương ngay từ trong gốc trước khi phóng ra đến mục tiêu trên người ta (nên mới gọi là Triệt Đầu Quyền, Triệt có nghĩa là ngăn chặn khi quyền đối phương mới khởi phát).
Tiếp Vĩ Quyền: đối phương vừa dứt đòn hết tầm ngay lập tức ta xuất thủ tiếp quyền đối phương (nên mới gọi là Tiếp Vĩ, Vĩ là cái đuôi, ý nghĩa là như vậy).
Chữ Kiều có nghĩa là Cái Cầu, ở đây chỉ khoảng cách đo lường giữa ta và đối phương.
Tuy nhiên có một đặc điểm trong kĩ thuật quyền pháp của Trung Hoa rằng khái niệm Kiều có nghĩa là Điếu Kiềutức là cái cầu ở cửa thành ngày xưa hạ xuống cho người ra vào, nên khi muốn tấn công đối phương nghĩa là trước khi Công Thành ta phải phá Cửa Thành (Phá Kiều) rồi mới xông vào Thành, tức là đánh gãy (triệt hạ) tay chân (quyền cước) đối phương trước rồi mới công thành.
Xét cho cùng Triệt Quyền Đạo của Lý Tiểu Long không phải là mới mẻ gì mà chỉ là sự phát triển trên cơ sở cácNguyên Lí Quyền Kĩ Nam Thiếu Lâm Hồng Gia và Thiếu Lâm Vịnh Xuân quyền.
Nhưng sự sáng tạo của Lý Tiểu Long ở chỗ là Lý nhấn mạnh đến tính đơn giản, trực tiếp và phi cổ điển.
Nghĩa là phải chăng Lý đã chối bỏ mọi Hình Thái Quyền Pháp Thiếu Lâm để tiến đến Nguyên lí Vô chiêu thắng Hữu chiêu?
Thật ra không phải như vậy.
Lý muốn nói rằng mọi Nguyên lí Triết học Trung Hoa trong Võ Thuật như Âm - Dương, Cương - Nhu, Hư - Thực, Động - Tĩnh và các hình thái quyền pháp (tức là những Chiêu thức, Chiêu số) chỉ là lột tả cái ý niệm sống động nào đó của quyền thuật. Các ý niệm quyền thuật này thể hiện ở ngay tên của các chiêu thức quyền pháp trong bài quyền theo cách tư duy tượng hình (mô phỏng) có tính ví von và so sánh bằng hình ảnh của người xưa.
Chẳng hạn ở tư thế Trung Bình Tấn (Hồng quyền Hồng Hi Quan gọi là Tứ Bình Bát Phân) một tay quyền để ở hông còn tay kia xuất quyền đánh thẳng ngang về phía một bên hông của tay đó có tên là Hoa Vinh xạ tiễn ám chỉ động tác tay vung quyền tấn công tựa như dang cánh cung về một bên, trong khi tay còn lại nằm ở hông giống như đang nắm mũi tên kéo về sắp sửa bật dây cung bắn ra, còn Hoa Vinh là tên của một trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am. Hoặc chiêu thức Ngọa Hổ Tầm Dương (cọp nằm bắt dê) chẳng hạn. Còn nếu như hai tay nắm thành quyền nằm ở hai bên hông thì gọi là Nhị Hổ Tiềm Tung (như hai con cọp nằm hai bên cổng) hay Long Tàng Hổ Phục (rồng và cọp nằm hai bên chờ thời xuất công)...
Do vậy Lý đã đưa ra khái niệm Triết học vận động trong võ thuật có nghĩa là giữa các hình thái quyền pháp - tức là các chiêu thức - luôn có sự biến hóa có thể không theo một trình tự nhất định nào để trở thành một khuôn vàng thước ngọc mà tùy theo khả năng ứng biến theo tình thế của người luyện tập và trong khi chiến đấu ngoài đời thật sự. Đó là tư tưởng "Không câu chấp, không câu nệ và vạn pháp hư không" trong thuyết lí Thiền Tông Phật GiáoTrung Hoa.
Và Lý đã đi đến kết luận Học nguyên tắc rồi giải trừ nguyên tắc, nghĩa là qua sông rồi thì nên để lại Thuyền mới đi tiếp được, nếu cứ câu nệ vào phương pháp tức là quá quan tâm đến hình thức mà không hướng đến nội dung thì Tâm Pháp bị vướng bận, năng lực bị giam hãm và không được giải phóng thì cho dù có tập luyện quyền thuật lâu ngày cũng không có kết quả gì.
Như vậy người mới học quyền thuật rất cần các Hình thái Quyền pháp căn bản, đến khi tinh luyện rồi thì thiên biến vạn hóa, từ chỗ có chiêu số đi đến chỗ không có chiêu số nghĩa là Vô ảnh quyền, vô ảnh cước, mọi cử động bất kỳ của thân thể cũng có thể trở thành chiêu thức phòng thủ, tấn công hay phản công đối phương hữu hiệu.
Các dòng quyền thuật Thiếu Lâm Hồng Gia có rất nhiều và các hệ thống bài tập của các hệ Hồng Quyền này thậm chí khác nhau hoàn toàn. Có thể kể ra một số lưu phái Hồng Quyền đang thịnh hành tại Trung Hoa Đại Lục và ngoài Trung Hoa Đại Lục như sau:
Hồng quyền Quảng Đông của Hoàng Phi Hồng bắt đầu từ Lục A Thái (sư đệ của Hồng Hi Quan) truyền đến Lâm Thế Vinh. Lâm Thế Vinh là người có công quảng bá Hồng Quyền Hồng Hi Quan ra khắp tỉnh Quảng Đông đến Hồng Kông và Hoa Kỳ. Nhờ có Lâm Thế Vinh viết 3 cuốn sách Cung Tự Phục Hổ Quyền, Thiết Tuyến Quyền, và Hổ Hạc Song Hình Quyền mà người ta thường nói đó là quyền kỹ Hồng Hi Quan.
Hồng quyền Quảng Đông còn có Hồng Quyền của Phương Thế Ngọc nổi danh với Ngũ Hình Quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc) khác với Ngũ Hình Quyền của Hồng Hy Quan là Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc. Hồng Quyền của Phương Thế Ngọc học từ mẹ là Miêu Thúy Hoa, Miêu Thúy Hoa học từ cha là Miêu Hiển.
Hồng quyền Quảng Đông chính là nguồn gốc của các bài Nam quyền của Wushu hiện đại Trung Quốc ngày nay.
Khi chùa Nam Thiếu Lâm ở Toàn Châu tỉnh Phúc Kiến bị hỏa thiêu dưới bàn tay tàn bạo của quan quân nhà Thanh, có 5 người đệ tử cuối cùng xuất sắc nhất của Thiếu Lâm Nam Phái Phúc Kiến (do vị Phương Trượng trụ trì lúc đó là Hồng Mi Sư Tổ - là một trong những vị tiền bối xuất sắc sáng lập ra Nam Quyền Thiếu Lâm - truyền dạy) trốn khỏi chùa.
5 người đó là: Chí Thiện Thiền Sư, Ngũ Mai lão ni (Ngũ Mai Sư Thái) (sau này là sư phụ của Nghiêm Vịnh Xuân - người đã sáng tạo ra Thiếu Lâm Vịnh Xuân Phật Sơn sau này), Bạch Mi Đạo Nhân (gọi là đạo nhân vì ông này sau đó bỏ Phật Gia đi theo Đạo Gia) - Bạch Mi chính là người sáng tạo ra dòng Nam Quyền nổi tiếng ngang ngửa Hồng Quyền Hồng Hy Quan là dòng Thiếu Lâm Bạch Mi với lối đánh đoản kiều phát kình trong tầm ngắn cực kỳ dũng mãnh và tàn khốc, người thứ tư là Phùng Đạo Đức (sau này làm quan cho nhà Thanh), và người thứ năm chính là Miêu Hiển và cũng chính là ông ngoại của Phương Thế Ngọc.
Chùa Nam Thiếu Lâm ở thành phố Toàn Châu, tỉnh Phúc Kiến bị thiêu hủy 2 lần chính yếu: lần thứ nhất là vào năm Ung Chính thứ 2 tức năm 1723 Tây lịch do Ung Chính đế ra lệnh, sau đó Chí Thiện Thiền Sư đã tìm cách xây lại, lần thứ hai và cũng là lần sau cùng bị thiêu hủy tận diệt là vào năm Càn Long thứ 28 tức năm 1763 do Càn Longđế ra lệnh và cấm tiệt xây dựng lại vĩnh viễn do vậy sự kiện này đã là mầm mống cho các phái võ miền Nam Trung Hoa sau này xuất hiện như: Bạch Hạc quyền tại địa hạt Vĩnh Xuân thuộc tỉnh Phúc Kiến, Bạch Mi quyền tại thành phố Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông, Vịnh Xuân quyền tại thành phố Phật Sơn thuộc tỉnh Quảng Đông, Hồng Gia quyền của Hồng Hy Quan tại khắp tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Bạch Hổ Phái của Phùng Đạo Đức, Thiếu Lâm Thái Gia của Thái Phúc (蔡褔) và Thái Cửu Nghi (蔡九儀), Thiếu Lâm Lưu gia của Lưu Tam Nhãn (劉三眼), Thiếu Lâm Lý gia của Lý Hữu Sơn (李友山), Thiếu Lâm Mạc gia của Mạc Thanh Kiều (莫清矯) là nữ nhân,Thái Lý Phật của Trần Hưởng (陳享) ở Tân Hội (新會) tỉnh Quảng Đông, Thiếu Lâm Trung Ngoại Chu Gia quyền của Chu Long (周龍) cũng tại Tân Hội tỉnh Quảng Đông cùng 4 người em ruột là Chu Hiệp (周協), Chu Hải (周海), Chu Điền (周田), Chu Bưu (周彪), Thiếu Lâm Phật gia quyền ở Vân Nam và Quảng Đông,...
Trên thực tế võ Thiếu Lâm nguyên thủy có nguồn gốc từ Tung Sơn thuộc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam mới là chính thống khởi nguyên võ công Thiếu Lâm và không hề có tục lệ nhận đệ tử tục gia vào chùa truyền võ rồi cho rời chùa xuống núi, hành động này chỉ có ở chùa Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến với danh tiếng mỗi đệ tử muốn rời chùa phải qua 36 quan ải chiến đấu với 18 (có thuyết nói 36) tượng đồng La Hán (La Hán Đồng Nhân) làm cho biết bao thế hệ võ thuật say mê võ công Thiếu Lâm cứ tưởng đấy là truyền thuyết có thật tại chùa Thiếu Lâm Tung Sơn. Truyền thuyết về những bức tượng La Hán Đồng Nhân này được khẳng định trong một tài liệu kỹ thuật quân sự trung cổ vào thời nhà Minh tên là Võ Bị Chí được lưu giữ trong phái Vĩnh Xuân Phúc Kiến Bạch Hạc quyền và trường phái Karate Hakutsuru (Không Thủ Đạo Bạch Hạc) của Đại Sư Hohan Soken là truyền nhân chính thống đã được ghi vào sách kỷ lục Guiness về kỳ tích diễn quyền trên một tấm ván mỏng thả trên mặt nước. Phái Không Thủ Đạo Bạch Hạc có nguồn gốc từ Bạch Hạc quyền chính là thủy tổ của tất cả các hệ phái Không Thủ Đạo ngày nay.
Tại chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam không hề có một sự khẳng định hay một dấu vết nào nhắc đến niềm tự hào về truyền thuyết những tượng đồng La Hán cả và cũng không có một thư tịch nào khẳng định chùa đã từng có chính sách nhận đệ tự tục gia vào để truyền thụ võ công rồi cho hạ sơn.
Câu chuyện về 36 quan ải tại chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến với các bức tượng đồng nhân La Hán đã được đạo diễn của hãng phim Thiệu Thị là Lưu Gia Lương (劉家良) đồng thời cũng là võ sư và là truyền nhân của Hồng Gia quyền dựng thành một bộ phim nổi tiếng vào tháng giêng năm 1978 mang tựa đề Thiếu Lâm 36 Quan ải với diễn viên chính là Lưu Gia Huy (劉家輝).
Lưu Gia Lương đã từng đạo diễn rất nhiều phim võ thuật Hồng Kông chung với các vị đạo diễn nổi tiếng của Hong Kong như La Duy, Trương Triệt tại phim trường Thiệu Thị qua các bộ phim như: Hồng Hy Quan và Phương Thế Ngọc (tháng giêng năm 1974), Hoàng Phi Hồng và Lục A Thái (năm 1976), Thiếu Lâm 36 Quan ải (tháng giêng năm 1978), Túy Hầu (Khỉ Say), Thiếu Lâm Hồng Gia quyền (năm 1975)...
Trên thực tế vua Khang Hi nhà Thanh là ông nội của vua Càn Long, cả 2 người đã có công bỏ tiền của ra xây lại chùa Thiếu Lâm Tung Sơn cho rộng rãi hơn, tấm biển Thiếu Lâm Tự ngày nay tại cổng chính trước chùa chính là bút tích thư pháp của Khang Hi và Càn Long đã viếng thăm Tung Sơn Thiếu Lâm Tự vào năm Càn Long thứ 15 tức năm 1750 Tây lịch.
Sở dĩ vua Càn Long cho lệnh đốt chùa Nam Thiếu Lâm tại thành phố Toàn Châu tỉnh Phúc Kiến do chùa này là căn cứ địa của phong trào Phản Thanh Phục Minh tại miền Nam Trung Hoa.
Do vậy khi nói đến chùa Thiếu Lâm tại Trung Quốc thường có khái niệm chùa Nam chùa Bắc, chùa Nam chính là Nam Thiếu Lâm Tự tại Phúc Kiến (có 3 chùa Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến: ở Toàn Châu, Phủ Điền và Phúc Thanh), chùa Bắc chính là Hà Nam Tung Sơn Thiếu Lâm tự và Hà Bắc Bàn Sơn Tử Cái đỉnh Thiếu Lâm tự. (xem Các ngôi chùa Thiếu Lâm tại Trung Quốc)
Ngoài ra còn có thể kể đến Hạ Tứ Hổ Hồng Gia Quyền (下四虎洪家拳) và Hồng Quyền Ngũ Hình (洪拳五形) giờ chỉ còn lưu truyền bàng bạc trong dân gian và trên phim ảnh có dấu tích từ Miêu Hiển cũng nổi danh khắp vùng Hoa Nam, Bắc Hồng Quyền (北洪拳) từ đầu vương triều Minh rồi đến Hồng Quyền Lĩnh Nam (洪拳嶺南), Hồng Gia Quyền La Phù Sơn (洪家拳 羅浮山), Hồng Quyền Thiên Địa Hội của Trần Cận Nam là thủ lĩnh Thiên Địa Hội nổi danh khắp vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Hồng Kông và Đài Loan, Hồng Quyền (紅拳) nguyên thủy của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn và Lý Tẩu (học trò của Bạch Ngọc Phong) từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự,Hồng Quyền Hổ Hạc Biến Hình (虎鶴雙形), Hồng Quyền Phúc Kiến của cụ Tô Tử Quang đang lưu truyền tại Quảng Tây (Trung Quốc) và Hà Nội...
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Address
Đường Số 31, Khu Phố Chợ An Dương Vương, Phường 10, Quận 6
Ho Chi Minh City