Tham khảo tài liệu sưu tầm
——-
🎭 NHỮNG KẺ “THẢO MAI” TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
Khi lớp son “văn minh” bị bóc đi, ta thấy điều gì bên dưới?
Trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, sự giả dối không chỉ là tật xấu của vài cá nhân, mà là bộ mặt của cả một xã hội đang khủng hoảng giá trị. Từ những “ông Tây con” nửa mùa đến những “người đàn bà tân tiến” loay hoay giữa đạo đức và dục vọng, mỗi tác phẩm là một tấm gương soi vào thời đại, và đôi khi soi ngược lại chính ta.
💄 “Số đỏ” – Vũ Trọng Phụng
Đây được xem là tác phẩm kinh điển bóc trần “thế giới thượng lưu” đầy lố bịch, với nhân vật chính là Xuân Tóc Đỏ, từ kẻ nhặt bóng thành “anh hùng cứu quốc”, là biểu tượng trọn vẹn của sự giả dối được tung hô. Đằng sau tiếng cười là cả một xã hội chạy theo cái “Âu hoá” nửa vời, nơi người ta sống bằng danh hơn bằng thật.
🎭 “Con người điêu trá” – Vũ Trọng Phụng
Nếu “Số đỏ” là tấn trò đời, thì “Con người điêu trá” lại là tấm gương soi thẳng vào lương tâm. Ở đó, mọi nhân vật từ quan lại đến dân đen, đều giỏi một nghề duy nhất: nói dối để tồn tại. Cái “điêu trá” ấy không phải ngẫu nhiên, mà là sản phẩm của một xã hội đầy áp lực, nơi ai thật thà… là kẻ thua cuộc.
💍 “Kỹ nghệ lấy Tây” – Vũ Trọng Phụng
Một chương khác của bi hài kịch xã hội: nơi tình yêu trở thành “nghề”, hôn nhân là cuộc mua bán danh giá. Phụ nữ ở đây vừa là nạn nhân, vừa là kẻ thích nghi. Họ nhập vai hoàn hảo trong vở kịch mang tên “hiện đại hoá”.
🚪 “Làm đ.ĩ” – Vũ Trọng Phụng
Đây là một trong những tác phẩm táo bạo nhất đầu thế kỷ XX khi không chỉ nói về thân phận người phụ nữ, mà còn là lời thú nhận cay đắng: “Chúng ta đều đang sống trong những vai diễn của chính mình.”
📚 Sbooks tự hào tái bản “Số đỏ” và “Con người điêu trá” – hai tác phẩm trụ cột phơi bày sự giả dối xã hội Việt Nam cận đại, vẫn còn nguyên giá trị sau gần trăm năm. Bởi sự thật như văn chương thì không bao giờ lỗi thời, chỉ là chúng ta có đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào nó không!
👉 Đọc “Số đỏ” và “Con người điêu trá” để hiểu: Giữa vô vàn lớp mặt nạ, điều gì mới là “thật”?
Thầy Bằng 2 hight lúa
Giáo dục
Đề 2
Đọc truyện ngắn sau:
Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé em. Thiệt đó.
(Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, Nxb Văn học)
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
Câu 3. Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là:
A. Bích và bé Em được may đồ Tết
B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ
D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
Câu 4. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ
C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo
D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết
Câu 5. Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào?
Câu 6. Chủ đề của truyện ngắn trên?
Câu 7. Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 8. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ)
ĐỀ 1
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
(Lược dẫn: Vợ của nhân vật xưng “tôi” mua một con chó, nhưng nó rất xấu xí nên chẳng ai dám đến gần. Mấy người quen của nhân vật “tôi” định bụng sẽ giết thịt nó để làm một chầu nhậu, nhưng rồi giặc đến, mọi người đều phải bỏ làng chạy giặc. Vì vướng víu nên gia đình, nhân vật “tôi” đành phải bỏ con chó lại nhà cụ bếp Móm và nhờ cụ nuôi hộ. Trước khi ra đi, vợ của nhân vật “tôi” đã xích con chó vào gốc cây để nó khỏi chạy theo).
“Ắng!… Ắng! Ắng!…” Tiếng con chó lồng lộn, cuống quít đằng sau bước chân tôi. Nó như gọi tôi, nó như kêu cứu, như than khóc, oán trách…
Ra khỏi ngõ tôi thoảng nghe tiếng chị vợ cảnói với chồng:
– Vợ chồng nhà ấy họ đi đấy à? Này, họ bỏ lại con chó cậu ạ.
Và tiếng anh chồng dấm dẳn:
– Đến người cũng chả chắc giữ được nữa là con chó!…
Tôi xóc lại cái quai ba lô, bước theo hút cái bóng nhà tôi đang đi xăm xắm xuống đồi.
[…]
Tiếng con chó từ trong nhà cụ bếp Móm đưa ra vẫn nghe rõ mồn một “Ắng!… Ắng! Ắng!…”. Tiếng con chó da diết, nhọn hoắt xói vào ruột gan tôi. “Thôi để chuyến này về tao nuôi. Tao sẽ nuôi mày, tao không bỏ mày đâu…”.
Tôi nhủ thầm với tôi một lần nữa như vậy.
(Lược một đoạn: sau khi giặc rút, gia đình nhân vật “tôi” về lại làng, nhưng nhân vật “tôi” đã quên bẵng con chó).
Một hôm tôi chợt thấy cặp kính trắng lấp loáng của Đặng “cồn” từ đầu ngõ đi vào, bấy giờ tôi mới giật mình, sực nhớ đến con chó. Tôi quay lại hỏi nhà tôi:
– À, mình này! Con chó nhà ta đâu nhỉ? Mình chưa vào trong cụ bếp dắt nó về à?
Nhà tôi đứng ngẩn ra một lúc. Có lẽ nhà tôi cũng không ngờ rằng tôi đã về bằng ấy ngày giời rồi vẫn không nói chuyện con chó ấy với tôi.
– Nó chết rồi!… – Nhà tôi nói khe khẽ.
– Chết rồi? Làm sao mà chết được?…
Tôi trố mắt lên hỏi lại. Nhà tôi cúi mặt xuống, thở dài:
– Nó chết thương lắm cơ mình ạ. Không phải nó chết trong cụ bếp Móm đâu. Nó về nhà ta nó chết đấy.
Nhà tôi ngừng lại, cắn môi chớp chớp hai mắt nhìn ra ngoài sân. Lát sau, nhà tôi đứng dậy mời Đặng vào trong nhà, rót nước mời anh rồi mới tiếp tục câu chuyện.
Chao ôi! Con chó xấu xí ấy của tôi! Con chó từ lúc mua, đến lúc chết không được một lần vuốt ve! Nó đã chết một cách thảm thương và trung hậu quá. Từ hôm vợ chồng tôi gửi lại nó cho ông cụ bếp Móm, con chó không chịu ăn uống gì. Nó chỉ kêu. Nó kêu suốt ngày, suốt đêm. Một đêm, ông cụ bếp không thấy con chó kêu nữa, thì ra nó đã xổng xích đi đâu mất rồi.
Hôm nghe tin giặc rút, ở trong khe đồn Khau Vắt dọn về, nhà tôi tạt vào nhà cụ bếp Móm định đem con chó về nhân thể, nhưng vào đến nơi thì nó không còn đấy nữa. Lúc ấy nhà tôi cũng yên trí là con chó mất rồi. Chắc chắn nó sẽ lạc vào một trại ấp nào đấy và người ta làm thịt nó.
Nhưng khi nhà tôi về đến nhà, bà con xóm giềng vừa chạy sang láo nháo thăm hỏi thì, ở ngoài vườn sau, có mấy tiếng chó hú lên thảm thương và ghê rợn.
Từ sau bụi dứa rậm rạp, con chó khốn khổ ấy lảo đảo đi ra. Người nó run lên bần bật. Nó gầy quá, chỉ còn một dúm xương da xộc xệch, rụng hết lông. Nó đói quá, đi không vững nữa. Nó đi ngã dụi bên này, dụi bên kia. Rồi nó không còn đủ sức mà đi nữa. Nó nằm bệt trên đất, rúm người lại, lết lết về phía nhà tôi. Lúc ấy cả người nó chỉ còn có cái đuôi là còn ngó ngoáy được để mừng chủ và cái lưỡi liếm liếm vào tay chủ. Khốn nạn con chó! Được gặp chủ nó mừng quá. Từ trong hai con mắt đờ đẫn của nó mấy giọt nước chảy ra. Lát sau thì nó không liếm được nữa, cái đuôi ngoáy yếu dần, yếu dần rồi im hẳn. Nó chết.
Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó, vừa thấy xấu hổ. Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi. Một thằng ích kỷ. Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ con mình. Đến như con chó mình nuôi, mình đối xử với nó có được như cái tình nghĩa của nó đối xử với mình đâu?
[…]
(Trích Con chó xấu xí, Kim Lân, in trong Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học)
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? (0,5 điểm)
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
Câu 3. Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện?
A. Chỉ có lời nhân vật
B. Chỉ có lời người kể chuyện
C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả
Câu 4. Chi tiết nào khiến nhân vật tôi cảm thấy “vừa thương xót con chó, vừa thấy xấu hổ” ?
Câu 5. Hình tượng “con chó xấu xí” là biểu tượng cho ai?
Câu 6. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Gia đình nhân vật “tôi” mua một con chó xấu xí, đối xử với nó một cách hờ hững và khi chạy giặc đã bỏ lại nó. Nhưng con chó vẫn trung thành với chủ, tìm về nhà gặp chủ rồi mới chết. Hành động đó đã khiến nhân vật “tôi” vừa thương xót con chó vừa hối hận vì cách hành xử của mình.
B. Gia đình nhân vật “tôi” mua một con chó xấu xí, đối xử với nó một cách hờ hững và khi chạy giặc đã bỏ lại nó.
C. Gia đình nhân vật “tôi” mua một con chó xấu xí, đối xử với nó một cách hờ hững và khi chạy giặc đã bỏ lại nó. Nhưng con chó vẫn trung thành với chủ, tìm về nhà gặp chủ rồi mới chết.
D. Gia đình nhân vật “tôi” mua một con chó xấu xí, đối xử với nó một cách hờ hững và khi chạy giặc đã bỏ lại nó. Nhân vật “tôi” đã rất thương xót con chó và hối hận vì cách hành xử của mình.
Câu 7. Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện:
A. Phê phán lối sống vô tình vô nghĩa.
B. Ca ngợi lối sống tình nghĩa, trước sau như một
C. Lên án chiến tranh đã gây ra sự loạn li
D. Cả A và B
Câu 8. Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 9. Bạn có nhận xét gì về người vợ của nhân vật “tôi” trong câu chuyện?
Câu 10. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về tác hại của thói vô cảm trong cuộc sống. (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
07/07/2022
Tham khảo đáp án
01/06/2022
Bé Thu và ông Sáu
"Chiếc lược ngà" - Bài ca nhân bản về tình cảm cha con (Tín hiệu từ vũ trụ gửi đến 2K7 đấy nha ^^)
Ra đời vào thời điểm ác liệt của cuộc chiến tranh, song “Chiếc lược ngà” lại tập trung nói về tình người cao đẹp – mà cụ thể là tình cha con thiêng liêng sâu nặng trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Đây là tác phẩm tiêu biểu trong đời văn của Nguyễn Quang Sáng có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 suốt bao nhiêu năm qua.
🌿 Từ tiếng gọi ba vỡ òa niềm xúc động
Ông Sáu rời nhà đi kháng chiến từ khi con gái còn nhỏ, chỉ được thấy con qua tấm ảnh nhỏ. Suốt những năm tháng sống ở chiến trường, không lúc nào ông Sáu nguôi ngoai nỗi nhớ về con gái. Ba ngày được về nghỉ phép, ông Sáu nôn nao được trông thấy con, vội vàng, cuống quýt. Nhưng đến khi về tới nhà, bé Thu, con gái ông, lại không nhận ra ba mình bởi vết thẹo trên mặt ông Sáu do chiến tranh để lại.
Suốt ba ngày, ông Sáu cố gắng gần gũi, vỗ về con nhưng càng lại gần thì con gái càng đẩy ông ra. Trong bữa ăn, bé Thu bất thần hất cái trứng cá ra khỏi chén mà ông Sáu gắp cho, giận quá và không kịp suy nghĩ, ông vung tay đánh vào mông nó. Bé Thu bỏ về nhà ngoại. Đến khi bé Thu nhận ba thì cũng là lúc ông Sáu phải vào chiến trường. Trước khi chia tay ba, bé Thu muốn ba mua cho mình một chiếc lược khi ba trở về.
Trở lại chiến trường, ông Sáu nhớ thương con vô hạn. Nhớ lời con dặn, ông tìm cho được khúc ngà rồi lấy vỏ đạn hai mươi li của Mĩ làm cho con một chiếc lược. Nhưng chưa kịp trở về đưa chiếc lược tận tay con gái thì ông Sáu đã hi sinh ở chiến trường. Chiếc lược ông gửi lại cho người đồng đội là ông Ba, nhờ đưa cho con gái mình, rồi mới nhắm mắt.
Trong truyện, bé Thu là nhân vật để lại ấn tượng nhiều hơn cả. Nhà văn đã làm nổi bật chân dung nhân vật qua diễn biến tâm lí, lời nói, hành động.
Khi chưa nhận ra ông Sáu là cha, bé Thu tỏ ra ngờ vực, lảng tránh. Khi ông Sáu trở về thăm nhà và tự nhận mình là ba, bé Thu không tin vì có vết thẹo dài trên má, không giống với người trong tấm hình. Ông Sáu càng muốn gần con thì bé Thu lại càng tỏ ra lạnh nhạt, xa cách. Tâm lí, thái độ ấy được thể hiện qua các chi tiết: Hốt hoảng, mặt tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu, nói trống không, nhất định không chịu gọi cha, nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm, hất cái trứng cá mà ông gắp cho, bỏ về nhà ngoại khi bị ông Sáu đánh…
Không chịu nhận sự quan tâm của ông Sáu, em dành tất cả tình yêu cho người cha trong tấm ảnh chụp chung với má không có vết thẹo trên mặt. Bé Thu có những hành động, phản ứng mạnh mẽ. Em tỏ ra bướng bỉnh, ương ngạnh, cứng đầu. Tuy nhiên sự ương ngạnh đó không hề đáng trách, bởi em còn quá nhỏ, chưa hiểu được tình thế khắc nghiệt, éo le của chiến tranh. Những hành động của bé Thu chỉ là những phản ứng tâm lí tự nhiên.
Chính thái độ quyết liệt, ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha. Đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh mà đó là sự kiên định quyết liệt của một con người có lập trường. Đây chính là nét cá tính để sau này làm nên tính cách cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giải phóng sau này.
Trong đêm bỏ về nhà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba. Sự nghi ngờ bấy lâu đã được giải tỏa, ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận, hối tiếc. Nghe bà kể, bé nằm im, lăn lộn, thỉnh thoảng thở dài như người lớn.
Trong buổi sáng cuối cùng, trước lúc ông Sáu chuẩn bị trở lại chiến trường, thái độ và hành động của bé Thu đã thay đổi hoàn toàn. Bé Thu cất tiếng gọi ba. Tiếng ba vỡ ra từ sâu thẳm trong lòng cô bé. Cái tiếng ba mà ông Sáu chờ đợi suốt bao nhiêu năm, tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó thét lên. Nó vỡ ra còn người đọc thì nghẹn lại. Cái tiếng ba đó được cất lên bằng tất cả tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu nay bùng lên mạnh mẽ, hối hả, xúc động. Rồi “vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc”, “nó hôn ba nó cùng khắp.
Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”, “hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai của nó rung rung”, rồi Thu đòi ông Sáu mua cho cây lược khi về… Chứng kiến những biểu hiện tình cảm đó, những người có mặt tại nhà ông Sáu không cầm được nước mắt, người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình. Cái cách mà bé Thu biểu lộ tình cảm dành cho cha thật vô cùng mạnh mẽ, nồng nhiệt.
Đặt nhân vật vào tình huống éo le, với ngòi bút miêu tả tâm lí sinh động, sự am hiểu, tình yêu thương trẻ em sâu sắc… Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa nổi bật chân dung của bé Thu qua lời nói, thái độ, hành động. Đây là cô bé có nét cá tính là sự cứng cỏi đến mức tưởng như ương ngạnh… nhưng trước sau Thu vẫn là đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ. Điểm nổi bật nhất ở em chính là tấm lòng và tình yêu thương cha mạnh mẽ, nồng nhiệt và sâu đậm.
🌿 Đến hành động làm chiếc lược cho thỏa nỗi nhớ thương con
Hiện lên trong tác phẩm, ông Sáu là một chiến sĩ kiên cường, có tinh thần trách nhiệm cao đối với đất nước, có tính kỉ luật cao, luôn đặt Tổ quốc lên trên. Ông Sáu là người cha lí tưởng, có tình cảm sâu nặng với con. Nguyễn Quang Sáng đặc biệt làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng trong những trang văn của mình.
Khi chưa gặp mặt con, người cha ấy nôn nao nhớ. Khi mới về, mong được gặp con nên khi thuyền chưa cập bến ông đã nhảy lên bờ, vừa gọi, vừa đưa tay đón con.
Những ngày ở bên con, lúc nào người cha ấy cũng vỗ về, chăm sóc con, mong con gọi mình là cha. Ba ngày phép ở nhà, ông khổ tâm vì bé Thu cứ xa lánh, không chịu gọi cha. Thương con, ông vẫn kiên nhẫn chờ đợi và tìm mọi cách để được gần con. Ông Sáu vô cùng xúc động khi bé Thu cất tiếng gọi ba.
Trở lại khu căn cứ, ông thương nhớ con vô cùng. “Lúc nhớ con, ông cứ ân hận vì sao mình đánh con. Nỗi khổ tâm đó cứ giày vò ông”. Tình cảm của ông đối với con được thể hiện tập trung và sâu sắc nhất là ở phần sau của truyện, khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ và làm chiếc lược tặng cho con gái như đã hứa. “Ba về ba mua cho con cây lược nghe ba”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Với người cha ấy, là mong ước đầu tiên mà cũng là duy nhất.
Cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng làm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Kiếm được khúc ngà, ông vô cùng vui mừng, sung sướng rồi ông dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược, trên sống lưng lược có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Và ta thật sự xúc động khi chứng kiến cảnh ông Sáu thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”.
Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân sáng tạo ra tác phẩm duy nhất trong đời. Tác phẩm đó được làm bằng sự ân hận, day dứt, bằng nỗi nhớ niềm thương, bằng lòng khao khát đoàn viên, sum họp, bằng ý chí của một người chiến sĩ và bằng cả trái tim của một người cha với cô con gái bé bỏng của mình. Chiếc lược đã trở thành một vật quý giá, thiêng liêng với ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng, kết tinh tình cảm ruột thịt xúc động trong hoàn cảnh chiến tranh.
Thế rồi, ông Sáu không kịp đưa cây lược ngà đến tận tay con. Người cha – người chiến sĩ đó đã hy sinh trong một trận càn lớn của Mĩ – ngụy. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho ông Sáu làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu”. Lời hứa của ông Ba “tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu” mới làm cho người cha ấy yên lòng nhắm mắt. Đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, là ước nguyện cuối cùng của một người chiến sĩ xa gia đình, xa con đi chiến đấu: Ước nguyện tình cảm cha con, ước nguyện của tình phụ tử thiêng liêng. Ông Sáu đã hi sinh “nhưng hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Tình cảm mà ông dành cho con vô cùng sâu sắc, thiết tha.
🌿 Và tình cha con của họ… ở mãi trong lòng người
Đọc truyện, thấy rưng rưng một nỗi niềm. Tình cha con ông Sáu – bé Thu thật cao đẹp, xúc động, thiêng liêng, bất diệt trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Đạn bom ác liệt của kẻ thù không bao giờ làm đứt gãy, suy giảm cái tình của cha dành cho con, con dành cho cha.
Tình cảm đó hiện diện và sáng lên giữa dòng chảy thời gian và đi vào lòng người trong niềm vấn vương, thương cảm. Câu chuyện cha con ông Sáu và bé Thu không chỉ đem đến niềm xúc động sâu sắc mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương mất mát, éo le mà chiến tranh gây ra cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình.
Nhân vật ông Sáu, bé Thu và câu chuyện tình cảm cha con của họ được thể hiện một cách sinh động và ấn tượng bởi nhà văn đã xây dựng tình huống truyện đặc sắc, tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí. Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với đứa con.
Nhà văn cũng đã thành công trong việc miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là bé Thu. Truyện được kể ở ngôi thứ nhất. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật, bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, đưa ra những lời bình luận về những điều được kể.
Chẳng hạn: “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa”; hoặc “Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ tôi bị xúc động như lần ấy”, “cây lược ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”… Những ý kiến, suy nghĩ, lời bình đó của người kể chuyện có tác dụng dẫn dắt sự tiếp nhận của người đọc, người nghe, lôi cuốn độc giả vào câu chuyện để ngân lên muôn vàn cung bậc cảm xúc. Ngôn ngữ gần với khẩu ngữ và mang đậm màu sắc Nam Bộ.
Có thể nói, so với tình mẫu tử thì văn chương xưa nay viết về tình phụ tử không nhiều. “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng nằm trong số ít đó lại là tác phẩm đặc sắc, lay động lòng người. Tác giả đặt câu chuyện vào trong không gian gia đình và không gian núi rừng nơi khu căn cứ giữa khói lửa đạn bom của những tháng ngày đất nước không bình yên để khẳng định vẻ đẹp của người cha – người chiến sĩ kiên cường, bản lĩnh. Tình cảm cha con nói riêng, tình cảm gia đình nói chung là thứ tình cảm muôn thuở, có tính nhân bản bền vững. Tình cảm đó được thể hiện trong hoàn cảnh éo le của cuộc chiến nên lại càng trân trọng hơn.
“Chiếc lược ngà” vượt lên con nước bạc của thời gian để khẳng định sức sống vĩnh hằng và câu chuyện cha con ông Sáu – bé Thu mãi mãi là bài ca đẹp - bài ca mang giá trị nhân bản sâu sắc, ở mãi trong lòng người.
Theo ThS Trần Văn Toản (Trường THPT chuyên Quốc học Huế, Thừa Thiên - Huế)
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Telephone
Website
Address
Ho Chi Minh City