23/07/2018
Bạn muốn tìm hiểu về lý thuyết GD? Nghiên cứu lý thuyết GD là sự tiếp cận với các vấn đề như: triết lý GD, các nguyên tắc GD, những giả lập, giáo trình, chính sách học và GD, tổ chức và lãnh đạo.
Lý thuyết về GD sớm: GD sớm cho trẻ là một nhánh của lý thuyết về GD, đề cập đến việc dạy trẻ nhỏ (chính thức hay không chính thức) từ sơ sinh đến 8 tuổi (học lớp 3).
Một giai đoạn quan trọng, trong đó, là GD trẻ từ 0- 2 tuổi.
Trước thế kỷ 19 - được xem là lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu về tập đọc viết.
Khi GD Tiểu học trở thành phổ cập ở các nước phương Tây vào thế kỷ 19, thì dần dà các lớp học từ 3- 6 tuổi được xem là rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em. GD đó nhằm hướng tới sự phát triển nhân cách cho trẻ em.
Sáu lý thuyết GD quan trọng:
1/ Lev Vygotsky: Vùng PT gần nhất- Scaffolding
Trẻ cần học được hệ kỹ năng khó hơn kỹ năng đang có, trẻ cần được hỗ trợ với các mức độ khác nhau/tùy khả năng của trẻ.
2/ Jean Piaget: “Shema” – kiến thức/kinh nghiệm; trẻ liên kết shema với “cái mới”. Trẻ học qua làm, hơn là qua nghe nói.
3/ B.F. Skinner: Nghiên cứu điều chỉnh/củng cố hành vi, Skinner đặt ra các câu hỉ:
Chúng ta đã có ngụ ý gì khi chúng ta nói mình muốn được tự do?
Phải chăng chúng ta thường ước muốn sống trong một XH không hề bị xử phạt?
Chúng ta không muốn bị kết án bởi những điều chúng ta muốn làm.
Tức là những kích thích khó chịu không đạt hiệu quả, vậy thì tại sao chúng ta không áp dụng củng cố tích cực để kiểm soát xã hội chúng ta đang sống?
Và nếu chúng ta có những giá trị củng cố đúng đắn, chúng ta sẽ trở thành tự do, vì chúng ta đã được làm những gì chúng ta cảm thấy muốn làm.
4/ Jerome Bruner: “Giáo trình kiểu đường xoắn ốc”- “Phân tích hành vi để tác động điều chỉnh hành vi” là hai trong những phát kiến giá trị lớn của J. Bruner.
4.1.
Theo Bruner, có hai loại ứng dụng cấu trúc:
Di chuyển các mối liên tưởng đến những dạng kỹ năng tương ứng với “nó”: trẻ em học được kĩ năng cầm thìa ăn, thì cũng có thể sử dụng được đôi đũa. Đây chính là quá trình học tập chuyên biệt.
Di chuyển các nguyên tắc, các thái độ đã có được vào các tình huống khác nhau. Về cơ bản, đó không phải là học các kĩ năng cụ thể mà là học một ý tưởng (nguyên tắc) tổng quát để dùng làm cơ sở cho việc triển khai các vấn đề cụ thể sau đó. Coi những vấn đề cụ thể này chỉ là những trường hợp đặc thù của nguyên tắc tổng quát đã học được. J.Bruner cho rằng, loại di chuyển này chính là trọng tâm của quá trình dạy học. Đó chính là sự mở rộng và đào sâu không ngừng kiến thức theo những ý tưởng, nguyên tắc tổng quát và cơ bản. Điều này tùy thuộc vào cấu trúc và khả năng nắm vững môn học của người học.
Trong việc học tập các khái niệm, sơ đồ cấu trúc cần bao hàm các thao tác cơ bản của quy trình:
+ Hình thành khái niệm: so sánh; phân tích; tổng hợp; khái quát hóa; trừu tượng hóa;
+ Giải quyết các nhiệm vụ định nghĩa khái niệm;
+ Kiểm soát bằng các quy tắc định nghĩa khái niệm.
Ứng với cấu trúc nhận thức và khung chương trình như trên, J.Bruner đề xuất một mô hình học tập tìm tòi, khám phá.
Theo J. Bruner, học sinh phải là người tự lực, tích cực hành động tìm tòi, khám phá đối tượng học tập để hình thành cho mình các nguyên tắc, các ý tưởng cơ bản từ các tình huống học tập cụ thể. Trong học môn vật lí, toán học hay các khoa học xã hội, học sinh phải có thái độ khám phá các định luật, các định lí, các quy luật v.v... giống như nhà vật lí học, toán học hay xã hội học thực thụ.
Ba giai đoạn học khám phá:
* Thao tác và hành động trên các tài liệu đã có (hành động phân tích, rồi tiếp đó,
* Hành động trên các hình ảnh về chúng (hành động mô hình hóa,và cuối cùng.
* Rút ra được các khái niệm, các quy tắc chung từ những mô hình đó (hành động kí hiệu hóa).
4.2. Hành vi:
Bản chất của sự thưởng / phạt và của sự thành công hay thất bại trong dạy học
J.Bruner đề xuất cần phải phân biệt trạng thái thành công / thất bại với sự thưởng / phạt. Thành công hay thất bại là kết quả cuối cùng của một nhiệm vụ, còn thưởng hay phạt là những hệ quả tiếp theo những kết quả đó.
Thường thường thì giáo viên quá chú ý đến phần tặng thưởng hay trách phạt được kiểm soát từ bên ngoài, khiến học sinh không cần chú ý đến sự thành công hay thất bại trong nhiệm vụ học tập. Học sinh không được hưởng niềm vui hay nỗi buồn từ sự thành công hay thất bại trong việc học của mình. Điều này càng xảy ra nếu học sinh không xác định được bản chất của sự thành công hay thất bại. Như vậy đã tước mất của trẻ em niềm vui đích thực của việc học.
Do vậy, một trong những vấn đề quan trọng của dạy học là phải trả lại chức năng ban thưởng của sự thành công hay trách phạt của sự thất bại cho chính người học. Giáo viên có thể và nên làm như vậy bằng cách “khen” cả những “sai lầm tốt” để người học thấy quá trình giải quyết công việc cũng có tầm quan trọng như chính kết quả của nó. J.Bruner cho rằng chính người học tự thưởng hay phạt bằng cách đánh giá những cố gắng của mình khi độc lập giải quyết vấn đề.
Ngày nay nhiều nhà sư phạm ủng hộ mô hình dạy học này, vì nó phù hợp với cách con người học và phát triển, được trình bày trong lí thuyết của J.Piaget và các lí thuyết phát sinh nhận thức khác. Khi học sinh được tạo dựng động cơ và được tham gia vào các hành động khám phá, phù hợp với trình độ nhận thức của mình thì việc học tập khám phá sẽ đem lại kết quả tốt hơn so với nhiều hình thức học tập khác.
5/B. Bloom: đưa ra hệ thống thứ bậc của các mục tiêu học tập, bắt đầu từ “biết” đến bậc cao nhất là “đánh giá”.
Bloom’s educational Taxonomy
Một hình thái khác (do người vận dụng sắp xếp lại)
6/ Howard Gardner: Con người có rất nhiều cách xử lý thông tin (qua âm nhạc, trực quan, ngôn ngữ,…)
Mời các bạn đọc bài đầy đủ trong link dưới đây:
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=2091784937809040&set=a.1633458726974999.1073741827.100009326627650&type=3&theater