21/06/2026
NHẬT BẢN CANH TÂN (PHẦN 2)
Đã thượng võ mà kĩ nghệ lại tiến như vậy thì binh lực tất phải hùng cường.
Năm 1892, tức 24 năm sau khi Minh Trị lên ngôi, dân tộc Nhật đã đủ lông đủ cánh, muốn so sức với người khác. Nhìn các cường quốc xâu xé Trung Hoa, họ ghen tị, quyết nhảy vào chia phần. Họ nhắm Triều Tiên trước hết, vì Triều Tiên ngó qua nước họ.
Triều Tiên là một nước văn minh, chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, đã có một tòa thiên văn đài cổ nhất thế giới, đã tìm được phương pháp in chữ.
Trước thế kỉ 11, nước đó có tên là nước Hàn, chia làm ba miền: Bắc, Trung, Nam. Nam Hàn thường xung đột với Nhật Bản.
Cuối thế kỉ 11, vua Nam Hàn được Trung Quốc giúp sức, chiếm được hai miền kia, thống nhất quốc gia. Trong đời Nguyên, Triều Tiên chịu thuần phục Trung Hoa. Qua đời Minh, một người chiếm ngôi vua và dựng nên vương thất còn truyền đến đầu thế kỉ này.
Cuối thế kỉ 16, Triều Tiên thua Nhật Bản, bị Nhật chiếm gần hết.
Khi Nhật duy tân rồi, Triều Tiên chia làm hai đảng: tân đảng muốn bắt chước Nhật, duy tân để cường thịnh; cựu đảng chủ trương duy trì cổ học. Tân đảng mời võ quan Nhật qua tổ chức binh bị, cựu đảng phản đối, nổi loạn, tấn công sứ quán Nhật, giết võ tướng Nhật. Nhật đem binh qua “hỏi tội”, Triều Tiên cầu cứu với nhà Thanh. Thanh đình kéo quân vào. Nhật hoàng phái Y Đằng Bác Văn sang điều đình với Lí Hồng Chương. Hai bên kí điều ước cho Triều Tiên tự do tổ chức binh bị và không nước nào được cử người qua huấn luyện, hai bên phải triệt binh và sau này nước nào cần kéo binh qua thì phải cho nước kia hay trước.
Năm 1894, vì nội loạn, Triều Tiên cầu cứu Trung Hoa; quân nhà Thanh sang dẹp xong loạn rồi, không chịu rút về. Nhật cũng kéo binh qua để bảo hộ Nhật kiều, Trung Quốc đòi Nhật triệt binh, Nhật không nghe, chiến tranh nổ.
Quân Nhật đại thắng cả trên bộ lẫn trên biển; Âu, Mĩ kinh hãi, không ngờ tên học trò lùn của mình lại có thủ đoạn cao cường như vậy. Thừa thắng, Nhật tràn vào nội địa Trung Quốc, một mặt muốn tiến thẳng vào Bắc Kinh, một mặt uy hiếp Lữ Thuận và Uy Hải Vệ, hai căn cứ hải quân quan trọng của Trung Hoa. Chỉ trong một ngày, họ chiếm được Lữ Thuận. Thanh đình hoảng hốt, sai Lí Hồng Chương thương thuyết với Y Đằng Bác Văn, nhận Triều Tiên là nước hoàn toàn độc lập, nhường cho Nhật nam bộ Phụng Thiên, bán đảo Liêu Đông, đảo Đài Loan, Nhật lại được hưởng những quyền lợi thương mại y như Âu, Mĩ. Thế là từ địa vị một nước nhược tiểu, Nhật nhảy ngay lên ngồi ngang hàng với các nước Âu, Mĩ, rồi theo đúng chính sách xâm lăng của Âu, Mĩ.
Nga thấy bán đảo Liêu Đông về Nhật, hại cho sự bành trướng của mình qua Thái Bình Dương, bèn liên hợp với Pháp, Đức, ép Nhật trả bán đảo đó cho Trung Hoa. Nhật uất ức lắm, tự lượng chưa đủ sức vật con gấu Bắc cực, đành nuốt hận, chờ cơ hội trả thù.
Sau hòa ước Bắc Kinh, Nga đóng binh ở Mãn Châu. Nhật phản kháng, đòi Nga trả Mãn Châu cho cố chủ, Nga không chịu, chỉ bằng lòng cho Nhật khuếch trương thế lực ở nam bộ Triều Tiên, còn toàn bộ Mãn Châu và bắc bộ Triều Tiên thì về mình. Nhật tấn công ngay.
4. Nhật dự bị chiến tranh đó kĩ lưỡng từ lâu.
Biết rằng Anh đương lo ngại Nga tiến về phía Ấn Độ, Nhật khéo dùng chính sách ngoại giao, kết thân với Anh, hai bên kí một hiệp ước tương trợ mỗi khi có chiến tranh với nước khác.
Nhờ vậy khi Nhật tuyên chiến với Nga năm 1904, Anh và cả Hoa Kì đều giúp tiền cho Nhật, Nhật lấy Liêu Đông làm chiến trường mà nhà Thanh đành khoanh tay ngó cường lân đánh nhau ngay trong nhà mình, chứ không dám can thiệp.
Hạm đội Nga đại bại ở Lữ Thuận, lục quân cũng bị đánh tan, các thành Liêu Đông, Lữ Thuận, Phụng Thiên lần lượt bị Nhật chiếm. Đức và Pháp có lúc muốn giúp Nga bằng binh bị hay ngoại giao, song Anh và Hoa Kì ngăn cản.
Một hạm đội hùng cường của Nga không được Anh cho qua kinh Suez, phải đi vòng Hảo Vọng giác ở cực Nam Châu Phi rê sóng sang cứu viện. Nhật hay tin, lần đầu tiên dùng máy truyền thanh trong hải chiến, đem hạm đội ra chặn ở eo biển Đối Mã (1905). Thiên Hoàng kích thích chiến sĩ: “Quốc gia cường thịnh hay suy vong là nhờ trận này”. Quân Nhật hăng hái tấn công và đại thắng; tử trận 116, bị thương 538; quân Nga tử trận 4.000, bị cầm tù 7.000, cả hạm đội Nga, trừ ba chiếc, bị đánh đắm hoặc bắt được. Nga xin hàng, chịu để Nhật tự do kinh doanh ở toàn cõi Triều Tiên, hai nước đều triệt binh ở Mãn Châu, và trả lại xứ đó cho Trung Hoa; Nga lại nhường cho Nhật quyền tô tá các cảng Lữ Thuận, Đại Liên và cắt cho Nhật nửa phía nam đảo Khố Hiệt.
Trận hải chiến Đối Mã kết liễu Nga Nhật chiến tranh, đã đánh dấu một khúc quẹo trong lịch sử hiện đại. Ảnh hưởng của nó đối với Á Đông còn lớn hơn ảnh hưởng cách mạng 1789 đối với châu Âu. Nó làm ngưng trong một thời gian sự bành trướng của Nga ở Trung Hoa; Á châu bắt đầu phục sinh là nhờ nó; cho nên toàn cõi châu Á, khi nghe tin khổng lồ Nga bị Nhật hạ thì nhảy múa, reo hò, y như chính mình đã thắng trận vậy. Người Á có cảm tình ngay với Nhật vì Nhật đã rửa cái nhục chung của giống da vàng. Trung Hoa mong lật đổ gấp nhà Thanh để duy tân như Nhật; Ấn Độ, Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai... đều mơ tưởng độc lập, hai tên Minh Trị và Y Đằng Bác Văn vang lên trong miệng các nhà ái quốc. Người ta mong nhờ thế lực Nhật đuổi người Âu ra khỏi nước, và người Nhật hóa ra kiêu căng, nuôi cái mộng làm bá chủ Đông Á.
Khi Minh Trị thăng hà (1912) chính sách của ông được các vua sau tiếp tục.
Theo "Lịch sử thế giới" của Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang
21/06/2026
18/06/2026
17/06/2026
17/06/2026
16/06/2026
15/06/2026