18/07/2026
𝗖𝗼̛ 𝗰𝗵𝗲̂́ 𝘅𝗮́𝗰 đ𝗶̣𝗻𝗵 𝗹𝗮̃𝗶 𝘀𝘂𝗮̂́𝘁 𝗰𝗵𝗼 𝘃𝗮𝘆: 𝘁𝗶𝗲̂́𝗽 𝗰𝗮̣̂𝗻 𝘁𝘂̛̀ 𝗰𝗵𝗶 𝗽𝗵𝗶́ 𝘁𝗵𝗮𝗻𝗵 𝗸𝗵𝗼𝗮̉𝗻
Cách nghĩ thông thường là huy động có tiền rồi mới cho vay, nên chi phí huy động được lấy làm cơ sở tính lãi suất cho vay. Cách hiểu này có thể đúng khi cả huy động lẫn cho vay đều bằng tiền mặt. Nhưng hiện nay, khi cho vay, ngân hàng giải ngân chủ yếu qua tài khoản, phát sinh chi phí thanh khoản và như vậy, chính chi phí này mới là cơ sở để tính lãi suất cho vay.
Bài viết lần lượt làm rõ từng chi phí một khoản vay phải gánh chịu, bên cạnh chi phí thanh khoản, rồi gộp lại thành công thức xác định lãi suất cho vay.
1. 𝑪𝒉𝒐 𝒗𝒂𝒚 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒈𝒊𝒂̉𝒊 𝒏𝒈𝒂̂𝒏, 𝒑𝒉𝒂́𝒕 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒄𝒉𝒊 𝒑𝒉𝒊́ 𝒕𝒉𝒂𝒏𝒉 𝒌𝒉𝒐𝒂̉𝒏
Theo quy định hiện hành, ngân hàng cho vay hầu như không đưa tiền mặt cho người vay mà phải giải ngân vào tài khoản người thụ hưởng — bên mà người vay phải thanh toán, như nhà cung cấp, người bán hàng hay đối tác. Một khoản vay 100, vì vậy, có mấy cách giải ngân chính:
- Vào tài khoản người thụ hưởng cùng ngân hàng. Người này có thể:
+ (a) chuyển cho khách hàng khác cùng ngân hàng;
+ (b) chuyển cho khách hàng ở ngân hàng khác;
+ (c) rút tiền mặt.
- (d) Vào tài khoản người thụ hưởng ở ngân hàng khác.
Chỉ ở trường hợp (a) tiền mới ở lại trong ngân hàng. Còn (b), (c), (d) — phần lớn các khoản vay — tiền rời khỏi ngân hàng, và ngân hàng phải lấy dự trữ của mình để thanh toán cho ngân hàng thu hưởng hoặc chi tiền mặt. Lượng dự trữ mất đi đúng bằng số tiền chuyển ra, có thể lên tới cả 100.
Xét trên toàn hệ thống, tiền gửi do khoản vay tạo ra vẫn nằm đâu đó trong hệ thống. Nhưng với riêng một ngân hàng, phần tiền chuyển sang ngân hàng khác là phần ngân hàng đó phải tự lo, và phải cân đối ngay khi giải ngân chứ không phải về sau. Ngân hàng quản lý thanh khoản trên toàn bảng cân đối và các dòng thanh toán được bù trừ, nên không phải cứ chuyển ra 100 là lập tức huy động mới đúng 100; nhưng xét dưới góc độ biên tế, khoản vay mới vẫn làm tăng nhu cầu thanh khoản phải tài trợ.
Để bù phần dự trữ đã mất, ngân hàng tìm nguồn ở chi phí biên tế rf bằng nhiều cách:
- kéo tiền gửi đang ở ngân hàng khác về, hoặc hút tiền mặt ngoài lưu thông vào;
- vay trên thị trường liên ngân hàng;
- vay tái cấp vốn hoặc tham gia nghiệp vụ thị trường mở (OMO) với Ngân hàng trung ương;
- phát hành giấy tờ có giá;
- bán bớt tài sản thanh khoản đang nắm.
Các nguồn này đều xoay quanh lãi suất điều hành R của ngân hàng trung ương, nên rf ≈ R cộng một mức chênh lệch. Vì phải lo thanh khoản cho cả khoản vay, chi phí tài trợ tính trên toàn bộ 100:
Chi phí tài trợ = rf × 100% = rf
Cần hiểu rf ở đây là giá thanh khoản biên được phân bổ cho khoản vay, không phải lãi suất do ngân hàng lấy một khoản tiền gửi cụ thể nào đó rồi đem cho vay.
Vốn tự có không tham gia khâu này: thứ chạy ra khỏi ngân hàng khi giải ngân là dự trữ (gồm tiền mặt và tiền gửi tại ngân hàng trung ương), không phải vốn tự có. Phần thanh khoản do đó được tài trợ hoàn toàn bằng nợ.
2. 𝑽𝒐̂́𝒏 𝒕𝒖̛̣ 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒓𝒂̀𝒏𝒈 𝒃𝒖𝒐̣̂𝒄 𝒄𝒖̉𝒂 𝑩𝒂𝒔𝒆𝒍
Lo xong thanh khoản, ngân hàng còn cần vốn tự có đáp ứng ràng buộc khác. Khoản vay làm tăng tài sản có rủi ro (RWA); theo Basel, ngân hàng phải có đủ vốn tự có so với RWA, đo bằng tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Cho vay thêm làm tăng RWA nên làm tăng lượng vốn tự có để đảm bảo CAR đạt tỷ lệ tối thiểu.
Mức tối thiểu theo Basel là 8% tổng vốn so với RWA. Gọi mật độ vốn cw là tỷ lệ vốn yêu cầu nhân trọng số rủi ro. Khoản vay 100 với cw = 10% buộc giữ thêm 10 vốn tự có.
Vốn tự có gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Để đơn giản, bài này coi vốn tự có là vốn chủ sở hữu, bỏ qua vốn cấp 2, nên cả phần vốn chịu chung một chi phí là suất sinh lời cổ đông yêu cầu rE. Giả định này không xa thực tế vì Basel buộc phần lớn vốn phải là vốn chủ sở hữu. Muốn chính xác hơn, cần tách vốn cấp 2 — vốn này có chi phí thấp hơn rE — ra riêng; khi đó chi phí vốn bình quân thấp hơn con số bài này tính được.
Mười đồng vốn này không phải tiền đem cho vay, vì khoản vay đã được tài trợ bằng nợ ở phần trên. Nó là ràng buộc bên nguồn vốn: ngân hàng phải có tối thiểu 10% bằng vốn cổ phần làm tấm đệm, để khi khoản vay mất giá thì cổ đông chịu lỗ trước, người gửi tiền được bảo vệ.
Thanh khoản và vốn vì vậy là hai ràng buộc khác nhau: thanh khoản cho thấy ngân hàng lấy phương tiện thanh toán ở đâu khi tiền chuyển ra ngoài, còn vốn tự có xác định ai chịu lỗ trước nếu khoản vay mất giá. Vì là hai ràng buộc chứ không phải hai túi tiền cộng lại, không nên hình dung khoản vay 100 được tạo ra bằng cách lấy 90 nợ cộng 10 vốn rồi mới đem cho vay — cách phân tích phản ánh tư duy quỹ vốn có sẵn mới cho vay.
3. 𝑪𝒉𝒊 𝒑𝒉𝒊́ 𝒄𝒐̛ 𝒉𝒐̣̂𝒊 𝒄𝒖̉𝒂 𝒗𝒐̂́𝒏
Với 10 vốn, ngân hàng có hai lựa chọn: giữ lại làm đệm cho khoản vay, hoặc chia cổ tức để cổ đông cầm tiền tự đầu tư vào tài sản cùng mức rủi ro và hưởng suất sinh lời rE. Vì thế giữ vốn lại để cho vay mất chi phí cơ hội rE.
Cổ đông nhận cổ tức từ lợi nhuận sau thuế, còn khoản vay tạo lợi nhuận trước thuế rồi mới nộp thuế. Muốn giao rE sau thuế cho cổ đông, khoản vay phải kiếm rE/(1 − t) trước thuế trên phần vốn:
Chi phí vốn = [ rE /(1 − t) ] · cw
4. 𝑪𝒉𝒊 𝒑𝒉𝒊́ 𝒗𝒂̣̂𝒏 𝒉𝒂̀𝒏𝒉, 𝒅𝒖̛̣ 𝒑𝒉𝒐̀𝒏𝒈 𝒓𝒖̉𝒊 𝒓𝒐 𝒗𝒂̀ 𝒃𝒊𝒆̂𝒏 𝒍𝒐̛̣𝒊 𝒏𝒉𝒖𝒂̣̂𝒏
Khi tính lãi suất cho vay, ngân hàng cũng tính tới các yếu tố sau:
- Chi phí vận hành (C/EAD): thẩm định, nhân sự, quản lý và giám sát khoản vay, tính trên dư nợ.
- Dự phòng rủi ro — tổn thất kỳ vọng: không phải khách hàng nào cũng trả đủ, nên trung bình có một tỷ lệ tổn thất dự kiến, đo bằng EL = PD × LGD × EAD, với PD là xác suất vỡ nợ và LGD là tỷ lệ tổn thất khi vỡ nợ. Phần này được bù qua lãi và ghi nhận thành chi phí qua trích lập dự phòng.
- Biên lợi nhuận (m): phần vượt trên mức hòa vốn.
5. 𝑪𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒕𝒐̂̉𝒏𝒈 𝒒𝒖𝒂́𝒕
Cộng các chi phí lại:
rL = rf + [ rE /(1 − t) ] · cw + C/EAD + PD · LGD + m
Trong công thức này, rf có hệ số 1 vì thanh khoản phải đáp ứng cho cả khoản vay, còn vốn tự có chịu đủ rE/(1 − t) trên phần mật độ vốn cw. Công thức cho lãi suất tổng quát, đã gồm biên lợi nhuận m: đây là lãi suất ngân hàng thực sự chào. Nếu m = 0 sẽ được lãi suất hòa vốn — mức tối thiểu để khoản vay đủ bù mọi chi phí, kể cả chi phí vốn của cổ đông.
6. 𝑽𝒊́ 𝒅𝒖̣ 𝒃𝒂̆̀𝒏𝒈 𝒔𝒐̂́
Để hiểu công thức trên, trước tiên cho m = 0; toàn bộ giả định khác như sau:
- Quy mô khoản vay (dư nợ khi vỡ nợ): EAD = 100
- Mật độ vốn (vốn yêu cầu × trọng số rủi ro): cw = 10%
- Chi phí tài trợ biên (neo bởi R): rf = 5%
- Chi phí vận hành trên dư nợ: C/EAD = 1%
- Xác suất vỡ nợ: PD = 3%
- Tỷ lệ tổn thất khi vỡ nợ: LGD = 50%
- Suất sinh lời cổ đông yêu cầu: rE = 16%
- Thuế suất: t = 20%
Tính từng cấu phần (theo % trên dư nợ):
- Chi phí tài trợ = rf = 5,0% (tính trên cả 100)
- Chi phí vốn = rE/(1 − t) × cw = 16%/0,8 × 10% = 2,0% (0,8 = 1 − thuế suất 20%)
- Chi phí vận hành = 1,0%
- Dự phòng tổn thất kỳ vọng = PD × LGD = 3% × 50% = 1,5%
Cộng lại:
rL = 5,0% + 2,0% + 1,0% + 1,5% = 9,5%
Để ý, 9,5% phần lớn là chi phí, không phải lợi nhuận.
Trên một khoản vay 100, thu lãi 9,50. Trừ lần lượt các chi phí:
- Thu lãi: 9,50
- Trừ chi phí tài trợ (cả 100): −5,00
- Trừ chi phí vận hành: −1,00
- Trừ dự phòng rủi ro: −1,50
- Còn lại trước thuế: 2,00
- Trừ thuế 20%: −0,40
- Lợi nhuận sau thuế: 1,60
Lợi nhuận sau thuế 1,60 trên 10 vốn tự có là 16%, đúng bằng rE đã giả định vừa đủ bù đắp chi phí cơ hội của vốn, không phải lợi nhuận dôi dư. Muốn có lãi, ngân hàng đặt m ≠ 0.
7. 𝑳𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒍𝒂̃𝒊 𝒔𝒖𝒂̂́𝒕 đ𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒉𝒂̀𝒏𝒉
Trong công thức, rf được tính trên cả khoản vay, hệ số bằng 1: rf tăng bao nhiêu thì lãi suất cho vay hòa vốn tăng đúng bấy nhiêu.
Điều này hàm ý quan trọng, vì rf gắn chặt với lãi suất điều hành R. Khi ngân hàng trung ương nâng R, chi phí của nguồn vốn biên tăng theo, kéo rf và lãi suất cho vay cùng tăng. Đó là cách chính sách tiền tệ truyền tới lãi suất cho vay. Mức truyền từ R sang rf trên thực tế có thể không phải một-một — còn tùy cạnh tranh tiền gửi, kỳ hạn nguồn vốn và thanh khoản thị trường — nhưng chiều tác động luôn đồng biến.
Quan hệ này chỉ thấy được khi dùng chi phí biên rf. Nếu dùng chi phí huy động bình quân — vốn phản ánh các khoản đã huy động trong quá khứ và đổi chậm — thì khó thấy lãi cho vay phản ứng với R. Lý do là cho vay là quyết định ở biên, chỉ nhìn vào giá của đồng vốn mới nhất, định giá theo R hôm nay.
Khi rf tăng, ngân hàng có thể nâng lãi, siết hạn mức và tiêu chuẩn tín dụng, hoặc từ chối các khoản không đủ sinh lời điều chỉnh rủi ro (credit rationing). Vì vậy lãi suất điều hành cao hơn thường làm tín dụng và cung tiền tăng chậm lại.
8. 𝑲𝒆̂́𝒕 𝒍𝒖𝒂̣̂𝒏
Lãi suất cho vay không bắt đầu từ chi phí huy động, mà từ chi phí thanh khoản phát sinh khi giải ngân. Theo đó, ngân hàng cộng thêm chi phí cơ hội của vốn tự có phải giữ làm đệm, chi phí vận hành, và phần bù tổn thất kỳ vọng.
Cách hiểu quen thuộc huy động rồi cho vay nên tính lãi suất cho vay trên chi phí bên nguồn. Phương pháp ở bài này: Ngân hàng cho vay rồi mới lo nguồn cho phần đã giải ngân, nên cơ sở tính lãi là chi phí thanh khoản biên chứ không phải chi phí huy động có sẵn. Ngoài ra, vốn tự có là tấm đệm theo yêu cầu có chi phí cơ hội bằng rE, vì luôn có thể chia cổ tức, cũng phải được
Thầy Quoc Phu Pham