28/05/2018
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý VỀ HỌ NẤM LINH CHI GANODERMATACEAE CỦA VIỆT NAM
TRỊNH TAM KIỆT
Viện Vi sinh vật & Công nghệ Sinh học
Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Nấm đã và đang có vai trò quan trọng trong hành tinh chúng ta. Chúng làm biến đổi môi trường sống của chúng ta và không thể thiếu được trong nhiều chức năng của hệ sinh thái. Nấm hình thành đất, góp phần khép kín vòng tuần hoàn vật chất, tăng cường sự mọc cho cây và lựa chọn cây từ môi trường của chúng. Chúng phá hoại mùa màng, cây công nghiệp, cây gỗ trong rừng, nhà cửa … Chúng gây ngộ độc, ký sinh trên cơ thể người và động vật, xong cũng sản sinh ra các sản phẩm sinh hóa quý giá như rượu, bia, đồ uống, các chất kháng sinh và các chất có hoạt tính sinh học giúp tăng cường sức khỏe, chống lại các bệnh hiểm nghèo. Chính vì thế, về cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, nấm đều có ý nghĩa to lớn và được chú ý ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặcbiệt là các nước công nghiệp phát triển. Trong số các loài nấm lớn (Marco fungi) nấm Linh chi thuộc họ Ganodermataceae có vai trò đặc biệt quan trọng. Chúng tôi xin nêu ra một số điểm cần lưu ý trong nghiên cứu và phát triển nấm Linh chi của Việt Nam.
I. Hệ thống học
Theo thống kê của J.M.Moncalvo và L.Ryvarden (1997) đã có 386 danh pháp loài được dẫn ra cho họ nấm Ganodermataceae, trong đó 6 tên là không hợp pháp (illegitimate), 17 taxon đã bị loại ra khỏi Ganodermataceae và 27 tên vẫn được gọi là tên đa nghĩa (nomen ambigum) nên bị loại bỏ. Còn lại 336 tên loài đã được phân loại sơ bộ như sau:Nhóm Ganoderma: 166 tên (trong đó 48 tên được đề nghị là synonym trong các nghiên cứu trước đây); Nhóm Elfwingya: 51 tên (trong đó 21 tên đã được đề nghị là synonym);Nhóm Amauroderma: 96 tên (trong đó 41 tên được đề nghị là synonym);Nhóm Humphreya: 10 tên ( trong đó 3 tên được đề nghị là synonym);Nhóm Haddowia: 5 tên (trong đó 2 tên được đề nghị là synonym)và còn 5 tên chưa được phân loại.
Như vậy nếu 116 được đề nghị coi như synonym là chính xác, thì chỉ còn lại 220 “loài”được xem như là được công nhận trong họ Ganodermataceae. Hầu hết các tên gọi được biết chỉ có ở vị trí chuẩn và các vùng lân cận.
Theo P.M.Kirk vầ các tác giả khác (2008) họ Ganodermataceae Donk(1948) chỉ gồm 117 loài với 4 chi (+9 synonym );trong đó Ganoderma P.Karst.( 1881) có khoảng 80 loài phân bố khá rộng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới; chi Amauroderma Murill (1905) có khoảng 30 loài, phân bố rộng ở vùng nhiệt đới, Haddowia Steyaert (1972 ) có 3 loài phân bố rộng (liên nhiệt đới );Humphreya Steyaert (!972) có 4 loài nhiệt đới.
Khi nghiên cứu họ Ganodermataceae ở Trung Quốc, Zao Zi-Ding (1989) đã công bố 86 loài, trong đó Ganoderma có 62 loài, Amauroderma có 20 loài,Humphreya có 3 loài và Haddowia có 1 loài (trong đó có rất nhiều loài đặc hữu và theo nghĩa hẹp).
Ở Việt Nam họ Ganodermataceae cũng đã được chú ý từ lâu.Trong các công bố của Lê Xuân Thám (2005) đã công bố 28 loài Ganoderma, 7 loài Amauroderma cùng với 2 loài đề nghị là mới và 9 loài chưa xác định tên khoa học. Gần đây trong sách “Nấm lớn của Việt Nam”(Trịnh Tam Kiệt,2011,2012,2013) và Danh lục Nấm lớn Việt Nam (Trịnh Tam Kiệt,2014) chúng tôi đã dẫn ra danh lục họ Ganodermataceae của Việt Nam với 85 loài,trong đó Ganoderma có 64 loài, Amauroderma có 17 loài, Haddowia có 2 loài, Humphreya có 1 loài và Tomophagus có 1 loài.Nếu kể cả một số loài chưa định tên khoa học, một số loài được đề nghị là loài mới thì số loài nấm trong họ Ganodermataceae của Việt Nam chắc sẽ nhiều hơn của Trung Quốc.
Cần phải nhấn mạnh ở đây là tài nguyên Nấm Linh chi của Việt Nam hết sức phong phú,chẳng những giầu về thành phần loài, mà còn đa dạng về dạng sống.Có những loài đạt kích thước khổng lồ và có trữ lượng rất lớn cần được bảo tồn và khai thác hợp lý.Có thể kể làm ví dụ như những mẫu nấm thu được ở Tây Nguyên hay vùng rừng núi Bắc Bộ thuộc Ganoderma lucidum complex va Ganoderma australe complex.Để xác định được chính xác tên khoa học và bảo tồn nguồn gen của chúng ta cần tiến hành các nghiên cứu nghiêm túc và có đầu tư lớn hơn.
II. Giống thuần khiết
Bên cạnh việc thu mẫu vật khô hay ngâm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu thành phần loài, việc phân lập giống thuần khiết và bảo tồn trong Bộ lưu trữ giống gốc (culture collection) cũng được tiến hành tại một số Trường Đại học,Viện và Trung Tâm nghiên cứu cũng như doanh nghiệp tư nhân. Chúng ta có hàng trăm chủng giống nấm Linh chi thuần khiết được phân lập tại các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam. Ngoài ra còn một lượng đáng kể các chủng Nấm linh chi của nước ngoài cũng được nhập vào Việt Nam theo những con đường khác nhau.Viêc quản trị, bảo tồn và định danh chúng còn chưa được tiến hành thống nhất và chuẩn xác.Tình trạng lẫn giống, thoái hóa giống đã và đang diễn ra.Đã đến lúc việc thành lập và đi vào hoạt động của một Bảo tàng giống Nấm nói chung và Nấm linh chi nói riêng là một đòi hỏi bức thiết.Nếu được thiết lập, đấy sẽ là nơi lưu giữ và bảo tồn nguồn gen Nấm của Việt Nam, là nơi giám định, chọn tạo các chủng nấm mới phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phát triển nghề trồng Nấm ăn và nấm dược liệu trong cả nước.
III. Các chất có hoạt tính sinh học
Việc nghiên cứu các chất có hoạt tính sinh học và tác dụng dược lý của Linh chi Việt nam cũng được tiến hành. Các nghiên cứu đầy đủ và bài bản về Linh chi đỏ của Việt Nam hầu như còn chưa được chú ý đúng mức. Gần đây mới xuất hiện một số nghiên cứu lẻ tẻ về Linh chi mang tính cách định tính và định lượng bước đầu về polysaccharid và terpenoit ở Linh chi Việt Nam. Hàm lượng hoạt chất một số chủng Linh chi G.lucidum ở Việt nam bao gồm Polysaccharid cao nhất là 4,610 ở Linh chi lim hoang dại; 2,950 ở Đà lạt nuôi trồng và thấp nhất 2,640 ở Đà Lạt hoang dại; Adenosine cao nhất là 0,024 ở ĐL nuôi trồng, 0,010 ở ĐL hoang dại và thấp nhất là 0,004 ở LC lim hoang dại; Triterpenoid cao nhất ở ĐL nuôi trồng là 0.820, sau đó đến DL hoang dại là 0.740 và thấp nhất ở LC hoang dại là 0,680 hàm lượng trong quả thể khô (% chất khô). Trần Thị Vân Thi và các tác giả khác (2012) đã xác định hàm lượng Polysaccharid là 4.57% trọng lượng khô quả thể và hàm lượng triterpenoid là 5.47% trọng lượng dịch chiết khô nấm.
Những nghiên cứu trong khuôn khổ hợp tác quốc tế với CH Liên bang Đức và Nhật Bản về nấm Linh chi Hải Miên (Tomophagus colossus) đã chỉ ra hàng loạt các hợp chất Colossolactone mới cho khoa học và có hoạt tính sinh học rất cao. Những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ khác cũng đã được tiến hành ở Ganoderma resinaseum và ngay cả Linh chi đa niên vỏ cứng Ganoderma australe. Các chất có hoạt tính sinh học quan trọng nhất là β – D glucan, Ganoderic acid, Lucideric acid, Applanocidic acid, Australic acid, Lanostan…
Chúng có tác dụng dược lý hết sức quý báu bao gồm: chống oxi hóa, chống viêm, phòng chống ung thư, ức chế giải phóng histamin, hạ cholesterol trong máu, tăng cường đáp ứng miễn dịch, sinh tổng hợp protein, acid nucleic, kìm hãm hyaluronidases, chống virus, thải xạ… Chúng mở ra khả năng to lớn trong việc sử dụng các loài nấm Linh chi trong Y – Dược, góp phần bảo vệ sức khỏe và tăng tuổi thọ cho con người.
IV. Những nghiên cứu về sinh lý phát triển và Công nghệ nuôi trồng Nấm Linh chi
Các nghiên cứu về sự mọc, sự hình thành quả thể của các chủng nấm Linh chi Việt Nam, cũng như nhập ngoại đã được tiến hành ở các trường đai học, các viện, trung tâm nghiên cứu. Các điều kiện tối ưu cho sự mọc và sự hình thành quả thể của một số chủng nấm Linh chi đã được chỉ ra. Một số quy trình công nghệ đã được ứng dụng trong sản xuất tại một số cơ sở trong nước. Tuy vậy, những nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng nấm và năng xuất, về nấm bệnh và đặc biệt là khả năng bảo quản quả thể nấm Linh chi trong một thời gian dài còn được tiến hành rất ít và chưa được làm sáng tỏ.
Cũng cần phải nói thêm rằng việc nghiên cứu các chủng nấm Linh chi có kích thước quả thể lớn cũng như việc nuôi trồng các loài cổ Linh chi mới chỉ được bắt đầu và còn gặp phải rất nhiều khó khăn.
V. Tài liệu tham khảo
1. Lê Xuân Thám. Nấm Linh chi Ganodermataceae Tài nguyên dược liệu quý ở Việt Nam. 2005, NXB Khoa học Kỹ thuật.
2. Trần Thị Vân Thi, Nguyễn Thi Hoài, Lê trung Hiếu.Chiết xuất, xác định hàm lượng và khảo sát tác dụng dược lý của phân đoạn Polysaccharid từ nấm Linh chi nuôi trồng tại Thừa Thiên-Huế.2012.Tạp chí Dược học.Trang 18;22.
3. Trịnh Tam Kiệt (2011, 2012, 2013), Nấm lớn ở Việt Nam - Tập 1, Tập 2, Tập 3. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội
4. Trịnh Tam Kiệt. Danh lục nấm lớn ở Việt Nam. 2014, NXB ĐHQG Hà Nội.
5. Bao,Trinh Thi Tam.2008.Response ò human leukemia ceii upon treatement with bioactive extracts from tropical medicai mushrooms,Dissertation Dr.rer.nat. Jena,Germany.
6. Kirk P. M., P. E. Connon, D. W. Minter and J. A. Stalpers (2008), Dictionary of the Fungi, Tenth Edition CABI Europe-UK.
7. J.M. Moncalvo & L. Ryvarden. A Nomenclatural Study of the Ganodermataceae Donk. 1997 Oslo, Norway.
8. Peter Kleinwächter, Ngo Anh, Trinh Tam Kiet, Brigitte Schlegel, Hans-Martin Dahse, Albert Härtl, andUdo Gräfe. Colossolactones, New Triterpenoid Metabolites from a Vietnamese Mushroom Ganoderma colossum. J. Nat. Prod., 2001, 64 (2), pp 236–239
9. Trinh Tam Kiet, Trinh Tam Bao, B. Albrech, D. Henrich (2007), New records and new Taxa of Vietnam’s Macro Fungi and their ecological characteristics, Procceedings ICCC11: 200, Goslar, Germany.
10. Trinh Tam Kiet, Doan Van ve, C.Pfeiffe, Trinh Tam Bao and C. Hertweck.
Inhibitory Effects of Several Flavonoids and Triterpenes on the Activities of Hyaluronidases. 2004, J. Genetics and Applications – Special Issue: Biotechnology. 64-69.
11. Zhao Ji-Ding. The Ganodermataceae in China. 1989 Berlin Stuttgart.