25/09/2016
Chúng sanh có 6 loại căn tánh : 1. Dục tánh (Tham) 2. Nộ tánh (Sân) 3. Độn tánh (Si) 4. Đãng tánh (Tầm) : buông cái này bắt cái kia, không theo đuổi đến cùng 1 thứ gì mà nay theo cái này, mốt theo cái kia … 5. Mộ tánh (Tín) : đức tin, sùng mộ, thần tượng … 6. Ngộ tánh (Giác)
“ LỤC ĐẠI CHÂN KINH “
1. Kinh Chánh Xuất Gia dành cho hạng chúng sanh Dục Tánh
2. Kinh Tranh Luận dành cho hạng chúng sanh Nộ Tánh
3. Kinh Mặt Trận Lớn (Những Vấn Đề Lớn) dành cho hạng chúng sanh Độn Tánh
4. Kinh Mặt Trận Nhỏ (Những Vấn Đề Nhỏ) dành cho hạng chúng sanh Đãng Tánh
5. Kinh Con Đường Mau Chóng dành cho hạng chúng sanh Mộ Tánh
6. Kinh Trước Khi Hủy Hoại (Chuyện Phải Làm Trước Khi Chết) dành cho hạng chúng sanh Ngộ Tánh
- Người hỏi (hóa thân Phật) : “ Tôi hỏi bậc ẩn sĩ, Có trí tuệ rộng lớn, Ðã vượt qua bờ kia, Tịch tịnh, tự an trú. Làm sao một Tỷ-kheo, Bỏ nhà, bỏ các dục, Lại có thể chơn chánh Du hành ở trên đời? “
- Tỳ kheo nguyên thủy thì không nhà, không tài sản, sống tùy duyên, ăn thì đi khất thực không có tích trữ đồ ăn, bệnh thì tìm thuốc uống cũng không có tích trữ thuốc men, việc xong phủi tay, phủi chân ngồi xuống hành thiền …
- Kinh Bẩy Mồi – Trung Bộ Kinh, 4 bày nai ám chỉ tương ứng 4 loại tỳ kheo : 1. Bày nai u mê, tham ăn (loại Tỳ Kheo hám danh lợi) 2. Bày nai này không ham mồi như bày nai số 1, nhưng đi vô chỗ hoang vắng không bóng người, đến khi đói khát rã rời quay trở lại thì mất cảnh giác để sập bẩy (loại Tỳ kheo tránh đời 1 cách cực đoan đến khi quá thiếu thốn, quá khó khăn phải quay trở lại thì lại thọ nhận thiếu cảnh giác) 3. Khôn hơn 2 bày trên, không tham mồi, không trốn tránh cực đoan, tiếp cận thức ăn cũng cẩn thận, nhưng chỗ trú của chúng chưa nằm ngoài vùng nguy hiểm (ám chỉ loại Tỳ kheo thọ dụng có cảnh giác, tránh đời cẩn thận không cực đoan, nhưng vẫn còn nằm trong vùng nguy hiểm của buồn vui thế tục, của ân oán tình thù …) 4. Bày nai này không ham mồi như bày số 1, không trốn tránh cực đoan như bày số 2, và có chỗ tránh thân náo mình nằm ngoài vùng nguy hiểm (ám chỉ loại tỳ kheo không có thọ nhận 1 cách đắm đuối chủ quan, cũng không lánh thế trốn đời 1 cách cực đoan, đến đi trong chừng mực, cảnh giác và chỗ trú thân nằm ngoài vùng nguy hiểm)
- Thế Tôn: “ Ai nhổ lên điềm lành, Như vậy, Thế Tôn đáp Các sao băng mộng mị, Và các tướng lành dữ, Vị ấy đoạn trừ được, Các lỗi lầm điềm lành; Tỷ kheo ấy chơn chánh Du hành ở trên đời. “
- Ngoại trừ hạnh phúc theo tinh thần bài kinh Mangalasutta tất cả những thứ gọi là hạnh phúc ở đời đều đáng bị xét lại hết. (hạnh phúc nhân quan trọng hơn loại hạnh phúc quả)
- “ vị tỳ kheo nào biết bỏ đi nhận thức theo thế gian đời thường về sự buồn vui, những điềm báo lành dữ … để chọn đời sống đạo thì có thể du hành trên đời 1 cách chơn chánh ” ~ nhận thức về buồn vui của vị tỳ kheo này không phụ thuộc vào những ước lệ, mặc định của thế gian, ví dụ, “sở hữu không bằng cho ra”, “ dừng chân không bằng lìa bỏ “, “ tình thân chỉ là 1 gánh nặng “ … những suy nghĩ đi ngược dòng đời
- Đừng “đi tìm hạnh phúc, lý tưởng sống chỉ bằng vào những điều kiện mình đang có “ - Đừng sống mà chỉ dựa vào quan điểm tốt xấu, lối mòn của dân gian . “ điều tầm bậy thì dầu 1 tỷ người ủng hộ thì nó vẫn là bậy, điều đúng thì dù không ai chấp nhận thì nó vẫn cứ đúng “
- 3 loại người : 1. Lấy mình làm trọng 2. Lấy đời làm trọng 3. LẤY PHÁP LÀM TRỌNG - việc làm phù hợp với pháp là : ‘có lợi cho mình, lợi cho người, đời này kiếp khác hay không?‘
- Nội dung bài kệ có thể hiểu tóm tắt như vầy : “ tỳ kheo sống du hành ở đời không chạy theo những giá trị mặc định của thế gian mà mọi sự y cứ trên tinh thần của chánh pháp “
- “ khoa học là thử và sai, là nhìn lại và nghi ngờ , là sự nhìn lại con đường dưới chân “