Thư Viện Huệ Quang

Thư Viện Huệ Quang Thư viện Phật giáo thư viện Phật giáo
(1)

THƯ VIỆN HUỆ QUANG ĐÓN TIẾP ĐOÀN GIẢNG VIÊN, HỌC VIÊN VÀ SINH VIÊN ĐẠI HỌC THÀNH CÔNG – ĐÀI LOANTrong khuôn khổ chuyến “...
23/08/2026

THƯ VIỆN HUỆ QUANG ĐÓN TIẾP ĐOÀN GIẢNG VIÊN, HỌC VIÊN VÀ SINH VIÊN ĐẠI HỌC THÀNH CÔNG – ĐÀI LOAN

Trong khuôn khổ chuyến “Khảo sát di sản văn bia trong hội quán người Hoa ở TP. Hồ Chí Minh năm 2026”, ngày 19/8/2026, đoàn giảng viên, học viên cao học và sinh viên Đại học Quốc lập Thành Công – Đài Loan (國立成功大學) đã đến thăm và tìm hiểu các nguồn tư liệu Hán Nôm đang được lưu trữ tại Thư viện Huệ Quang, đồng thời tìm hiểu về công tác bảo tồn, phục chế và phát huy giá trị tư liệu tại Thư viện.

Chương trình do Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Khoa Lịch sử, Đại học Quốc lập Thành Công tổ chức, với sự tham gia của các giảng viên và 17 học viên đến từ nhiều chuyên ngành như Lịch sử, Ngôn ngữ Anh, Văn học Trung Quốc và Văn học Đài Loan.

Dẫn đoàn là TS. Nguyễn Thanh Phong, giảng viên Khoa Văn hóa học, cùng PGS. Lý Khải Chương (李啟彰) và TS. Lý Quý Dân (李貴民). Đón tiếp đoàn tại Thư viện Huệ Quang có Thượng toạ Thích Đồng Thọ, Đại đức Thích Không Hạnh – Thư viện trưởng, cùng tập thể nhân viên và cộng tác viên Thư viện.

Trong chuyến tham quan, đoàn đã tìm hiểu không gian phòng đọc, các kho sách mở và hệ thống tư liệu đang được Thư viện lưu giữ. Đặc biệt, các thành viên trong đoàn dành nhiều sự quan tâm cho công tác phục chế sách cũ, bảo tồn tư liệu, in sao và phục chế bản sao các văn bản Hán Nôm, qua đó có thêm những hình dung cụ thể về quá trình gìn giữ những nguồn tư liệu quý trước nguy cơ hư hao theo thời gian.

Các giáo sư và sinh viên cũng có dịp trực tiếp xem nhiều ấn bản Hán Nôm hiện đang được bảo quản tại Thư viện. Một số tư liệu nhận được sự quan tâm đặc biệt bởi có giá trị đối với công việc nghiên cứu của các thành viên trong đoàn, trong đó có những bản Kinh Pháp Hoa, Phủ biên tạp lục, Mông Sơn thí thực khoa nghi và nhiều tư liệu Hán Nôm Phật giáo khác.

Không chỉ là dịp tham quan kho sách, cuộc gặp còn mở ra một không gian trao đổi học thuật thân tình. Qua những trang sách, bản in và hiện vật cụ thể, các thành viên trong đoàn có thêm cơ hội tìm hiểu về lịch sử lưu truyền, đặc điểm văn bản cũng như những nỗ lực của Thư viện Huệ Quang trong việc sưu tầm, bảo quản và đưa tư liệu Hán Nôm đến gần hơn với người nghiên cứu.

Nhân dịp này, Thư viện Huệ Quang đã gửi tặng các thành viên trong đoàn hai bức tranh in từ mộc bản Kinh Dược Sư hiện được lưu giữ tại Tổ đình Quốc Ân (Huế). Món quà nhỏ như một lời chia sẻ về hành trình gìn giữ di sản thư tịch và mộc bản Phật giáo, đồng thời góp thêm một dấu ấn đẹp cho cuộc gặp gỡ giữa những người cùng quan tâm đến văn hóa và tư liệu Hán Nôm.

Sau chương trình tham quan và trao đổi, đoàn đã nán lại dùng trà chiều tại Thư quán Huệ Quang, cùng thưởng thức một số loại trái cây đặc sản Việt Nam. Không khí thân mật của buổi trà chiều đã nối dài cuộc trò chuyện, để một chuyến khảo sát học thuật trở thành một cuộc gặp gỡ gần gũi giữa những người cùng chung mối quan tâm đối với sách vở, văn bản và di sản văn hóa.

Thư viện Huệ Quang luôn hoan hỷ đón tiếp các học giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và những người yêu thích sách vở, văn hóa trong và ngoài nước đến tham quan, học tập và nghiên cứu. Với nguồn tư liệu phong phú, đa dạng, trải rộng từ Phật học, Hán Nôm đến văn học, lịch sử và văn hóa, Thư viện mong muốn trở thành một không gian mở để tư liệu được tiếp tục bảo tồn, nghiên cứu, chia sẻ và kết nối với những thế hệ người đọc hôm nay.

Trân trọng giới thiệu một số hình ảnh về chuyến tham quan và giao lưu của đoàn tại Thư viện Huệ Quang.

🌼🌼🌼

Phòng đọc Thư Viện Huệ Quang

DÂNG MẸBao năm rồi con lưu lạc ngàn phương,Con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải.Ơn dưỡng dục mẹ ôi! Sao xiết kể,Công s...
22/08/2026

DÂNG MẸ

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương,
Con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải.
Ơn dưỡng dục mẹ ôi! Sao xiết kể,
Công sinh thành con nghĩ: quặn lòng đau.

Gốc mai già xơ xác đã từ lâu,
Chơ vơ đứng giữa đường đời gió lộng.
Dòng sông chảy: ấy đời con trong mộng,
Lững lờ trôi… trôi mãi đến bao giờ?

Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ,
Con mơ thấy hồn con về thăm mẹ.
Được ấp ủ trong tình thương của mẹ,
Mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu?

Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều,
Nhưng không có một tình yêu của mẹ.
Vu lan đến cõi lòng con quạnh quẽ,
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây.

Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy,
Tình nghĩa ấy, mẹ ôi! Bao thấm thía.
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ,
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.

🍂🍂🍂

Mùa Vu lan Quý Mão, 1963
Hoà thượng Thích Quảng Độ

𝐆𝐢𝐚́𝐨 𝐭𝐡𝐨̣ 𝐬𝐮̛ 𝐓𝐫𝐢́ 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 – 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐭𝐫𝐢̀𝐧𝐡 𝐦𝐨̣̂𝐭 đ𝐨̛̀𝐢 𝐭𝐚̣̂𝐧 𝐡𝐢𝐞̂́𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐬𝐮̛̣ 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̣̂𝐩 𝐠𝐢𝐚́𝐨 𝐝𝐮̣𝐜Trong suốt cuộc đời tận t...
20/08/2026

𝐆𝐢𝐚́𝐨 𝐭𝐡𝐨̣ 𝐬𝐮̛ 𝐓𝐫𝐢́ 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 – 𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐭𝐫𝐢̀𝐧𝐡 𝐦𝐨̣̂𝐭 đ𝐨̛̀𝐢 𝐭𝐚̣̂𝐧 𝐡𝐢𝐞̂́𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐬𝐮̛̣ 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̣̂𝐩 𝐠𝐢𝐚́𝐨 𝐝𝐮̣𝐜

Trong suốt cuộc đời tận tụy, âm thầm cống hiến cho đạo pháp và sự nghiệp giáo dục, Giáo thọ sư Trí Không đã biên soạn, dịch thuật hơn 20 tác phẩm có giá trị học thuật cao.

Giáo thọ sư Trí Không, thế danh Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1937 tại làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa xưa (nay thuộc Phường Tân Uyên, thành phố Hồ Chí Minh).

Ngài sinh trưởng trong một gia đình trung hậu. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Vị. Ngài có hai người anh em trai là Nguyễn Văn Sự và Nguyễn Văn Ngươn.

Tuổi thơ của ngài diễn ra giữa bối cảnh đất nước đầy biến động, khói lửa chiến tranh khiến việc học hành thế gian gặp nhiều trắc trở, gián đoạn. Thế nhưng, chính trong gian khó, một mối duyên lành lớn lao với Phật pháp đã sớm được vun bồi.

Người đặt viên gạch đầu tiên cho tòa tháp tâm linh của ngài chính là người ông ngoại - một cư sĩ tại gia thuần thành, mẫu mực. Ngay từ thuở để chỏm, ngài đã được ông dẫn đi chùa lễ Phật, ăn chay, tụng kinh và làm quen với nếp sống thiền môn thanh tịnh. Những thanh âm trầm hùng của tiếng chuông chùa, những buổi sớm chiều thanh đạm ấy đã trở thành những hạt giống bồ-đề đầu tiên, lặng lẽ gieo vào tâm thức, định hình nên cốt cách thanh cao của bậc sứ giả Như Lai tương lai.

Khi duyên lành từ nhiều đời tỉnh ngộ, gặp được mảnh đất tâm trong lành, đóa hoa Bát-nhã liền đua nở, tâm Bồ-đề lập tức khai phát. Nhận thấy người cháu ngoại có chí nguyện xuất gia và căn tính thông tuệ, năm Kỷ Sửu (1949), cụ ông đã gửi gắm cậu thiếu niên Nguyễn Văn Tài đến nương bậc pháp lữ đồng học của mình là Hòa thượng Thích Như Lễ - Huyền Dung để tu học.

Ngài chính thức xuống tóc xuất gia tại chùa Sùng Đức (làng Tân Nhựt, Chợ Lớn - nay thuộc TP.HCM). Thuở ấy, Hòa thượng ân sư Như Lễ Huyền Dung (1918-2014) là người khai sáng kiêm Giám đốc hai học đường danh tiếng đương thời: Phật học đường Mai Sơn và Phật học đường Sùng Đức tại Phú Lâm. Ngài được ân sư ban cho pháp danh Trí Không. Đến năm 1954, cầu tiến bước trên lộ trình tu học, Ngài nhập học tại Phật học đường Nam Việt - Tổ đình Ấn Quang, một trong những chiếc nôi đào tạo tăng tài cốt lõi của Phật giáo miền Nam lúc bấy giờ.

Trong môi trường học thuật, ngài đã có thắng duyên được gặp gỡ và thọ giáo trực tiếp với Thiền sư Thích Nhất Hạnh (1926-2022). Mối duyên thầy trò cao đẹp ấy đã dẫn lối đưa hai bậc hành giả có giai đoạn cùng nương nhau tu tập tại Phương Bối Am - chốn thảo am tĩnh lặng giữa vùng đồi núi hoang sơ, sương mờ của Bảo Lộc (Lâm Đồng).

Những ngày tháng thanh bần, hòa mình cùng thiên nhiên và chuyên tâm thiền định tại đây đã hun đúc nên một tâm hồn thoát tục, tự tại. Song song với việc thúc liễm thân tâm, với nghị lực học tập phi thường, ngài đã nỗ lực tự học để hoàn tất chương trình thế học phổ thông. Chỉ trong vòng vài năm ngắn ngủi, Ngài xuất sắc thi đỗ Tú tài I và đến năm Nhâm Dần (1962) tốt nghiệp Tú tài toàn phần (Tú tài II).

Quá trình tự học đã mở ra chân trời tri thức rộng lớn, rèn luyện cho ngài một phương pháp học tập tự chủ, kỷ luật và bền bỉ. Những phẩm chất vàng ngọc ấy về sau đã trở thành nền tảng vững chắc, định hình nên phong cách của một bậc thầy mẫu mực trong sự nghiệp giáo dục, giảng dạy và đào tạo các thế hệ tăng, ni hậu học.

Năm Quý Mão (1963), giữa lòng cơn bão pháp nạn lịch sử, với bầu nhiệt huyết của một Tăng sinh trẻ tuổi, ngài đã can trường dấn thân vào phong trào đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo, phản đối chính sách kỳ thị và đàn áp tăng, ni, Phật tử của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Sau những năm tháng đồng hành cùng vận mệnh Giáo hội, ngài tiếp tục con đường học thuật thế gian để mở mang tri thức. Tại Viện Đại học Vạn Hạnh - chiếc nôi văn hóa Phật giáo đương thời, ngài tốt nghiệp khóa đầu tiên hệ Cao đẳng vào năm Bính Ngọ (1966). Đồng thời, Ngài theo học tại Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa Sài Gòn (niên khóa 1964-1968), xuất sắc đỗ thủ khoa trong số 680 thí sinh và tốt nghiệp với hạng Ưu, nhận bằng Cử nhân giáo khoa Việt Hán.

Với tài năng và tâm huyết cháy bỏng dành cho sự nghiệp giáo dục, sau khi tốt nghiệp, ngài được Giáo hội tin tưởng giao phó trọng trách Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề Bảo Lộc (1968-1970), và sau đó là Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề Long Xuyên (1970-1972). Năm Nhâm Tý (1972), ngài được thỉnh mời làm Quản thủ Thư viện Đại học Cần Thơ, đồng thời tham gia giảng dạy tại Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Cần Thơ là hai thành viên thuộc Viện Đại học Cần Thơ, được thành lập từ năm 1966 tại miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, các cơ sở này được sáp nhập và phát triển thành Đại học Cần Thơ ngày nay.

Năm Quý Sửu (1973), do nghịch duyên đưa đẩy, Ngài trở về đời sống cư sĩ tại gia. Tuy thay đổi hình tướng tu tập, nhưng chí nguyện “trồng người” và tấm lòng hộ trì chính pháp nơi ngài chưa từng lay chuyển.

Cư sĩ Văn Tài tiếp tục cống hiến trên bục giảng Đại học Cần Thơ, giảng dạy môn Văn học phương Tây tại Khoa Văn cho đến khi về hưu vào năm 1985 (trước đó, năm 1977, ông tham gia khóa học về chính trị Triết học Mác - Lênin: Chủ nghĩa duy vật biện chứng 18 tháng tại Sài Gòn; đến năm 1982, ông chuyển về Vĩnh Long, tiếp tục giảng dạy tại Khoa Đại học tại chức thành Trường Tại chức Kinh tế - Kỹ thuật liên tỉnh Cửu Long- Đồng Tháp.

Bằng sở học uyên bác và ngọn lửa nhiệt thành dành cho nền giáo dục Phật giáo, năm Canh Ngọ (1990), cư sĩ Văn Tài được cung thỉnh làm Giáo thọ sư, giảng dạy tại Trường Phật học Đại Tòng Lâm, sau đó là Trường Cao - Trung Phật học Đại Tòng Lâm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những trung tâm đào tạo Tăng tài lớn và uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Giáo thọ sư Trí Không đã dốc trọn tâm lực biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa Phật học và lịch sử Phật giáo giá trị, để lại một di sản tri thức đồ sộ cho thế hệ tăng, ni sinh hậu học. Năm Canh Thìn (2000), thầy Trí Không tiếp tục đón nhận lời cung thỉnh của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Vĩnh Long, tham gia thỉnh giảng tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh nhà, trụ sở chính đặt tại Thiền viện Sơn Thắng, miệt mài chèo lái con thuyền trí tuệ.

Cả một đời thanh cao, xem danh lợi tựa phù vân, lấy giáo dục và đạo pháp làm lẽ sống. Thuận theo luật vô thường của tạo hóa, cư sĩ, Giáo thọ sư, Nhà nghiên cứu Phật học Trí Không đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng, xả bỏ báo thân, từ giã cõi tạm vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (thứ Hai, ngày 17/8/2026), trụ thế 92 tuổi.

Hành trình một đời của ngài khép lại, nhưng hương thơm của đức hạnh, trí tuệ và những trang sách vàng ngọc sẽ mãi là ngọn hải đăng soi sáng bước đường tu học của các bậc hậu thế.

Đây là nguồn tài liệu quý, đóng góp vào kho tàng văn học và giáo trình giảng dạy Phật giáo nước nhà.

1. Hệ thống Sách giáo khoa Phật học:

* Phật học Toàn thư Cao đẳng (Phần Giáo lý)
* Phật học Toàn thư Trung cấp (2 bộ: Giáo lý và Giáo sử)
* Phật học Toàn thư Sơ cấp (Phần Giáo lý và Giáo sử)

2. Tác phẩm biên soạn và sáng tác:

* Vĩnh Long Phật giáo Sử lược
* Nghìn năm bóng nước sông Hằng
* Lời Phật sáng tâmTrí tuệ bạt ngàn của Giáo tổ Gotama
* Tổ đình Ấn Quang và lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam từ năm 1950 trở đi

3. Tác phẩm soạn dịch và giáo trình:

* Nhị khóa hiệp giải (Sách giáo khoa Trung đẳng)
* Quy Sơn Cảnh Sách giảng bình (Sách giáo khoa)
* Chư kinh yếu tập (Tuyển tập 100 bài kinh dịch nghĩa)
* Kinh A-hàm giảng yếuThiền Lâm Bảo Huấn (Trích dịch)
* Giáo trình chữ Nôm
* Chữ Nôm: Ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyện

Ngài được nhiều thế hệ tăng, ni sinh trân trọng, kính mến gọi là bậc “Thân giáo sư”, “Giáo thọ sư” mẫu mực. Sự ra đi của Nhà giáo, Nhà nghiên cứu Phật học Trí Không là một tổn thất, mất mát lớn cho công tác giáo dục Phật giáo, để lại niềm kính tiếc vô biên trong lòng hàng hậu học và những người mến mộ đạo tình.

Để tưởng niệm công đức một đời của Giáo thọ sư Trí Không, linh cữu hiện được quàn tại chùa Chuông Nhỏ (số 251A, nay là khóm Phước Hanh A, phường Phước Hậu mới, tỉnh Vĩnh Long mới).

Lễ động quan sẽ được cử hành trang nghiêm vào lúc 13 giờ 00 ngày 8 tháng 7 năm Bính Ngọ (ngày 20 tháng 8 năm 2026). Sau đó, linh cữu được phụng tống đến nơi hỏa táng tại Sơn Trang Tiên Cảnh, tỉnh Hậu Giang.

🍂🍂🍂

Thích Vân Phong

***

𝑻𝒉𝒂𝒎 𝒌𝒉𝒂̉𝒐:

* Vĩnh Long Phật giáo Sử lược
* Và ghi lại nội dung qua những lần trao đổi của Ngài thuở sinh tiền

ĐỂ TIẾP TỤC VÒNG ĐỜI NHỮNG CUỐN SÁCH Có những cuốn sách cần được sửa lại vì đã cũ. Và có những cuốn sách cần được giữ ng...
18/08/2026

ĐỂ TIẾP TỤC VÒNG ĐỜI NHỮNG CUỐN SÁCH

Có những cuốn sách cần được sửa lại vì đã cũ. Và có những cuốn sách cần được giữ nguyên những dấu vết của thời gian, bởi chính những dấu vết ấy làm nên ký ức của chúng.

Ở Thư viện Huệ Quang, bên cạnh công việc sưu tầm, bảo quản và phục vụ việc đọc, vẫn có một công việc lặng lẽ diễn ra phía sau những giá sách: đóng sách, sửa chữa, gia cố và tu bổ những tài liệu đã đi qua nhiều năm tháng. Đó là một công việc đòi hỏi nhiều sự kiên nhẫn. Nhưng hơn hết, nó đòi hỏi một cách nhìn khác về sách: sách không chỉ là vật chứa đựng chữ nghĩa, mà bản thân cuốn sách cũng là một vật thể có đời sống.

𝐊𝐡𝐢 𝐦𝐨̣̂𝐭 𝐜𝐮𝐨̂́𝐧 𝐬𝐚́𝐜𝐡 𝐭𝐫𝐨̛̉ 𝐭𝐡𝐚̀𝐧𝐡 𝐤𝐲̉ 𝐧𝐢𝐞̣̂𝐦 𝐜𝐮̉𝐚 𝐦𝐨̣̂𝐭 𝐠𝐢𝐚 đ𝐢̀𝐧𝐡

Gần đây, có một người mang đến Thư viện vài cuốn sách và những quyển kinh mà ông mình từng sử dụng. Những cuốn sách đã cũ, giấy đã xuống màu, bìa và gáy không còn nguyên vẹn. Mong muốn của chị rất giản dị: tu bổ lại những cuốn sách ấy để ba mình có thể tiện đọc, và có thể tiếp tục gìn giữ như một kỷ niệm, một phần di sản của gia đình.

Có lẽ, đó cũng là một trong những lý do đẹp để người ta tìm đến công việc phục chế sách. Bởi đôi khi thứ cần được giữ lại không chỉ là một cuốn sách, mà còn là người từng đọc cuốn sách ấy. Một quyển kinh cũ có thể không có nhiều giá trị về mặt vật chất. Nhưng với một gia đình, nó có thể là vật đã từng nằm trên bàn đọc của ông, từng được mở ra trong những buổi tụng kinh, từng đi cùng một người qua những năm tháng của đời sống. Những nếp gấp, những dấu vết sử dụng, màu giấy đã ngả theo thời gian... tất cả đều có thể trở thành một phần của ký ức.

Vì vậy, phục chế không phải lúc nào cũng có nghĩa là làm cho một cuốn sách trở nên “như mới”. Đôi khi, điều quan trọng hơn là làm cho nó đủ bền để tiếp tục tồn tại, nhưng vẫn giữ được những gì thuộc về lịch sử của chính nó.

Đó cũng là nguyên tắc mà người làm công việc tu bổ sách cần luôn ghi nhớ: can thiệp vừa đủ, giữ lại tối đa những thành phần còn có thể bảo tồn và tránh biến một cuốn sách cũ thành một vật hoàn toàn khác với nguyên trạng của nó.

𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐯𝐢𝐞̣̂𝐜 𝐨̛̉ 𝐩𝐡𝐢́𝐚 𝐬𝐚𝐮 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢𝐚́ 𝐬𝐚́𝐜𝐡

Với dòng sách giấy Tây phương, công việc tu bổ lại càng có nhiều điều đáng để tìm hiểu. Một cuốn sách không chỉ gồm những trang giấy. Nó có cấu trúc đóng sách, chỉ khâu, tờ gát, bìa, gáy, các lớp gia cố... Mỗi thành phần đều có vai trò riêng trong việc giữ cho toàn bộ cuốn sách được bền vững.

Theo thời gian, gáy sách có thể b**g hoặc gãy, chỉ khâu có thể bị đứt, bìa da hoặc vải có thể bị mòn, giấy có thể rách hoặc giòn, những trang thường xuyên được lật mở có thể bị tổn thương ở phần mép và nếp gấp. Khi ấy, việc sửa chữa không đơn giản là dán lại một chỗ rách hay thay một chiếc bìa mới.

Người làm phải quan sát cấu trúc của cuốn sách, xác định nguyên nhân hư hỏng và cân nhắc mức độ can thiệp phù hợp. Có những cuốn chỉ cần gia cố một phần. Có những cuốn phải tháo lại cấu trúc đóng sách, xử lý từng phần rồi khâu và đóng lại. Có những cuốn cần giữ nguyên bìa cũ dù bề mặt đã mang nhiều dấu vết thời gian.

Mỗi cuốn sách vì thế lại đặt ra một bài toán khác nhau. Và cũng chính từ những công việc nhỏ bé ấy, người ta nhận ra rằng bảo tồn sách không chỉ là đặt sách vào một chiếc tủ kín, mà còn là hiểu cách một cuốn sách được tạo nên và biết cách chăm sóc nó.

Đ𝐨́𝐧𝐠 𝐭𝐚̣̂𝐩 đ𝐞̂̉ 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐭𝐮̛ 𝐥𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐛𝐢̣ 𝐭𝐡𝐚̂́𝐭 𝐥𝐚̣𝐜

Bên cạnh việc tu bổ những cuốn sách đã hư hỏng, Thư viện Huệ Quang vẫn thực hiện đóng tập thủ công nhiều bộ tạp chí, ấn phẩm định kỳ và các bộ toàn tập. Những số tạp chí vốn được in rời theo từng kỳ, sau nhiều năm thường rất dễ bị thất lạc, rách hoặc phân tán. Khi được tuyển chọn, sắp xếp và đóng thành từng bộ, chúng không chỉ thuận tiện hơn cho việc tra cứu mà còn trở thành những đơn vị tài liệu bền vững hơn trong kho sách.

Một số bộ như Suối Nguồn, Từ Quang... được Thư viện thực hiện đóng thủ công với bìa da, phần gáy được gia cố chắc chắn, chú trọng cả độ bền lẫn hình thức. Ở đây, việc đóng sách không nhằm làm cho những tư liệu cũ trở nên xa lạ với dáng vẻ ban đầu. Mục đích chính vẫn là bảo tồn: giữ cho những số báo, những trang viết và những tư liệu vốn dễ bị phân tán có thể cùng tồn tại trong một chỉnh thể, được lưu giữ, sử dụng và trưng bày lâu dài.
Có những tài liệu hôm nay chúng ta thấy rất bình thường, nhưng vài chục năm sau lại trở thành nguồn tư liệu quý để một người nào đó tìm hiểu về một thời kỳ, một tác giả, một phong trào hay một sinh hoạt văn hóa đã từng tồn tại. Bởi vậy, đóng một bộ tạp chí cũng có thể là một cách chuẩn bị cho tương lai.

𝐆𝐢𝐮̛̃ 𝐜𝐡𝐨 𝐬𝐚́𝐜𝐡 𝐦𝐨̣̂𝐭 đ𝐨̛̀𝐢 𝐬𝐨̂́𝐧𝐠 𝐝𝐚̀𝐢 𝐡𝐨̛𝐧

Từ những công việc như vậy, có thể thấy giữa đóng sách, sửa chữa và phục chế thực ra không có một ranh giới quá xa. Đóng sách là chuẩn bị cho một đời sống lâu dài. Gia cố và sửa chữa là giúp cuốn sách tiếp tục được sử dụng. Phục chế là cố gắng cứu lại những gì thời gian đã làm tổn thương. Và bảo tồn là để tất cả những điều ấy không bị mất đi cùng với một thế hệ.

Đó cũng là lý do Thư viện Huệ Quang bên cạnh việc tự thực hiện công tác bảo quản các tài liệu của mình, hiện có tiếp nhận sửa chữa, gia cố, đóng tập và tu bổ sách, kinh, tạp chí và các ấn phẩm giấy cũ.

Nếu trong gia đình bạn có một cuốn sách, một bộ kinh, các bộ tạp chí hay một ấn phẩm cũ đã xuống cấp nhưng vẫn muốn giữ lại, có thể mang đến Thư viện để được xem xét tình trạng và tư vấn phương án xử lý phù hợp.

Không phải cuốn sách cũ nào cũng cần được làm lại thật đẹp. Có khi điều cần thiết nhất chỉ là giúp nó chắc chắn hơn một chút, để những trang giấy đã đi qua nhiều năm tháng có thể tiếp tục được mở ra.

Và biết đâu, trong một ngày rất xa sau này, sẽ có một người khác lại cầm chính cuốn sách ấy trên tay, nhìn những trang giấy đã cũ, những dấu vết của một đời người, và hiểu rằng trước mình đã từng có một người đọc nó, nâng niu nó, và có ai đó đã cố gắng giữ nó lại.

Đ𝒆̂̉ 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒕𝒓𝒂𝒏𝒈 𝒔𝒂́𝒄𝒉 𝒄𝒖̃ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒑 𝒕𝒖̣𝒄 đ𝒖̛𝒐̛̣𝒄 đ𝒐̣𝒄, đ𝒆̂̉ 𝒕𝒊𝒆̂́𝒑 𝒕𝒖̣𝒄 𝒗𝒐̀𝒏𝒈 đ𝒐̛̀𝒊 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒄𝒖𝒐̂́𝒏 𝒔𝒂́𝒄𝒉.

📚📖📓

Thư Khách/Thư viện Huệ Quang

🌿 THÁNG BẢY – GỬI TẶNG MỘT CHÚT DUYÊN LÀNHTháng Bảy âm lịch về, trong đời sống Phật giáo, người ta thường nhắc nhiều hơn...
17/08/2026

🌿 THÁNG BẢY – GỬI TẶNG MỘT CHÚT DUYÊN LÀNH

Tháng Bảy âm lịch về, trong đời sống Phật giáo, người ta thường nhắc nhiều hơn đến chữ hiếu.

Đó là dịp để mỗi người chậm lại một chút, nhớ về cha mẹ, ông bà và những người đã đi qua đời mình; cũng là dịp để nhìn lại cách mình đang sống, đang yêu thương và đang gìn giữ những mối duyên thân thuộc.

Trong tinh thần ấy, nhân tháng Bảy – mùa của hiếu đạo và tri ân, Thư viện Huệ Quang xin gửi tặng một số vở chép Kinh Địa Tạng và sách thơ “Đức Phật với tuổi thơ” đến những người hữu duyên.

📖 VỞ CHÉP KINH ĐỊA TẠNG

Hiện có khoảng 100 cuốn, gồm hai loại:

• Vở có chữ mờ: người chép viết đè lên phần chữ đã in sẵn, phù hợp với những ai muốn bắt đầu việc chép kinh một cách đơn giản và dễ dàng.

• Vở trắng: dành cho người muốn tự xem kinh và tự tay chép lại từng câu kinh.

Giữa những ngày tháng Bảy, có lẽ cũng là một cách để chúng ta dành thêm một khoảng lặng cho chính mình: mở một trang kinh, viết xuống từng dòng chữ, và trong khi chép lời Phật, lặng lẽ nhớ nghĩ đến những người mình thương.

🌱 SÁCH THƠ “ĐỨC PHẬT VỚI TUỔI THƠ”

Thư viện hiện có khoảng 50 cuốn, xin được gửi tặng các em nhỏ, phụ huynh và thầy cô.

Những bài thơ, hình ảnh và trang sách được trình bày gần gũi với trẻ em, để các em có thể vừa đọc, vừa tô màu, vừa làm quen với những câu chuyện và hình ảnh đẹp trong đời sống Phật giáo.

Nếu tháng Bảy nhắc người lớn về chữ hiếu, thì có lẽ cũng là một dịp đẹp để chúng ta gieo nơi trẻ nhỏ những hạt giống đầu tiên của lòng biết ơn, sự yêu thương và lòng từ ái.

Mong rằng cuốn vở chép kinh có thể trở thành một khoảng lặng cho người lớn và cuốn sách nhỏ có thể trở thành một hạt giống lành trong tuổi thơ.

🙏 Thư Viện Huệ Quang xin tặng miễn phí cho người hữu duyên đến nhận trực tiếp tại Thư quán.

📍 Thư quán Thư viện Huệ Quang, 116 Hoà Bình, phường Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.

Số lượng có hạn, xin phép tặng đến khi hết sách.

Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. 🙏

CÂY KHẾ ĐỒI CAOMột trong những câu thơ của Phạm Công Thiện ám ảnh tôi từ nhỏ:"𝑀𝑢̛𝑎 𝑐ℎ𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑡ℎ𝑢̛́ 𝑏𝑎̉𝑦 𝑡𝑜̂𝑖 𝑣𝑒̂̀ 𝑚𝑢𝑜̣̂𝑛𝐶𝑎...
16/08/2026

CÂY KHẾ ĐỒI CAO

Một trong những câu thơ của Phạm Công Thiện ám ảnh tôi từ nhỏ:

"𝑀𝑢̛𝑎 𝑐ℎ𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑡ℎ𝑢̛́ 𝑏𝑎̉𝑦 𝑡𝑜̂𝑖 𝑣𝑒̂̀ 𝑚𝑢𝑜̣̂𝑛
𝐶𝑎̂𝑦 𝑘ℎ𝑒̂́ đ𝑜̂̀𝑖 𝑐𝑎𝑜 𝑡𝑟𝑜̂̉ ℎ𝑒̂́𝑡 𝑏𝑜̂𝑛𝑔"

Có một câu thơ của Hoàng Trúc Ly, người bạn thân của Phạm Công Thiện, câu đầu giống hệt, chẳng biết ai làm trước ai làm sau:

"𝑀𝑢̛𝑎 𝑐ℎ𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑡ℎ𝑢̛́ 𝑏𝑎̉𝑦 𝑡𝑜̂𝑖 𝑣𝑒̂̀ 𝑚𝑢𝑜̣̂𝑛
𝐸𝑚 𝑛𝑔𝑢̉ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑚𝑖̀𝑛ℎ 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑔𝑖𝑜́ 𝑚𝑢̛𝑎"

Câu thơ của Hoàng Trúc Ly ít người nhớ tới, nhưng câu của Phạm Công Thiện thì được nhắc đến rất nhiều trong các diễn đàn văn học. Ở đây tôi không nói đến câu thơ, tôi chỉ nói đến hình ảnh "cây khế đồi cao". "Trổ hết bông" nghĩa là gì? Vì mưa-chiều-thứ-bảy, không gian thì ướt át, thời gian thì muộn màng. Trổ-hết-bông là bông đã trổ hết, trổ bừng hết, trắng muốt trên cành, hay trổ hết rồi lụi tàn, chẳng còn bông nào hết? Tôi chẳng biết. Mà cũng chẳng cần biết. Cái nghi ngờ lẩm cẩm ấy lại là cái thú vị của thi ca, khiến câu thơ cứ lảng vảng mãi trong đầu.

Cây khế nào? Đồi cao nào? Ai là người ở lại với cây khế đồi cao đó? Đây chính là điều tôi muốn nói tới trong bài viết này: Thích Phước An. Trên ngọn đồi Trại Thuỷ, dãy phòng học đơn sơ, biết bao tài danh đã đến và đi, từ các bậc cao tăng lừng danh như Minh Châu, Nhất Hạnh, Trí Quang, Trí Thủ, Thiện Siêu, Đổng Minh đến các học giả như Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, những giáo sư như Nguyễn Đăng Thục, Cao Hữu Đính, những nhà thơ văn như Quách Tấn, Võ Hồng. Chỉ có một mình Thầy Phước An là ở lại đó cho đến hơi thở cuối cùng.

Phạm Công Thiện viết câu thơ trên khoảng sau năm 1964, sau khi ông được xuất gia với Hoà thượng Giám viện Thích Trí Thủ với pháp danh Nguyên Tánh và nổi tiếng với tác phẩm "Tiểu Luận Về Bồ Đề Đạt Ma". Trong khảo luận "Phạm Công Thiện Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng", Thích Phước An đã từng viết: "Ở đây, trên đồi cao vắng vẻ, vào mỗi chiều tôi vẫn thường ra đứng nhìn mặt trời khuất dần nơi các rặng núi phía xa, rồi chạnh lòng nhớ đến những người thân đã đến rồi ra đi không bao giờ về thăm lại ngọn đồi cao này. Tất nhiên, trong đó hình bóng của anh Phạm Công Thiện, một thanh niên tài hoa vừa mới từ giã Sài Gòn về đây suốt ngày tự nhốt mình trong một căn phòng đầy sách cùng những câu thơ mà anh đã từng sáng tác ở đây, vào những đêm dài heo hút hay những chiều buồn lê thê, lúc nào cũng sống lại đậm đà trong kí ức xa xôi của tôi".

Quách Tấn, một nhà thơ chất ngất hồn Đường đã từng viết: "𝑁𝑒̂́𝑢 𝑜̛̉ 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑡𝑎̣𝑖 𝑐𝑜́ 𝑐𝑎́𝑖 𝑔𝑜̣𝑖 𝑙𝑎̀ 𝑡ℎ𝑜̛ 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑐ℎ𝑎̆́𝑐 𝑐ℎ𝑎̆́𝑛 đ𝑜́ 𝑝ℎ𝑎̉𝑖 𝑙𝑎̀ ℎ𝑎𝑖 𝑐𝑎̂𝑢 𝑡ℎ𝑜̛ 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 ℎ𝑎𝑦 𝑛ℎ𝑎̂́𝑡 𝑜̛̉ 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 đ𝑎̣𝑖". Rõ ràng tư tưởng của Phạm Công Thiện đã in dấu sâu đậm trong tâm khảm của vị học tăng tại Hải Đức. Chả vì thế mà Thầy Phước An đã chọn câu thơ trong bài Bất Nhị của chàng trai họ Phạm ấy làm tiêu đề sách của mình: "Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng".

Thầy Phước An từ Bình Định vào Phật học viện Hải Đức vào khoảng những năm 1957, 1958, 1959, sau khi Hải Đức sáp nhập cả Phật học đường Báo Quốc từ Huế vào. Đến năm 1974, khi Hải Đức là Cao đẳng Phật học viện với Viện trưởng Thích Thiện Siêu, Phó Viện trưởng Thích Đỗng Minh, Học vụ kiêm Thư ký Thích Tuệ Sỹ thì Thầy Phước An làm Thủ thư kiêm phụ tá học vụ. Sau 1975, Phật học viện Hải Đức tan rã. Mỗi người theo duyên phận của mình tứ tán khắp các tỉnh thành và hải ngoại. Chỉ một mình Thầy Phước An ở lại dãy phòng học của Hải Đức, lặng lẽ, hắt hiu suốt hơn 50 năm cho đến hơi thở cuối cùng. Không chùa chiền, không đệ tử, không danh phận, không làm việc giáo hội, đúng chất một thủ thư: không phải là người giữ sách, mà là giữ cái hồn, cái cốt của văn chương, của những trang kinh, điển tịch, và làm chứng cho mọi đổi thay, phát triển hay lụi tàn của thành phố Nha Trang với gió biển ngàn đời, với đồi Trại Thuỷ cô liêu, với dòng sông Cái hiền hoà và đỉnh tháp Chàm Ponagar trầm mặc.

Nói đến Thích Phước An mà không nói đến những trang viết của Thầy trong đặc san đây đó là một thiếu sót lớn. Thầy viết gì? Thầy viết về Trần Nhân Tông, viết về Nguyễn Du, viết về Quách Tấn, viết về Tuệ Sỹ... Người ta không thấy nhiều những quê hương lửa đạn, những đấu đá thời cuộc, những đảo điên chính trị hay đời sống thăng trầm. Người ta chỉ thấy một dòng chảy xuyên suốt của hồn Việt, của Phật giáo thăng trầm và tình tự quê hương thắm đẫm qua những con chữ đầy chất xúc tác. Có thể nói, sau Tuệ Sỹ với những trang thơ chất ngất Trường Sơn huyết lệ thì những bài viết của Thích Phước An là những trang sách đáng đọc nhất khi muốn tìm về quê hương sơ thuỷ.

Phạm Công Thiện thì "long đong theo bóng chim gầy" và "đau trong tiếng gà xơ xác" để gặp lại quê hương:

"𝐺𝑖𝑜́ 𝑡ℎ𝑜̂̉𝑖 đ𝑜̂̀𝑖 𝑡𝑎̂𝑦 ℎ𝑎𝑦 đ𝑜̂̀𝑖 đ𝑜̂𝑛𝑔?
𝐻𝑖𝑢 ℎ𝑎̆́𝑡 𝑞𝑢𝑒̂ ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑏𝑒̂́𝑛 𝑐𝑜̉ ℎ𝑜̂̀𝑛𝑔
𝑇𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑚𝑜̛ 𝑒𝑚 𝑣𝑎̂̃𝑛 𝑐𝑜̀𝑛 𝑏𝑒̂𝑛 𝑐𝑢̛̉𝑎
𝑇𝑜̂𝑖 đ𝑢̛́𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑒̂𝑛 đ𝑜̂̀𝑖 𝑚𝑎̂𝑦 𝑡𝑟𝑜̂̉ 𝑏𝑜̂𝑛𝑔

𝐺𝑖𝑜́ 𝑡ℎ𝑜̂̉𝑖 đ𝑜̂̀𝑖 𝑡ℎ𝑢 𝑞𝑢𝑎 đ𝑜̂̀𝑖 𝑡ℎ𝑜̂𝑛𝑔
𝑀𝑢̛𝑎 ℎ𝑎̣ 𝑙𝑦 ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑛𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑑𝑜̀𝑛𝑔
𝑇𝑜̂𝑖 đ𝑎𝑢 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑖𝑒̂́𝑛𝑔 𝑔𝑎̀ 𝑥𝑜̛ 𝑥𝑎́𝑐
𝑀𝑜̣̂𝑡 𝑠𝑜̛́𝑚 𝑏𝑜̂𝑛𝑔 ℎ𝑜̂̀𝑛𝑔 𝑛𝑜̛̉ 𝑐𝑢̛̉𝑎 đ𝑜̂𝑛𝑔".

Với Tuệ Sỹ thì khác:

"𝐴𝑛ℎ 𝑐𝑢́𝑖 𝑥𝑢𝑜̂́𝑛𝑔 𝑛𝑔ℎ𝑒 𝑛𝑢́𝑖 𝑟𝑢̛̀𝑛𝑔 ℎ𝑜̛̣𝑝 𝑡𝑎̂́𝑢
𝐵𝑎̉𝑛 𝑡𝑖̀𝑛ℎ 𝑐𝑎 𝑣𝑜̂ 𝑡𝑎̣̂𝑛 𝑐𝑢̉𝑎 Đ𝑜̂𝑛𝑔 𝑃ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔".

Phạm Công Thiện thì đi tìm quê hương ở biền biệt trời Tây. Tuệ Sỹ Phạm Văn Thương thì cúi xuống lắng nghe núi rừng hợp tấu, còn Thích Phước An Trần Hữu Cư, người ngưỡng mộ hai bậc tài danh thế kỷ ấy, như cây khế đồi cao, đứng lặng suốt hơn nửa thế kỷ thăng trầm để gìn giữ quê hương trầm mặc.

Có lẽ bức ảnh của Thầy Phước An nổi tiếng trên mạng là bức ảnh trong chiếc xe thùng (hay trên toa tàu lửa?), cùng Thầy Đỗng Minh đi đón Thầy Tuệ Sỹ ra tù. Những năm sau 1975, Thầy Tuệ Sỹ ra Nha Trang, Vạn Giã làm rẫy, người bạn đồng hành của Tuệ Sỹ là Thầy Phước An. Sau này mỗi dịp ra Nha Trang, Tuệ Sỹ cũng đều lên đồi Trại Thuỷ, nơi Phật học viện Hải Đức cũ uống trà đàm đạo cùng Thầy Phước An. Những năm cuối đời, Thầy Tuệ Sỹ đã cung cử Thầy Phước An ngôi vị Tăng Trưởng GHPGVNTN, bấy nhiêu cũng thấy được vị trí của Thầy Phước An trong lòng bậc tông tượng Thiền môn Thích Tuệ Sỹ.

Tôi được biết Thầy Phước An rất muộn, có lẽ đầu thập niên 90. Có lần tôi được mời ra Nha Trang dự lễ ra mắt Đặc san Hoa Hiếu Hạnh của thầy Nguyên Mãn, trong đó có bài viết của tôi: "Phật Giáo Nha Trang Xưa Và Nay - Đôi Điều Cảm Nhận". Đêm ra mắt Đặc san có 2 vị khách mời đặc biệt: Thầy Phước An và nhà văn Võ Hồng - người nổi tiếng với những tuỳ bút trên các ấn phẩm Tư Tưởng, Giữ Thơm Quê Mẹ... trước 1975. Không ngờ Thầy Phước An biết tôi và khen ngợi những bài viết của tôi trên nhiều đặc san trước đó. Năm 2023, nhân chuyến hoằng pháp ở Nha Trang, tôi lên đồi Trại Thuỷ thăm vị Thầy ẩn mật. Tình cờ chị Lê Khắc Thanh Hoài, "người đàn bà năm con" của Phạm Công Thiện từ Paris gọi về thăm tôi. Tôi nói tôi đang ngồi với Thầy Phước An. Ba thầy trò mở loa cùng nói chuyện vui như hạnh ngộ. Không ngờ chị Hoài trước đó vẫn thường xuyên gọi về thăm hỏi vị thầy ở mãi trên đồi Trại Thuỷ xa xưa.

Hôm nay, những ngày cuối năm Ất Tỵ, đứng trước linh đường chùa Hải Đức sau khi cùng chư tôn đức GHPGVNTN đảnh lễ phúng viếng Giác Linh, ra trước cổng với những hàng trụ xi măng trên dốc cao trầm mặc, tôi bỗng nảy ra câu đối dâng Thầy trong niềm cảm xúc vô biên:

𝐶𝑎̂𝑦 𝑘ℎ𝑒̂́ đ𝑜̂̀𝑖 𝑐𝑎𝑜, 𝑡𝑟𝑜̂̉ ℎ𝑒̂́𝑡 𝑐ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑢̛̀𝑎 𝑑𝑎̆𝑚 𝑛𝑢̣ 𝑇𝑒̂́𝑡
𝑅𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑚𝑎𝑖 𝑑𝑜̂́𝑐 𝑡ℎ𝑎̆̉𝑚, 𝑟𝑢̣𝑛𝑔 𝑑𝑎̂̀𝑛 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑠𝑜́𝑡 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑛ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝑋𝑢𝑎̂𝑛.

Tôi đã mượn "Cây khế đồi cao" của Phạm Công Thiện để đối với "Nhất chi mai" đêm qua của Thiền sư Mãn Giác. Ai cảm nhận thế nào thì tuỳ cảm xúc của người đọc mà thôi!

🍂🍂🍂

𝑻𝒖̛𝒐̛̉𝒏𝒈 𝒏𝒊𝒆̣̂𝒎 𝑯𝒐𝒂̀ 𝑻𝒉𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝑻𝒉𝒊́𝒄𝒉 𝑷𝒉𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝑨𝒏
Nhất Thanh - Thích Nguyên Hiền.

THÔNG BÁO KHAI GIẢNG LỚP TỪ NGUYÊN HỌC VÀ NHO VĂN DUYÊN DOBiết rằng: - Mọi quốc gia đều lấy tiếng mẹ đẻ để giáo dục công...
15/08/2026

THÔNG BÁO
KHAI GIẢNG LỚP TỪ NGUYÊN HỌC VÀ NHO VĂN

DUYÊN DO

Biết rằng:
- Mọi quốc gia đều lấy tiếng mẹ đẻ để giáo dục công dân, phát triển nhân thân và phụng sự xã hội. Cũng vậy, người Việt lấy Việt ngữ làm nền tảng cho việc học tập lễ giáo, khoa học và nghệ thuật.

- Việt ngữ gồm cả tiếng nói và chữ viết, là kết tinh của nhiều ngàn năm văn hiến, được thể hiện, bảo tồn thành văn truyền khẩu và văn sách, gọi chung là Việt văn có phần lớn văn liệu được viết ở dạng chữ Nho. Tiếng Việt có mối liên hệ thâm viễn với chữ Nho. Việt ngữ, trong nhiều trường hợp, còn là nơi có thể truy tầm những vết tích xa xưa của chữ Nho – linh tự của văn hoá Á-Đông.

- Nho văn, chỉ riêng về mặt văn liệu, là một kho tàng minh triết được ghi lại bằng chữ Nho do tinh thần và công sức của nhiều quốc gia và sắc tộc ở phương Đông trong đó có dân tộc Việt.
Vì vậy:
Để bảo đảm trí thức và an sinh cho bản thân cũng như để góp phần vào công cuộc kiến thiết quốc gia, người công dân Việt-nam cần có một căn bản vững vàng về Việt-văn và một tri thức hữu dụng về Nho-văn.

ĐẠI CƯƠNG HỌC TRÌNH
A. LỚP CHỮ NHO – TỪ NGUYÊN HỌC
Là chương trình tiếp theo Lớp Vỡ lòng – Từ nguyên học.
Tiêu điểm:
- Nhận ra diễn trình Ý – Hình – Âm – Nghĩa trong mỗi chữ Nho.

- Học chữ Nho trong mối liên hệ giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan theo Đạo học Đông phương. Tương quan Nho – Y – Lý – Số.

- Chữ được học cùng với câu. Chữ lấy câu làm ngữ cảnh. Câu lấy chữ làm thành tố để truyền tải đạo lý.

- Hơn 80% từ vựng tiếng Việt có nguồn gốc là chữ Nho, vì vậy việc hiểu biết cấu trúc cùng ý nghĩa của những chữ Nho thông dụng và văn sách cũng chính là một phương cách hữu hiệu để cải thiện năng lực Việt ngữ.

Đối tượng học viên:
- Yêu thích chữ Nho, văn hoá dân tộc và minh triết Á – Đông.
- Hoặc đã qua lớp Vỡ lòng – Từ nguyên học tại Thư viện Huệ Quang.

B. LỚP NHO VĂN (SÁNG THỨ BẢY)
Tiếp theo chương trình Từ nguyên học. Là giai đoạn học vấn lấy Nho văn làm trọng tâm.
Tiêu điểm:
- Văn sử và kinh truyện là những chủ đề học tập. Qua đó, kẻ sĩ thực thụ chính là người học có tri thức chơn chánh và hữu dụng, là kẻ hiểu rõ và áp dụng những đạo lý cổ xưa nhưng luôn nghiệm đúng cho mọi thời đại.

- Văn liệu chọn lọc là yếu tố dẫn nhập người học cảm thụ văn thể một cách tự nhiên.

- Cấu trúc và ngữ nghĩa chữ Nho được trình bày trong tương quan Ý – Hình – Âm – Nghĩa và tương quan Nho – Y – Lý – Số như đã giảng thuật trong các lớp Từ nguyên học.

- Việc hiểu rõ chức năng của từ, từ ngữ, mệnh đề và cú pháp trong các đoạn Nho văn là điều thiết yếu để đọc được tàng thư Nho văn, viết được văn ngôn văn, đồng thời là yếu tố tích cực để cải thiện năng lực Việt-văn của học viên.
Đối tượng học viên:
- Biết qua về Hoa-ngữ, yêu thích Nho-văn và minh triết Á – Đông.
- Hoặc đã tham dự các khoá Từ nguyên học tại Thư viện Huệ Quang.

C. LỚP NHO VĂN (SÁNG CHỦ NHỰT)
Là chương trình lấy Văn – Sử – Y – Triết làm chủ đề học tập.
Tiêu điểm:
- Thâm nhập văn thể cổ văn (Đường luật, Tứ tuyệt, Sử Truyện, Sách, Ai Điếu, Tụng Tán, Kệ, Thần Tích, Bi, Ký, Tự, Từ, Kinh, v.v…) qua việc học tập các văn liệu đặc thù và tương ứng của tam giáo cửu lưu.

- Chủ đề là những sáng tác thời Tiên Tần và những tác phẩm hậu kỳ bằng chữ Nho thể hiện quan điểm nhập thế của Nho gia, vô vi của Đạo giáo và siêu thế của Phật pháp.

- Lãnh hội văn pháp chữ Nho bằng tư duy phân tích cú pháp – ngữ nghĩa trên các văn bản khảo sát.

- Lãnh hội nguyên lý Âm Dương trong thế tương quan Nho – Y – Dịch lý mà Nội Kinh là kinh văn cần thiết để học tập phương pháp dưỡng sinh.

- Tập cho quen với việc phiên dịch văn cú từ Nho văn sang Việt văn. Tập làm quen với việc diễn tả những ý tưởng luận lý hoặc cảm xúc bằng Nho văn.

- Gia tăng và làm kiên cố từ vựng chữ Nho theo tinh thần Từ nguyên học như đã chủ trương trong các giảng khoá trước.
Đối tượng học viên:
- Có lượng từ vựng phổ thông về Hoa-văn và yêu thích Đạo-học Đông-phương.
- Hoặc có sở cầu khảo sát Nho-văn và Đông-phương Y-học.

-------------
- Thời gian đăng ký: Từ ngày ra thông báo đến hết Thứ 5, ngày 10/09/2026 (29/07 AL)
- Thông tin chi tiết liên hệ Phòng đọc Thư viện Huệ Quang
- Địa chỉ: 116 Hòa Bình, Hòa Thạnh, Tân Phú, TP. HCM
- Sđt/zalo: 097 101 8292 (Ngọc Hà)

Address

116 Hòa Bình, P. Hòa Thạnh, Q. Tân Phú
Ho Chi Minh City
7000

Opening Hours

Monday 07:00 - 20:00
Tuesday 07:00 - 20:00
Wednesday 07:00 - 20:00
Thursday 07:00 - 20:00
Friday 07:00 - 20:00
Saturday 07:00 - 20:00
Sunday 07:00 - 17:00

Telephone

+84 167 642 9465

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thư Viện Huệ Quang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Thư Viện Huệ Quang:

Shortcuts

Share