Southern Institute of Ecology - SIE

Southern Institute of Ecology - SIE

SIE is a member institute of VAST. research in biodiversity, tropical biological resources and southern Vietnam-typical ecosystems, and providing training in ecology, biological resources and other related areas.

Mission: The main functions of SIE are: 1. Research in structure and function of ecosystems, autoecology, population ecology and human ecology. 2. Research in fauna and flora in southern provinces, discovery of new species, evaluation of the threatened plants, animals, fungi and their genetic resources, and proposal of measures for their restoration and development. 3. Research in impacts of climate change to biodiversity and measures to reduce and anticipate the impacts. 4. Research and evaluation of biological resources in terrestrial and aquatic ecosystems and measures for sustainable management and use of ecosystems and biological resources. 5. Discovery and research of sensitive ecosystems, predicting ecological succession and providing measures of reasonable use, renovation, and restoration. 6. Education and raising awareness of biodiversity and sustainable development. 7. Scientific and technological services in ecological and biological resource fields. 8. Trainings and capacity building for researchers in ecology; international cooperation in ecology and biological resources.

Operating as usual

Hưởng ứng CHIẾN DỊCH LÀM CHO THẾ GIỚI SẠCH HƠN 19-20/9/2020
“Every small action makes a world of difference” – "Cùng hành động để thay đổi thế giới"
🌱🌿🌳🍂🌾

[11.9.2020]

🍬Đại sứ quán Anh thông báo chương trình học bổng toàn phần bậc Thạc sỹ tại Vương quốc Anh năm 2021/22 (Học bổng Chevening) đã bắt đầu nhận hồ sơ.

👍Liên hệ và tìm hiểu thông tin chi tiết tại Facebook "UK in Vietnam"
https://www.facebook.com/ukinvietnam/posts/10157680604275544

#shine

[09.09.2020]

Đố các bạn: Đây là cây gì 😜

#shine
#sie_thang9_2020
#collection_sie

[06.09.2020] Đừng rời xa em ^^ *ôm ôm* ❤️❤️❤️ Cre: alohaimamy #shine #sie_thang9_2020 #collection

[07.08.2020]

Chú Hải cẩu này nết na như một chú cẩu 😅
Cre video: alohaimamy

#shine
#sie_thang9_2020
#collection

[05.09.2020]

Những vai trò và chức năng dễ nhận thấy nhất của cây rừng ngập mặn 👌

#shine
#sie_thang9_2020
#collection

[04.09.2020]

1 cá thể Già đẫy đang được chăm sóc tại Trạm cứu hộ động vật Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát

#shine
#collection_sie
#sie_thang9_2020

[03.09.2020]

Tình bạn không phân biệt giống loài 💞

#shine
#collection
#sie_thang9_2020

[08/31/20]   LỜI CHÀO THÁNG 9

Xin chào mọi người.

Mình là admin mới của page Viện Sinh thái học miền Nam - SIE. Từ hôm nay sẽ bắt đầu phụ trách cập nhật và chia sẻ các tin tức trên page.

Mong sẽ tiếp tục nhận được sự theo dõi và ủng hộ của các bạn.

Mọi ý kiến đóng góp xin hãy inbox về page.
Cảm ơn tất cả mọi người 🤗🤗🤗

#shine
#thongbao_sie
#sie_thang9_2020

[08/04/20]   Loài heo vòi (Tapirus indicus) thực sự phân bố ở Việt Nam hay không?

Theo Sách đỏ Việt Nam – Phần Động vật (2007) thông tin về phân bố của Heo vòi được tóm lược như sau: “Trước đây một số tài liệu có nói đến việc săn bắt được Heo vòi ở bắc Trung Bộ và Nam Bộ. Nhưng cho đến nay vẫn chưa phát hiện được vùng cư trú. Có thể loài này đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam.” và “Những năm gần đây nhân dân một số vùng Gia Lai, Kon Tum (Mo Ray, Ta Pốc, Kon Hà Nừng), Đắk Lắk (Đắk Nông), cho biết có gặp Heo vòi, nhưng những thông tin đó còn chưa được xác định cụ thể. Có thể Heo vòi đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam.” Vậy, câu hỏi được đặt ra là loài Heo vòi thực sự đã từng phân bố ở Việt Nam hay không?

Để trả lời câu hỏi này, cần tìm lại những thông tin gốc xác nhận loài này ở Việt Nam. Có tài liệu khoa học chính thức nào công bố về sự hiện diện của loài Heo vòi ở Việt Nam hay không? Thông tin gần nhất mà loài Heo vòi còn tồn tại ở Việt Nam là năm nào? Quay lại với Sách Đỏ Việt Nam - Phần Động vật liệt kê 4 tài liệu tham khảo số 43 (Đặng Huy Huỳnh 1986), số 67 (Ellerman and Morrison - Scott, 1951), số 85 (IUCN, 1988) và số 137 (Sokolov và cộng sự, 1997). Trong 4 tài liệu này, tài liệu xưa nhất của Ellerman and Morrison-Scott (1951) cho rằng loài Tapirus indicus phân bố bán đảo Malaysia lên đến vùng giáp biên giới giữa Miến Điện và Thái Lan (Burma – Siam) khoảng vỹ tuyến 18, không nhắc đến vùng Việt Nam hoặc rộng hơn là Đông Dương. Các tài liệu còn lại chỉ đề cập đến loài này ở Việt Nam hoặc chi tiết hơn, Gia Lai nhưng không cung cấp thêm chi tiết hữu ích nào để khẳng định. Trên bản đồ cũng trong SĐVN (2007), 2 địa điểm ghi nhận loài này tương ứng với vùng Ea Sup (Dak Nông) và tỉnh Quảng Bình mà không có vùng Gia Lai. Một tài liệu quan trọng khác của van Peenan và cộng sự (1969) thống kê và mô tả các loài thú ở Nam Việt Nam cũng không đề cập đến loài Heo vòi.

Bây giờ, thử tìm hiểu các đánh giá quốc tế về Heo vòi ở Việt Nam. Trong Báo cáo Hội thảo bảo tồn loài Heo vòi năm 2003 (Medici và nnk 2003) có nhắc đến Việt Nam nhưng bản đồ phân bố của loài không có điểm phân bố nào ở Việt Nam. Hai điểm có ở Đông Dương là ghi nhận ở Bassac (Champasak - Lào) năm 1902 theo tài liệu của Cheminaud (1939) và ở Bokor (Cambodia) năm 1995 (1998?) dựa vào thông tin về dấu chân do Henrik Juul cung cấp. Trong tài liệu đánh giá tình trạng các loài thú lớn vùng Đông Dương (Duckworth & Hedges, 1998), các tác giả không tìm thấy bất cứ bằng chứng chắc chắn nào khẳng định Heo vòi còn tồn tại ở vùng này. Trần Hồng Việt (1990) trong bài báo về Danh sách các loài Thú của tỉnh Gia Lai – Kon Tum ghi nhận heo vòi ở Pleiku theo thông tin của Hoàng Quốc Trương trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 17/6/1976 về 1 sọ heo vòi thu được ở Pleiku và lưu giữ ở Sở Thú Sài Gòn. Mặc dù không tìm được bài báo này, cá nhân tôi cho rằng Tiến sỹ Hoàng Quốc Trương là một nhà khoa học và cũng là một Linh mục nên thông tin ông công bố chắc có nguồn khả tín. Cũng theo Duckworth và Hedges, vào năm 1997 có một nguồn tin báo cho Cục Kiểm lâm về xự xuất hiện của Heo vòi nhưng khi đoàn khảo sát đến chỉ phát hiện xác chết một chú voi con với bùn khô trên lưng (theo lời kể của Ông Phạm Mộng Giao). Meijaard và van Strien (2003) có đề cập thông tin Heo vòi từng bị săn ở Hớn Quản (=Hongquan, tỉnh Bình Phước ngày nay) khoảng những năm 1940 và ở Kon Tum khoảng năm 1950 nhưng không dẫn nguồn cụ thể. Tuy vậy, trong Nghị định về săn bắn các loài được bảo vệ và bảo tồn ngày 12 tháng 10 năm 1936 của chính quyền Liên Bang Đông Dương có tên của loài Heo vòi. Tuy vậy, trên toàn Đông Dương, chỉ ghi nhận 2 trường hợp săn heo vòi trong vòng 30 năm (Bureau Officiel du Tourisme Indochinois, 1937) nhưng không ghi rõ địa điểm. Có thể thấy, thông tin từ những tài liệu khoa học trong thế kỷ XX đều là thứ cấp và không cho biết cụ thể về loài Heo vòi, nhưng sự tồn tại của loài này là có cơ sở.
Khẳng định này được củng cố bởi các nghiên cứu về cổ sinh vật ở Việt Nam. Hóa thạch của loài Heo vòi đã được tìm thấy ở Việt Nam tại địa điểm Hang Đười Ươi, tỉnh Hòa Bình (tuổi hóa thạch khoảng 63.000 năm trước ~ 63 ± 3 Ka) và một loài Heo vòi khác đã tuyệt chủng từ xa xưa (tên khoa học là Tapirus †augustus) cũng tìm thấy tại Hang Thẩm Khuyên (tuổi hóa thạch 475 ± 125 Ka) và Hang Kéo Lèng (tuổi hóa thạch 20-30 Ka) cùng thuộc tỉnh Lạng Sơn (Bacon và cộng sự 2008, Cranbrook & Piper 2013).
Như vậy, có thể khẳng định rằng, loài Heo vòi Tapirus indicus từng phân bố ở Việt Nam và khả năng đã tuyệt diệt như Sách đỏ Việt Nam đề cập. Nhóm chuyên gia về Heo vòi của IUCN vẫn hy vọng loài này còn tồn tại vùng Nam Ray (Chư Mom Ray?). Riêng tôi vẫn mong rằng trong vùng rừng núi thâm u giữa biên giới Việt – Miên – Lào, những cá thể Heo vòi còn lại vẫn lang thang kiếm ăn giữa các thung lũng hẹp hay đầm mình trong vũng sình giữa những ngày gió lào nóng rát (lãng mạng quá chăng?). Nếu các nhà khoa học chỉ biết đến loài Saola năm 1992, tại sao chúng ta không hy vọng Heo vòi vẫn còn đâu đó trong những cánh rừng nguyên sinh còn sót lại, hoặc ở một buôn làng hẻo lánh nào đó vẫn có người thấy chúng. Nhiệm vụ của những người yêu thiên nhiên là cố gắng góp sức bảo tồn những cánh rừng còn lại của đất nước.

Tài liệu tham khảo
Arrete No. 4790 du Octobre 1936 Sur gibiers protégés et réservés.
Bacon A-M, Demeter F, Duringer P et al. (2008). The Late Pleistocene Duoi Uoi Cave in northern Viet¬nam: palaeontology, sedimentology, taphonomy and palaeoenvironments. Quaternary Science Reviews 27, 1627–54.
Bộ TN-MT và Viện KHCNVN (2007). Sách đỏ Việt Nam: Phần 1. Động vật. NXB KHTN và CN, Hà Nội.
Bureau Officiel du Tourisme Indochinois (1937). Les grandes chasses en Indochine. A l'occasion de l'exposition Internationale de Paris. \
Cranbrook E. & Piper P.J. (2013). Palaeontology to policy: The Quaternary history of Southeast Asian tapirs (Tapiridae) in relation to large mammal species turnover, with a proposal for conservation of Malayan tapir by reintroduction to Borneo. Integrative Zoology 8: 95–120.
Đặng Huy Huỳnh (1986). Sinh học và Sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam. NXB. KH và KT Hà Nội.
Duckworth, J.W. & Hedges, S. (1998). Tracking tigers: A review of the status of Tiger, Asian elephant, Gaur and Banteng in Vietnam, Lao, Cambodia and Yunnan (China), with recommendations for future conservation action. Hanoi. WWF Indochina Programme.
Duckworth, J. W., Salter, R. E. & Khounboline, K. (1999). Wildlife of Lao PDR: 1999 status review. Vientiane: IUCN/WCS/CPAWM.
Ellerman J.R & Morrison - Scott T.C.S. (1951). Check list of Palearctic and Indian Mammals. British Mus Nat. Hist, London.
IUCN (1988). Red List of Threatened Animals. The IUCN conservation Monitoring Center.
Medici E.P., Lynam A., Boonratana R., Kawanishi K., Hawa Yatim S., Traeholt C., Holst B., & Miller P.S. (eds.) (2003). Malay Tapir Conservation Workshop. Final Report. IUCN/SSC Conservation Breeding Specialist Group, Apple Valley, MN, USA.
Meijaard E. & Strien N. V. 2003. The Asian Tapir (Tapirus indicus). In: Briefing Book, Malay Tapir Conservation Workshop. Krau Wildlife Reserve, Malaysia.
Sokolov V.E, Rozhnov V.V, Phạm Trọng Ảnh (1997). Loài cầy mới giống Viverra ở Việt Nam. Tạp chí động vật (tiếng Nga): 5: 585-589.
Trần Hồng Việt (1990). Danh sách các loài thú tỉnh Gia Lai – Kon Tum. Tạp chí Sinh học 12(2): 16 – 22
van Peenen P.F.D., Ryan P.F., Ligh R.H. (1969). Preliminary Identification Manual for Mammals of South Vietnam. Smithsonian Institute, Washington DC.

Cuộc thi ảnh "Giá trị Rừng ngập mặn Cần Giờ" do Viện sinh thái học miền Nam và Ban Quản lý Rừng Phòng Hộ Cần Giờ phối hợp tổ chức.
Tổng giá trị giải thưởng lên đến 50.000.000 đồng.
Thời gian nhận ảnh đăng kí dự thi từ 3/6 -20/7/2020.
Mời các bạn tham gia!

Bình minh lên trên RNM Cần Giờ ❤️

✌️Du lịch - khám phá - Chụp ảnh - Dự thi và Nhận thưởng✌️

Page up Link download Thể lệ và mẫu đăng kí dự thi Cuộc thi ảnh "GIÁ TRỊ RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ" ở đây:

https://sie.vast.vn/posts/399-thong-bao-cuoc-thi-anh-gia-tri-rung-ngap-man-can-gio.vi

Tổng giá trị giải thưởng lên đến 50.000.000 đồng.
Thời gian nhận ảnh: 3-6 đến 20/7/2020.

Mời cả nhà đọc kỹ thể lệ, giải thưởng và download mẫu đăng kí tham gia nhé!

nationalgeographic.com

Fanged mouse-deer identified after vanishing for a generation

https://www.nationalgeographic.com/animals/2019/11/silver-backed-chevrotain-mouse-deer-reappears-vietnam/

nationalgeographic.com A small group of silver-backed chevrotains, tiny deer-like creatures, has been photographed in a Vietnamese forest after an intense search.

globalwildlife.org

FOUND: Miniature Fanged ‘Deer’ Rediscovered Tiptoeing Through Vietnam’s Coastal Forests - Global Wildlife Conservation

globalwildlife.org First-ever photos of Silver-backed Chevrotain confirms the first rediscovery of a lost mammal on GWC's ‘most wanted’ list.

Đâu đó trên quê hương Miền Nam vẫn còn "đất lành" cho bầy Giang sen cư ngụ.
Photo: Vũ Ngọc Long

The Annamese langur (Trachypithecus margarita) was described in 1909 but its ecology, including its feeding behaviour, is still largely unknown. Based on current knowledge of feeding ecology of many Asian langurs, T. margarita is expected to be a generalist herbivore, with seasonal variation in diet. Feeding behaviour of one habituated group of Annamese langurs at Takou Mountain was studied from October 2009 to September 2011. The dietary pattern of these langurs was found to be similar to other Trachypithecus species, which is characterised by a high amount of leaf consumption (54.4% immature leaves, 7.1% mature leaves) and complemented by fruits (29.9%). The Annamese langurs ate plant parts from 31 species belonging to 20 families on Takou Mountain where 689 plant species were known for the mountain. Moraceae is the most important family in the langur’s diet with at least 10 species consumed and accounting for 41.1% of feeding time. Based on the current and previous feeding studies of Trachypithecus species, it could be concluded that the genus is a generalist folivore and the dietary pattern is similar among species.

Bốn loài Chó hoang dã được ghi nhận phân bố ở Việt Nam bao gồm Sói đỏ Cuon alpinus, Chó rừng Canis aureus, Cáo lửa Vulpes vulpes và Lửng chó Nyctereutes procyonoides. Ngoại trừ loài Sói lửa, các loài còn lại có vùng phân bộ rộng trên thế giới và mức độ bảo tồn theo danh lục các loài bị đe dọa của IUCN được đánh giá là Ít quan tâm. Lo ngại về số ghi nhận ít ỏi của các loài này trong những năm gần đây ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh suy giảm nhanh chóng các quần thể thú nói chung, chúng tôi thực hiện việc rà soát tình trạng của các loài thuộc Chó hoang dã ở Việt Nam. Tất cả các ghi nhận có thể kiểm chứng và truy nguyên từ ngày 1 tháng Giêng năm 2012 đến 31 tháng 12 năm 2018 được tập hợp và đánh giá. Loài Sói đỏ từng có vùng phân bố rộng nhất trong họ Chó ở Việt Nam, và loài Lửng chó, từng phân bố rộng rải ở Miền Bắc Việt Nam, dường như cả hai đều suy giảm; Loài Sói lửa đã tuyệt diệt hoặc gần tuyệt diệt, trong khi tình trạng loài Lửng chó là không chắc chắn. Đối với loài Chó rừng, không có ghi nhận khả tín nào ở ngoài tự nhiên từ năm 2004, mặc dù loài này vẫn còn khả năng phân bố ở một số vùng. Cáo lửa là loài duy nhất còn được ghi nhận nhưng tình trạng quần thể hiện không rõ ràng. Tóm lại, không có quần thể khỏe mạnh của bất cứ loài nào nêu trên tồn tại ở Việt Nam. Sự suy giảm này dường như do việc săn bắn các loài chó hoang dã cũng như thức ăn của chúng, như trường hợp Sói lửa, và trầm trọng thêm bởi tình trạng mất sinh cảnh.

Chà vá chân đen

Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) hay Voọc ngũ sắc là loài đặc hữu Đông Dương, chỉ phân bố ở phía đông sông Mê Công trên lãnh thổ 2 nước Cambodia và Việt Nam. Tuy không "rực rỡ" bằng người anh em chà vá chân nâu, chà vá chân đen có da mặt màu xanh dương đặc trưng, hai mắt có viền màu cam và ... con đực dương vật màu đỏ tươi.

Voọc bạc trên núi đá vôi Kiên Giang

Voọc bạc đông dương (Trachypithecus germaini) hay còn gọi Lọ nồi là một trong những loài linh trưởng nguy cấp, phân bố phía Tây sông Mê Công, trải rộng từ Đồng bằng sông Cửu Long đến vùng núi Cardamom (Cambodia) qua đến Thái Lan và Miến Điện và lên đến vùng Hạ Lào. Loài này sinh sống ở nhiều sinh cảnh bao gồm rừng trên núi đá vôi, rừng thường xanh, rừng ven sông, hồ (Tonle Sap), rừng tràm và rừng ngập mặn.

Cùng tham gia nhé các bạn!

Phyllagathis phamhoangii (Sonerileae, Melastomataceae), a new species from central Vietnam | PHAM | Phytotaxa

https://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.314.1.15

biotaxa.org Phyllagathis phamhoangii (Sonerileae, Melastomataceae), a new species from central Vietnam

Siliquamomum phamhoangii , a new species of Zingiberaceae from the Central Highlands, Vietnam | TRƯỜNG | Phytotaxa

https://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.314.1.14

biotaxa.org Siliquamomum phamhoangii , a new species of Zingiberaceae from the Central Highlands, Vietnam

New taxa of Peliosanthes and Tupistra (Asparagaceae) in the flora of Laos and Vietnam and supplemental data for T. patula | NGUYEN | Phytotaxa

New taxa of Peliosanthes and Tupistra (Asparagaceae) in the flora of Laos and Vietnam and supplemental data for T. patula
https://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.312.2.3

biotaxa.org New taxa of Peliosanthes and Tupistra (Asparagaceae) in the flora of Laos and Vietnam and supplemental data for T. patula

Aspidistra quangngaiensis , a new species of Asparagaceae from Vietnam | LÝ | Phytotaxa

Aspidistra quangngaiensis, a new species of Asparagaceae from Vietnam
https://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.312.1.11

biotaxa.org Aspidistra quangngaiensis , a new species of Asparagaceae from Vietnam

2017 Camellia tuyenquangensis (Theaceae), a new species from Vietnam
http://e-kjpt.org/journal/view.php?doi=10.11110/kjpt.2017.47.2.95

2017 Rhaphidophora sonlaensis (Araceae), a new species from northern Vietnam.
http://www.sekj.org/PDF/anb54-free/anb54-111-115-free.pdf

Delimitation of the series Laurifoliae in the genus Passiflora (Passifloraceae)
https://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.309.3.5

Aspidistra letreae (Asparagaceae), a new species from central Vietnam
http://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.308.1.14
Loài tỏi mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam
2 Jun. 2017

Disanthus ovatifolius (Hamamelidaceae), a new species from northwestern Vietnam
Loài mới cho khoa học
Chi mới cho Việt Nam
http://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.308.1.9

A new species of Leptolalax (Anura: Megophryidae) from Vietnam
1 June 2017
https://www.biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.4273.1.5

A new species of Limnonectes (Amphibia: Anura: Dicroglossidae) from Vietnam
https://www.biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.4269.4.8

sie.vast.vn

Những nữ hoàng sắc đẹp tô thắm cho bức tranh đa dạng sinh học ở bán đảo Sơn Trà

http://sie.vast.vn/posts/323-nhu-ng-nu-hoa-ng-sa-c-de-p-to-tha-m-cho-bu-c-tranh-da-da-ng-sinh-ho-c-o-ba-n-da-o-son-tra.vi

sie.vast.vn Bán đảo Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng, là một khu vực có giá trị quan trọng về mặt đa dạng sinh [...]

Bulbophyllum jingdongense (Orchidaceae), a new species in the Cirrhopetalum alliance from South China and Laos
https://www.biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.307.3.4

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

[06.09.2020]   Đừng rời xa em ^^ *ôm ôm* ❤️❤️❤️  Cre: alohaimamy  #shine #sie_thang9_2020 #collection
Chà vá chân đen
Voọc bạc trên núi đá vôi Kiên Giang

Location

Category

Telephone

Address


Số 1A, đường TL29, Phường Thạnh Lộc, Quận 12
Ho Chi Minh City
70000
Other Education in Ho Chi Minh City (show all)
Dạy Học Cắt Tóc Tomiluc Dạy Học Cắt Tóc Tomiluc
164B Nguyễn Đình Chính, Phường 11, Quận Phú Nhuận
Ho Chi Minh City, +84

1. Khóa học Chuyên gia Tạo mẫu Tóc Chuyên Nghiệp. 2. Khóa học Chuyên viên Hóa Chất. 3. Khóa học Chuyên viên Tóc Nữ Chuyên Nghiệp. 4. Khóa học Chuyên viên Tóc Nam Chuyên Nghiệp.

Cung Cấp Đèn Tín Hiệu Giao Thông ,Châu Gia Phát Co., LTD Cung Cấp Đèn Tín Hiệu Giao Thông ,Châu Gia Phát Co., LTD
84 Bà Điểm 8, Xã Bà Điểm. Huyện Hóc Môn
Ho Chi Minh City, 11100

Cung Cấp Đèn Tín Hiệu Giao Thông, Đèn Chớp Cảnh Báo , Đèn Tín Hiệu.

Ký gửi mua bán nhà trung tâm Ký gửi mua bán nhà trung tâm
30/2 Phan Kế Bính, P. Đa Kao, Quận 1, Tp. HCM
Ho Chi Minh City, 11111

Điểm tin biến động của thị trường

Trường Đào Tạo Kinh Doanh A.S.K Trường Đào Tạo Kinh Doanh A.S.K
164 Nguyễn Đình Chính - Phường 11 - Quận Phú Nhuận - TP Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City

Trường Đào tạo Kinh doanh A.S.K

Tạo Hình Tiêm Filler Botox - Bali Clinic Tạo Hình Tiêm Filler Botox - Bali Clinic
28 Mai Chí Thọ, Phường An Phú, Quận 2
Ho Chi Minh City, 700000

Bali Clinic là cơ sở làm đẹp an toàn - chất lượng - uy tín.

Hội PHHS Mầm Non 27 Hội PHHS Mầm Non 27
Cu Xa Thanh Da
Ho Chi Minh City

Diễn đàn của các cha mẹ học sinh Trường Mầm Non 27

Từ Vựng Thi TOEIC Từ Vựng Thi TOEIC
CAEP – VIETNAM, C302, 5th Street, Linh Trung Ward, Thu Duc District, Ho Chi Minh City, Vietnam
Ho Chi Minh City, 700000

TOEIC WORDS

Ronnie' Guitar Ronnie' Guitar
1225 Huynh Tan Phat, Quan 7
Ho Chi Minh City, 720000

Hội nhóm Ronnie Guitar mục đích để GIAO LƯU - TRAO ĐỔI đàn GUITAR các loại. Với ưu tiên chủ yếu là HỌC TẬP - CHIA SẺ - HỘI ĐÀM về kỹ thuật chơi đàn hơn.

Studio HCMUE - Phim trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM Studio HCMUE - Phim trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM
280 An Dương Vương, P.4, Q.5
Ho Chi Minh City, 70000

Phim trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM

Tài liệu UEH Tài liệu UEH
59C Nguyễn Đình Chiểu, Phường 16, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City, 700000

Nơi chia sẻ tài liệu học tập của sinh viên/học viên của UEH nói riêng và dân Kinh tế nói chung.

Dịch vụ dịch tài liệu tiếng Anh sang tiếng Việt Dịch vụ dịch tài liệu tiếng Anh sang tiếng Việt
3/1 Thành Thái,p.14,quận 10
Ho Chi Minh City, 70000

Dịch vụ của mình giúp dịch tài liệu tiếng anh sang tiếng Việt cho các công ty, tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Liên hệ: Mr.Trình - 0902 963 631

CitySmart RichEnglish - Hệ Thống Giáo Dục Quốc Tế Cho Trẻ Em CitySmart RichEnglish - Hệ Thống Giáo Dục Quốc Tế Cho Trẻ Em
61 Cao Thắng, Phường 3, Quận 3
Ho Chi Minh City, 700000

CitySmart - Hệ thống giáo dục quốc tế cho trẻ em

About   Contact   Privacy   Login C