Trường Mầm Non Hòa Bình Phường Hòa Hưng

Trường Mầm Non Hòa Bình Phường Hòa Hưng

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Trường Mầm Non Hòa Bình Phường Hòa Hưng, School, P4 Bạch Mã, phường Hòa Hưng, Ho Chi Minh City.

19/01/2026

Đại hội Đảng XIV: Gánh vác trọng trách lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trọng trách lịch sử hiện nay là lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Sứ mệnh này đã được nêu bật trong chủ đề Đại hội Đảng XIV: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.” Đó là sự kết tinh bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển của cả dân tộc.
Với điểm tựa là những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, cùng các quyết sách đang được triển khai đồng bộ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển vào năm 2045 ngày càng được nhìn nhận như một đích đến có cơ sở. Sức mạnh của Đảng, được bồi đắp thông qua quá trình lãnh đạo có tính hệ thống, kiên định về mục tiêu nhưng linh hoạt trong phương thức, cùng sự đoàn kết của toàn dân tộc, sự đồng thuận và tham gia ngày càng sâu của toàn xã hội trở thành động lực mạnh mẽ để Đảng Cộng sản Việt Nam vững vàng gánh vác trọng trách lịch sử trong thời đại mới.
Như nhận định của học giả Nguyễn Hữu Động, chuyên gia bầu cử của Liên hợp quốc: “Đó không phải là kết quả của may mắn, mà là sản phẩm của một quá trình lãnh đạo có tính hệ thống, dựa trên kinh nghiệm lịch sử và khả năng thích ứng linh hoạt.”
Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, khả năng giữ vững định hướng chiến lược, đồng thời linh hoạt điều chỉnh phương thức lãnh đạo được xem là điểm mạnh nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ góc nhìn so sánh lịch sử, ông Assaf Talgam, nhà nghiên cứu của Đảng Cộng sản Israel, nhận định rất ít tổ chức chính trị có thể duy trì được sự lãnh đạo liên tục, đồng thời thích ứng linh hoạt với những yêu cầu mới của quản trị hiện đại như Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tinh thần tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng được xem như động lực nội sinh của những quyết sách mạnh mẽ thời gian qua. Việc thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, coi xây dựng và chỉnh đốn Đảng là yêu cầu thường xuyên đã góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo nền tảng cho các mục tiêu phát triển dài hạn.
Trong Văn kiện Đại hội Đảng XIV, lý luận về đường lối Đổi mới được chính thức xác định là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Loan, một kiều bào tích cực tham gia hoạt động của cộng đồng người Việt tại Trung Quốc, cho rằng quyết định này phản ánh bước phát triển quan trọng trong tiến trình tự hoàn thiện năng lực lãnh đạo của Đảng. Đây vừa là sự kế thừa chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa khẳng định bản lĩnh tự đổi mới, sáng tạo của Đảng trong bối cảnh lịch sử mới.
Nhà báo Ngụy Vi, Trưởng ban Việt ngữ Đài Phát thanh và Truyền hình Trung ương Trung Quốc, đánh giá rằng tư tưởng Đổi mới đã trở thành tư tưởng chỉ đạo quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, ngoại giao và an ninh. Theo ông, việc tiếp tục khẳng định quyết tâm Đổi mới phản ánh năng lực tổng kết thực tiễn và bổ sung, hoàn thiện tư duy lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới.
Bên cạnh vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được nhìn nhận là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho tiến trình phát triển. Mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng và nhân dân là yếu tố cốt lõi giúp Việt Nam duy trì ổn định chính trị và củng cố niềm tin xã hội.
Ông Patrik Köbele, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đức (DKP), khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ được thể hiện bằng các quyết sách, mà còn bằng mối quan hệ bền chặt với nhân dân - nền tảng bảo đảm sức mạnh trong lãnh đạo. Ở chiều ngược lại, sự nhất quán giữa định hướng chiến lược và hành động thực tiễn được xem là yếu tố quan trọng giúp củng cố niềm tin của nhân dân.
Trong khi đó, Giáo sư Furuta Motoo, Hiệu trưởng trường Đại học Việt-Nhật, nhấn mạnh đặc điểm nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn nhạy bén với nguyện vọng, ý chí và tâm trạng của nhân dân như câu nói “Lấy dân làm gốc.” Ông nêu rõ chừng nào truyền thống đó còn được duy trì, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước.
Trong không gian hội nhập ngày càng rộng mở, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng ngày càng có nhiều đóng góp cùng khối đại đoàn kết toàn dân. Ông Phan Kiên Cường, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển kinh tế-thương mại Việt Nam tại Séc (VICENDETI), cho biết việc tạo diễn đàn để kiều bào tham gia đóng góp ý kiến cho các văn kiện, nghị quyết và chính sách lớn là biểu hiện sinh động của chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Kiều bào không chỉ hưởng ứng về mặt tinh thần mà đang ngày càng thể hiện mong muốn đóng góp thực chất, bền bỉ và có trách nhiệm vào sự phát triển của đất nước. Đây là “nguồn lực đặc biệt quan trọng”, nếu được khơi thông và phát huy hiệu quả, sẽ đóng góp đáng kể cho công cuộc xây dựng và phát triển Việt Nam trong giai đoạn mới.
Luật sư Đặng Chiến Thắng, hiện sinh sống và làm việc tại Mỹ, chia sẻ quê hương luôn là cội nguồn mà mỗi người Việt hướng về, với mong muốn được đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Khi những rào cản còn tồn tại được từng bước tháo gỡ, niềm tin và sự gắn bó của kiều bào với quê hương ngày càng bền chặt hơn.
Góp tiếng nói từ góc nhìn của thế hệ tri thức trẻ Việt Nam đang học tập và làm việc ở nước ngoài, anh Hoàng Đình Thiết, sinh viên Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh (Trung Quốc), bày tỏ nếu có niềm tin, sự đoàn kết và quyết tâm cao, Đại hội XIV sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới, đầy triển vọng cho đất nước. Anh mong muốn Đại hội XIV sẽ tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, để mỗi người dân, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều ý thức rõ trách nhiệm của mình.
Hành trình hướng tới hai mục tiêu "100 năm" là một chặng đường dài, đòi hỏi sự kiên định, nhưng cũng cần linh hoạt và sáng tạo trong từng bước đi. Trong hành trình ấy, lời thề với lịch sử, với nhân dân sẽ được đo bằng hành động cụ thể, bằng sự đồng hành của xã hội và bằng niềm tin được bồi đắp qua thực tiễn.
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ là dấu mốc quan trọng để xác lập tầm nhìn và lựa chọn chiến lược cho giai đoạn tiếp theo, để con tàu Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng lòng của nhân dân trong và ngoài nước, sẽ tiếp tục đi đến mục tiêu 2030 và 2045 một cách thành công và bền vững./.

19/01/2026

Đại hội  XIV và lời hiệu triệu của thời đại: Tự chủ chiến lược, vươn mình mạnh mẽ
Trong thời khắc cả nước hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - sự kiện chính trị trọng đại có ý nghĩa định hướng tương lai dân tộc trong giai đoạn mới - chủ đề Đại hội vang lên như một lời hiệu triệu mạnh mẽ, kết tinh khát vọng phát triển và bản lĩnh Việt Nam: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình.
Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW vừa được ban hành về phát triển văn hóa Việt Nam càng củng cố thêm nền tảng tinh thần của dân tộc, khẳng định văn hóa không chỉ là “hồn cốt” mà còn là sức mạnh nội sinh quyết định năng lực tự chủ, tự cường và vị thế quốc gia trong thời đại hội nhập toàn diện.
Lời hiệu triệu cho bản lĩnh tự chủ chiến lược trong cục diện mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đặc biệt: Thế giới bước vào chu kỳ biến động sâu sắc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xung đột cục bộ và bất ổn khu vực diễn biến phức tạp; các thách thức phi truyền thống như an ninh mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng, đứt gãy chuỗi cung ứng… không còn là nguy cơ xa xôi mà đã trở thành thực tiễn hiện hữu tác động trực tiếp tới an ninh và phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh ấy, chủ đề Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một định hướng chính trị, mà là một tuyên ngôn về bản lĩnh dân tộc và tư thế quốc gia.
Điểm nhấn đặc biệt của chủ đề Đại hội XIV là yêu cầu “tự chủ chiến lược”. Đây là khái niệm ngày càng trở nên phổ biến trong tư duy phát triển của các quốc gia hiện đại, nhưng khi được đặt ở vị trí trung tâm trong chủ đề Đại hội, nó mang ý nghĩa rất sâu sắc: Việt Nam lựa chọn con đường vươn lên bằng nội lực; kiên định độc lập, tự chủ; không phụ thuộc, không bị dẫn dắt; không bị động trước các biến động bên ngoài; đồng thời chủ động, linh hoạt, khôn khéo trong hội nhập quốc tế toàn diện.
Tự chủ chiến lược trước hết là tự chủ về tầm nhìn và đường lối. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào “cơ hội ngắn hạn”, mà phải có bản lĩnh định hình tương lai: Biết mình là ai, muốn đi đâu, đi bằng cách nào và dựa trên những giá trị nào. Tự chủ chiến lược vì thế là bản lĩnh lựa chọn con đường phát triển dựa trên thực tiễn Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, văn hóa Việt Nam và khát vọng Việt Nam. Sự tự chủ này càng trở nên quan trọng khi thế giới đang trải qua sự phân cực, phân mảnh và cạnh tranh về chuẩn mực phát triển.
Nhưng tự chủ chiến lược không chỉ là một định hướng tư tưởng; tự chủ chiến lược phải được chuyển hóa thành năng lực quốc gia: Năng lực tự chủ công nghệ; năng lực tự chủ kinh tế; năng lực tự chủ về nguồn nhân lực; năng lực tự chủ quốc phòng, an ninh; năng lực tự chủ về quản trị và thể chế. Ở góc độ này, chủ đề Đại hội XIV đặt ra yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự cường gắn với hội nhập chủ động; củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; phát triển khoa học - công nghệ và chu.yển đ.ổi s.ố như đột phá chiến lược; nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia để đất nước “tiến mạnh” chứ không chỉ “đi tiếp”.
Trong chủ đề Đại hội XIV, cụm từ “chung sức, đồng lòng” mang tính chỉ dẫn về phương pháp. Bởi càng trong thời đại biến động, càng cần sức mạnh đoàn kết. Đoàn kết là giá trị xuyên suốt lịch sử dân tộc và là bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình, đoàn kết không chỉ là sức mạnh chính trị, mà còn là sức mạnh phát triển: Để mọi nguồn lực xã hội được giải phóng; để khu vực kinh tế tư nhân được khích lệ sáng tạo; để cộng đồng doanh nghiệp tự tin bước ra thị trường quốc tế; để người dân trở thành trung tâm và chủ thể của phát triển. Đoàn kết hôm nay không chỉ là đoàn kết “trong gian khó”, mà còn là đoàn kết “trong bứt phá”, đoàn kết để đi nhanh hơn, xa hơn và vững hơn.
Có thể nói, chủ đề Đại hội XIV thể hiện sự kết tinh của ba trụ cột: (1) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; (2) phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; và (3) xác lập bản lĩnh tự chủ chiến lược trong môi trường toàn cầu biến động. Đó là những trụ cột mang tính nền tảng để Việt Nam bước vào chặng đường 2026-2030 với khát vọng lớn, quyết tâm lớn và phương pháp hành động mới.
Văn hóa - sức mạnh nền tảng của tự cường, tự tin của dân tộc
Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, mọi thời kỳ hưng thịnh đều gắn với sự phát triển rực rỡ của văn hóa, và mọi bước ngoặt lớn đều dựa trên nền tảng tinh thần vững chắc. Chính vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam ngay trước thềm Đại hội XIV có thể xem như một bước đi có tính chiến lược: Tạo dựng “hậu phương tinh thần” cho sự nghiệp phát triển; củng cố nền tảng giá trị; khơi dậy tinh thần cống hiến; xây dựng con người - trung tâm của mọi cải cách.
Điều quan trọng nhất của Nghị quyết 80 là sự xác lập rõ ràng vị trí của văn hóa: Văn hóa không chỉ là lĩnh vực xã hội thuần túy, mà là “nguồn lực nội sinh quan trọng” hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam. Nghị quyết nhấn mạnh: Phát huy hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước. Đây là tư duy mới có chiều sâu, phù hợp với tinh thần phát triển hiện đại: Coi văn hóa như “hệ điều hành” của xã hội, điều tiết hành vi, chuẩn mực, đạo đức, kỷ luật, niềm tin; từ đó tạo ra môi trường phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đề cao tự chủ chiến lược, Nghị quyết 80 càng cho thấy: Tự chủ chiến lược không thể chỉ là tự chủ về kinh tế và công nghệ, mà còn phải là tự chủ về văn hóa, tự chủ về bản sắc, tự chủ trong việc bảo vệ hệ giá trị Việt Nam trước những tác động phức tạp của mặt trái toàn cầu hóa và không gian số. Một quốc gia mạnh về vật chất nhưng suy yếu về văn hóa sẽ khó duy trì sự bền vững. Một xã hội có thể tăng trưởng nhanh nhưng thiếu nền tảng đạo đức, thiếu kỷ cương, thiếu văn hóa pháp luật, thiếu niềm tin xã hội… sẽ đối diện nguy cơ “tự đánh mất mình” trong quá trình phát triển.
Nghị quyết 80 vì thế đặt ra yêu cầu cấp bách: Chấn hưng văn hóa. Chấn hưng ở đây không phải là khẩu hiệu, mà là sự đổi mới toàn diện tư duy phát triển văn hóa: Đưa văn hóa vào trọng tâm chiến lược quốc gia; hoàn thiện thể chế; đầu tư đúng mức; phát triển hạ tầng văn hóa; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bồi dưỡng nhân cách, lối sống, tinh thần công dân; nâng cao năng lực sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của nhân dân.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên vươn mình, yếu tố con người càng trở nên quyết định. Con người Việt Nam hôm nay không chỉ cần lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết, mà còn phải có năng lực số, kỷ luật lao động, ý thức thượng tôn pháp luật, khả năng hội nhập, tinh thần sáng tạo, trách nhiệm xã hội. Những phẩm chất ấy không tự nhiên hình thành, mà phải được bồi dưỡng bởi giáo dục, bởi gia đình, bởi xã hội, và sâu xa nhất là bởi môi trường văn hóa. Nghị quyết 80 đặt trọng tâm vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện - đó chính là nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia.
Với Báo Quân đội nhân dân - Cơ quan của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, Nghị quyết 80 càng có ý nghĩa đặc biệt khi đặt văn hóa trong mối quan hệ với quốc phòng, an ninh: Văn hóa là “thế trận lòng dân”, là nguồn sức mạnh tinh thần để bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: Khi lòng dân đồng thuận, khi niềm tin được củng cố, khi chính nghĩa và văn hóa dân tộc trở thành điểm tựa, thì không một thế lực nào có thể khuất phục được Việt Nam. Trong thời đại mới, chiến tranh và xung đột không chỉ diễn ra bằng vũ khí, mà còn bằng thông tin, bằng truyền thông, bằng thao túng nhận thức và giá trị. Vì vậy, xây dựng sức đề kháng văn hóa của xã hội chính là góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền từ gốc rễ.
Kỳ vọng vào Đại hội XIV: Tạo đột phá thể chế - khơi dậy khát vọng - xây dựng sức mạnh mềm của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Đại hội XIV được nhân dân kỳ vọng không chỉ bởi những quyết sách quan trọng, mà còn bởi khả năng mở ra một giai đoạn phát triển mới: Phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, hiện đại hơn và nhân văn hơn. Trong bối cảnh ấy, có thể chia sẻ ba kỳ vọng lớn.
Kỳ vọng thứ nhất: Đại hội XIV sẽ tạo ra đột phá thực chất về thể chế phát triển, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và năng lực thực thi. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước đều cho thấy: Nguồn lực quan trọng nhất của phát triển không chỉ là tiền, không chỉ là tài nguyên, mà là thể chế. Một thể chế tốt sẽ giải phóng mọi nguồn lực; một thể chế trì trệ sẽ làm nghẽn cả xã hội. Vì thế, kỳ vọng lớn nhất của tôi là Đại hội XIV của Đảng sẽ tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ luật hành chính, cơ chế phân cấp - phân quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực; tạo ra môi trường minh bạch, công bằng, cạnh tranh lành mạnh để mọi thành phần kinh tế cùng phát triển.
Đột phá thể chế cũng phải gắn với phát triển văn hóa, bởi thể chế không thể vận hành nếu thiếu nền tảng văn hóa thực thi pháp luật. Có luật tốt mà cán bộ yếu kỷ luật, thiếu liêm chính, thiếu văn hóa công vụ thì luật sẽ “đẹp trên giấy”. Do đó, tôi kỳ vọng Đại hội XIV sẽ nhấn mạnh sâu sắc hơn yêu cầu xây dựng đạo đức công vụ, kỷ luật hành chính, tinh thần phụng sự nhân dân; coi đây như “hạ tầng mềm” quan trọng của quốc gia.
Kỳ vọng thứ hai: Đại hội XIV sẽ khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần sáng tạo, sức bật của thế hệ trẻ và toàn xã hội. Một đất nước muốn vươn mình cần một “tinh thần quốc gia” đủ mạnh. Khát vọng phát triển không thể là khát vọng của riêng Nhà nước, mà phải là khát vọng của toàn dân. Điều đó đòi hỏi các chính sách phải biết tôn trọng, khích lệ, nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo; tạo cơ hội để người dân “dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân”; tạo môi trường để thế hệ trẻ nhìn thấy tương lai của mình trong tương lai của đất nước.
Trong bối cảnh chu.yển đ.ổi s.ố và hội nhập toàn diện, kỳ vọng ấy càng trở nên cấp thiết. Người trẻ Việt Nam cần được tiếp sức bằng tri thức, bằng cơ hội học tập, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; nhưng cũng cần được bồi dưỡng bản lĩnh văn hóa, bản lĩnh chính trị, khả năng nhận diện các nguy cơ sai lệch trên không gian mạng. Đây chính là chỗ Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa thể hiện ý nghĩa chiến lược: Xây dựng thế hệ công dân mới vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc; vừa sáng tạo, vừa có trách nhiệm; vừa hội nhập, vừa tự chủ.
Kỳ vọng thứ ba: Đại hội XIV sẽ nâng tầm sức mạnh mềm Việt Nam, coi văn hóa là một trong những trụ cột chiến lược của phát triển quốc gia. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, quốc gia không chỉ cạnh tranh bằng kinh tế và quân sự, mà còn cạnh tranh bằng hình ảnh, giá trị, văn hóa, uy tín. Sức mạnh mềm quyết định mức độ một quốc gia được tôn trọng, được tin cậy và được lựa chọn. Việt Nam có truyền thống văn hóa ngàn năm, có bản sắc đặc sắc, có di sản phong phú, có khả năng sáng tạo lớn. Nhưng vấn đề là phải chuyển hóa những tiềm năng ấy thành sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu, không gian văn hóa và công nghiệp văn hóa đủ sức cạnh tranh khu vực và thế giới.
Nghị quyết 80 đã nhấn mạnh phát triển văn hóa gắn với phát triển bền vững và nâng cao sức mạnh nội sinh. Tôi kỳ vọng Đại hội XIV sẽ cụ thể hóa mạnh mẽ hơn những định hướng ấy: Đầu tư xứng đáng cho văn hóa; phát triển công nghiệp văn hóa như một động lực kinh tế mới; hình thành hệ sinh thái sáng tạo; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và an toàn trong không gian số; tăng cường ngoại giao văn hóa; đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới với tư thế tự tin, hiện đại và giàu bản sắc.
Một đất nước “tự chủ chiến lược” không thể là đất nước đi vay mượn hình ảnh, đi vay mượn giá trị, đi vay mượn niềm tin. Chúng ta phải tự xây dựng cho mình một “thương hiệu quốc gia” dựa trên chính bản lĩnh và bản sắc của dân tộc. Và văn hóa là con đường ngắn nhất để làm điều đó.
Đại hội XIV là một cột mốc quan trọng trên hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030 và xa hơn. Chủ đề Đại hội đã khẳng định rõ tư thế mới của Việt Nam: Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình. Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, được ban hành ngay trước thềm Đại hội, càng nhấn mạnh một chân lý có tính nền tảng: Muốn vươn mình mạnh mẽ, Việt Nam phải mạnh từ gốc rễ - gốc rễ ấy chính là văn hóa và con người.
Với truyền thống cách mạng kiên cường, với ý chí và bản lĩnh của một dân tộc từng đi qua biết bao thử thách, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng rằng Đại hội XIV sẽ tạo ra những quyết sách đủ tầm, đủ lực, đủ cảm hứng để đưa đất nước bước vào chặng đường phát triển mới: Phồn vinh hơn, hạnh phúc hơn, tự tin hơn và vững vàng hơn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Và trong hành trình ấy, mỗi người Việt Nam - dù ở vị trí nào - cũng đều có thể góp một phần trách nhiệm và niềm tin: Chung sức, đồng lòng, giữ vững bản lĩnh, nuôi dưỡng văn hóa, bồi đắp khát vọng, để đất nước ta thực sự “tiến mạnh” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

18/01/2026

“Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bài nói bế mạc tại Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ 6 ngày 18-1-1949: “… Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên về việc này trong thời điểm Đảng ta đang tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc. Người khẳng định, nhân dân là “nền gốc” sinh ra cán bộ, là cái “nôi” nuôi dưỡng, giúp đỡ cán bộ trưởng thành, phát triển. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải luôn tự phê bình, nhận rõ những yếu kém, khuyết điểm về đạo đức, quan hệ quần chúng và hậu quả nguy hại từ những yếu kém, khuyết điểm đó. Nhiệm vụ cấp bách mà thực tiễn cách mạng lúc này đang đòi hỏi là phải tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với quần chúng nhân dân; từng cán bộ, đảng viên phải tự soi mình, sửa chữa ngay những yếu kém, khuyết điểm về đạo đức, thực hành tiết kiệm, chỉnh sửa lối làm việc, xây dựng tác phong công tác khoa học, gần dân.

Lời nói, cùng tấm gương đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh như nguồn sáng tiếp thêm sức mạnh cho Đảng trong nhiệm vụ lãnh đạo nâng cao chất lượng xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lời của Người nhanh chóng được truyền lan khắp mọi nơi, biến thành hành động cách mạng. Thông qua thực hiện lời của Người, những thói hư, tật xấu, lối làm việc cá nhân chủ nghĩa, thiếu khoa học, kém hiệu quả trong cán bộ, đảng viên dần được phát hiện, chấn chỉnh khắc phục, góp phần làm trong sạch Đảng, củng cố đoàn kết trong nội bộ Đảng, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Đến hôm nay, lời của Người năm xưa là tài liệu quý, để cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập có ý nghĩa giáo dục có giá trị, đang được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân nghiên cứu học tập, làm theo, liên hệ thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, lạc hậu; chống các hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng đến xây dựng môi trường văn hóa; ngăn ngừa biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị , đạo đức lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Photos from Cờ Đỏ Tp. Hồ Chí Minh's post 18/01/2026
18/01/2026

Đại hội XIV của Đảng - thời khắc lịch sử của dân tộc

Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại có ý nghĩa định hướng tương lai dân tộc trong giai đoạn mới. Đây là thời khắc lịch sử để triệu triệu người Việt Nam ở trong và ngoài nước chung sức, đồng lòng với kỳ vọng lớn lao về giai đoạn "tiến mạnh và bền vững hơn" của dân tộc dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng.

Theo Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung (Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Phục hồi chức năng vận động thần kinh của Bệnh viện Bullion (Pháp), trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong các giai đoạn lịch sử vừa qua, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện rõ ở khả năng định hướng chiến lược, xử lý linh hoạt các thách thức trong bối cảnh khu vực và quốc tế biến động nhanh chóng, phức tạp.

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc (sau là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã không ngừng nỗ lực, xúc tiến công việc chuẩn bị về mọi mặt để thành lập một đảng cộng sản để có thể đảm nhận vị trí lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam. Trước đó, các tổ chức cách mạng như Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã ra đời, nhưng thiếu sự thống nhất và liên kết hiệu quả. Hội nghị hợp nhất các tổ chức này tại Hương Cảng (Trung Quốc) đã khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do.

Kể từ ngày đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trải qua bao gian khó để giành độc lập tự do cho dân tộc ta với những cột mốc lịch sử chói lọi. Đó là Tuyên ngôn Độc lập cho đất nước vào ngày 2/9/1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954. Rồi đất nước Việt Nam tiến tới Chiến thắng 30/4 giải phóng miền nam và thống nhất đất nước, non sông thu về một mối.

Kể từ năm 1975 đến nay, Việt Nam đã vượt ngàn vạn gian khó. Trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt, dân tộc Việt Nam lại phải vừa xây dựng đất nước, vừa củng cố bờ cõi biên cương, lại phải vượt qua thời kỳ vô cùng khó khăn do cấm vận. Nhưng không gì có thể cản nổi sự vươn lên của một dân tộc với khao khát bảo vệ vững chắc độc lập và chủ quyền, xây dựng đất nước đẹp giàu, đồng thời nỗ lực là thành viên có trách nhiệm của thế giới, là bạn, là đối tác tin cậy trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau.

Bằng những nỗ lực ấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu tuyệt vời, làm bạn bè thế giới từ kinh ngạc đến thán phục. Từ một đất nước nghèo đói, đến nay Việt Nam đã bước vào giai đoạn có mức thu nhập trung bình cao, với GDP ở mức 514 tỷ đô la. Nhưng điều đặc biệt quan trọng là tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 3%.

Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung nhấn mạnh: Những quyết sách rất sáng suốt và rất nhân văn của Đảng và Nhà nước, đó là không để ai bị bỏ lại với tinh thần trợ giúp vùng sâu, vùng xa để tiếp tục xóa đói, giảm nghèo. Rồi tới những chính sách xây dựng trường học với cơ sở vật chất hiện đại ở vùng khó khăn, tạo điều kiện cho các cháu vùng sâu vùng xa được hưởng những điều kiện giáo dục tốt nhất. Đấy chính là những bước đi quyết định xóa đói giảm nghèo về chiều sâu.Kể từ ngày đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trải qua bao gian khó để giành độc lập tự do cho dân tộc ta với những cột mốc lịch sử chói lọi. Đó là Tuyên ngôn Độc lập cho đất nước vào ngày 2/9/1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954. Rồi đất nước Việt Nam tiến tới Chiến thắng 30/4 giải phóng miền nam và thống nhất đất nước, non sông thu về một mối.

Kể từ năm 1975 đến nay, Việt Nam đã vượt ngàn vạn gian khó. Trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt, dân tộc Việt Nam lại phải vừa xây dựng đất nước, vừa củng cố bờ cõi biên cương, lại phải vượt qua thời kỳ vô cùng khó khăn do cấm vận. Nhưng không gì có thể cản nổi sự vươn lên của một dân tộc với khao khát bảo vệ vững chắc độc lập và chủ quyền, xây dựng đất nước đẹp giàu, đồng thời nỗ lực là thành viên có trách nhiệm của thế giới, là bạn, là đối tác tin cậy trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau.

Bằng những nỗ lực ấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu tuyệt vời, làm bạn bè thế giới từ kinh ngạc đến thán phục. Từ một đất nước nghèo đói, đến nay Việt Nam đã bước vào giai đoạn có mức thu nhập trung bình cao, với GDP ở mức 514 tỷ đô la. Nhưng điều đặc biệt quan trọng là tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 3%.

Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung nhấn mạnh: Những quyết sách rất sáng suốt và rất nhân văn của Đảng và Nhà nước, đó là không để ai bị bỏ lại với tinh thần trợ giúp vùng sâu, vùng xa để tiếp tục xóa đói, giảm nghèo. Rồi tới những chính sách xây dựng trường học với cơ sở vật chất hiện đại ở vùng khó khăn, tạo điều kiện cho các cháu vùng sâu vùng xa được hưởng những điều kiện giáo dục tốt nhất. Đấy chính là những bước đi quyết định xóa đói giảm nghèo về chiều sâu.

Những ngôi nhà tình nghĩa, được xây dựng trong "Chiến dịch Quang Trung" thần tốc để giúp bà con vùng lũ lụt vừa qua an cư lạc nghiệp, thật sự đi thẳng vào lòng người.

Tinh thần đổi mới sáng tạo đã đi sâu vào cuộc sống với những cải cách hành chính sâu rộng, đưa bộ máy quản lý Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn, gần dân hơn và giảm lãng phí nguồn lực.

Nhưng trên hết đó là quyết tâm xây dựng đất nước ta trở thành một đất nước giàu có hiện đại, dựa trên khoa học công nghệ. Đây chính là một quyết sách chiến lược quan trọng nhất, góp phần đưa tri thức trong và ngoài nước vào công cuộc xây dựng đất nước.

Bên cạnh đó, trước tình hình thế giới biến động với nhiều rủi ro cho sự ổn định chính trị và kinh tế, việc phát triển đất nước đòi hỏi một sự ổn định về chính trị ở trong nước. Chính vì vậy, sự thống nhất và đoàn kết trong Đảng luôn luôn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của Việt Nam.

Đề cập đến tương lai phát triển của đất nước Việt Nam, Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung nói: Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã nêu rõ định hướng chiến lược đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên phát triển thành một đất nước giàu mạnh dựa vào khoa học - kỹ thuật.

Mục tiêu là hướng tới một đất nước phát triển có sự đóng góp của mọi thành phần kinh tế của xã hội, một đất nước có sự đóng góp của cả nền kinh tế tư nhân và nhà nước, có sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Một đất nước không chỉ là của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước mà còn là đất nước của hơn 6 triệu kiều bào ở nước ngoài.

Nhiệm vụ đấy chính là nhiệm vụ nặng nề và cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trọng trách lớn lao này đang ở vào thời khắc lịch sử. Đó là thời khắc của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

"Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự sáng suốt, và tinh thần và trách nhiệm làm việc cao nhất, chắc chắn Đại hội Đảng lần này sẽ mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời kỳ phát triển rực rỡ. Thời điểm ấy đã đến, xin chúc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công rực rỡ, đưa đất nước ta vào thời kỳ cất cánh huy hoàng", Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung bày tỏ.

NDO

18/01/2026

Văn hóa bộ đội cụ Hồ trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên mới, khi những thuận lợi và thách thức đan xen, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được gìn giữ, vun đắp và nâng tầm, trở thành một nét đẹp văn hóa tiêu biểu của đời sống hiện đại. Một trong những giá trị nổi bật thời hiện đại của văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, đó chính là vững vàng về khoa học-công nghệ (KHCN). Đây là một trong những thành tố quan trọng để Quân đội cùng dân tộc vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Trong kháng chiến và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, hình ảnh người lính gắn với sự chịu đựng gian khổ và lòng dũng cảm nơi chiến trường bom rơi đạn nổ ác liệt, nơi ranh giới giữa sự sống và hy sinh chỉ cách nhau gang tấc. Hiện nay, những phẩm chất ấy của người lính tiếp tục được thử thách và khẳng định cả trong một không gian mới, không gian của KHCN, của trí tuệ và sáng tạo.

Từ những năm tháng còn nhiều khó khăn, khi vũ khí, trang bị kỹ thuật còn thô sơ, chủ yếu dựa vào viện trợ và tiếp nhận, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sớm lựa chọn một con đường không dễ: Vừa tiếp thu, vừa học hỏi, vừa từng bước làm chủ công nghệ. Ban đầu là sửa chữa, bảo dưỡng, kéo dài niên hạn từng loại vũ khí, khí tài; sau đó là cải tiến, nâng cấp để đánh thắng kẻ thù xâm lược ở các hình thái chiến tranh vệ quốc mới, hiện đại hơn. Dần dần, từ trong các nhà máy quốc phòng, viện nghiên cứu quân sự, những sản phẩm mang dấu ấn trí tuệ Việt đã ra đời, giản dị, chắc chắn, bền bỉ, đúng như phong cách của người lính Việt Nam.

Người lính hôm nay không chỉ khai thác, quản lý, sử dụng vũ khí, mà đã hiểu bản chất công nghệ lõi, làm chủ quy trình nghiên cứu, cải tiến, sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới. Từ phòng thí nghiệm đến thao trường, từ bản vẽ kỹ thuật đến sản phẩm hoàn chỉnh, dấu ấn trí tuệ của người lính ngày càng rõ nét, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của Quân đội và khả năng tự chủ quốc phòng của đất nước ở một tầm cao mới.

Hiện nay, việc ứng dụng KHCN trong quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả vũ khí trang bị trở thành một yêu cầu mang tính văn hóa. Kỷ luật, tiết kiệm, chính xác vốn là những giá trị truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ thì nay được thể hiện bằng sự say mê nghiên cứu với tác phong làm việc khoa học, làm chủ hệ thống dữ liệu, bằng quy trình chuẩn, hạn chế đến mức thấp nhất lãng phí và sai sót. Mỗi trang bị được bảo quản tốt, mỗi khí tài được khai thác, vận hành đúng và phát huy tối đa công năng đã phản ánh tri thức, trình độ kỹ thuật, ý thức trách nhiệm và nhân cách nghề nghiệp của người lính trong thời đại mới.

Ở chiều sâu hơn, làm chủ KHCN còn là biểu hiện của bản lĩnh tự cường, của khát vọng vươn lên bằng trí tuệ Việt Nam. Khi người lính biết biến tri thức thành sức mạnh, biến công nghệ thành công cụ bảo vệ Tổ quốc, thì văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được bồi đắp thêm một lớp giá trị mới, bền vững, hiện đại nhưng không xa rời cốt lõi “vì nước, vì dân”. Chính lớp giá trị ấy đang góp phần làm cho hình ảnh người quân nhân cách mạng hôm nay vừa quen thuộc trong truyền thống, vừa thuyết phục trong chinh phục đỉnh cao trí tuệ ở kỷ nguyên phát triển mới.

Đặc biệt, trong các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng, hình ảnh người lính thợ bên dây chuyền sản xuất, máy móc hiện đại đã trở nên quen thuộc. Họ vừa là người lính, vừa là thợ lành nghề, vừa là kỹ sư, vừa là nhà khoa học mang trong mình tác phong Quân đội và tư duy công nghiệp. Chính sự kết hợp ấy đã tạo nên một diện mạo văn hóa mới: Cần mẫn, sáng tạo, tiết kiệm, không ngừng cải tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm quốc phòng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Những minh chứng sống động ấy cho thấy, làm chủ và phát triển vũ khí, khí tài mới không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay kinh tế thuần túy, mà là thành tố của văn hóa giữ nước. Đó là văn hóa học tập suốt đời, văn hóa lao động sáng tạo, văn hóa trách nhiệm với từng trang bị, từng sản phẩm gắn liền với sinh mệnh con người và sức mạnh mềm của quốc gia-dân tộc. Khi KHCN thấm vào nếp nghĩ, cách làm của người lính thì phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được mở rộng thêm một chiều kích mới: Hiện đại, trí tuệ nhưng vẫn bền chặt với cốt lõi truyền thống.

Ngày nay, ở mức độ cho phép công bố, có thể thấy rõ Quân đội đã tự sản xuất được nhiều loại vũ khí bộ binh, đạn dược, trang bị cá nhân phục vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; nghiên cứu, chế tạo và cải tiến nhiều loại khí tài kỹ thuật, thiết bị thông tin, chỉ huy, trinh sát, giám sát; từng bước làm chủ các công nghệ mới trong lĩnh vực radar, tác chiến điện tử, công nghệ thông tin quân sự. Đặc biệt, việc nghiên cứu và chế tạo các phương tiện không người lái, các sản phẩm phục vụ bảo vệ an ninh mạng, mô phỏng huấn luyện đã mở ra một không gian hoàn toàn mới, nơi người lính Việt Nam đứng giữa giao điểm của kỷ luật Quân đội và tư duy khoa học hiện đại.

Cùng với sản xuất, việc ứng dụng KHCN vào quản lý, khai thác và sử dụng vũ khí, trang bị cũng tạo nên một chuyển biến mang tính văn hóa. Từ quản lý thủ công sang số hóa dữ liệu; từ kinh nghiệm cá nhân sang quy trình khoa học; từ bảo quản thụ động sang chủ động dự báo, phòng ngừa... tất cả đều cho thấy một tư duy mới đang hình thành. Kỷ luật truyền thống của người lính nay được “hiện đại hóa” bằng công nghệ, bằng phương pháp làm việc khoa học, minh bạch và hiệu quả. Đó là sự tiếp nối tự nhiên giữa quá khứ và hiện tại, giữa phẩm chất chịu đựng gian khổ và năng lực làm chủ tri thức.

Quan trọng hơn, đằng sau những sản phẩm vũ khí, khí tài cụ thể là sự hình thành một năng lực nội sinh: Năng lực làm chủ của con người, làm chủ quy trình, làm chủ công nghệ. Quân đội không chỉ “có” vũ khí mà làm chủ vũ khí, không chỉ sử dụng mà biết cải tiến, phát triển cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Chính năng lực ấy tạo nên bản lĩnh tự cường, giúp đất nước giảm dần sự phụ thuộc, chủ động hơn trong bảo đảm quốc phòng. Điều đó đã khẳng định vị thế trí tuệ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Nhìn ở chiều sâu văn hóa, việc tự sản xuất vũ khí, khí tài thông minh, hiện đại không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật hay kinh tế mà là câu chuyện về trí tuệ và nhân cách người lính. Đó là văn hóa học tập suốt đời, khi tri thức trở thành hành trang không thể thiếu; là văn hóa lao động sáng tạo, khi mỗi sáng kiến đều được trân trọng; là văn hóa trách nhiệm, khi từng sản phẩm được làm ra bằng ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong môi trường ấy, người lính không chỉ trưởng thành về chuyên môn mà còn được bồi đắp chiều sâu của tinh thần yêu nước.

Từ phòng thí nghiệm đến thao trường, từ nhà máy quốc phòng đến đơn vị cơ sở, một nấc thang giá trị văn hóa mới đang được hình thành trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Nấc thang giá trị ấy không thay thế truyền thống mà nâng truyền thống lên một tầm cao mới, tầm cao của giá trị, vị thế, uy tín quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế.

Trong dòng chảy thầm lặng ấy, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ hiện lên vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, nhưng vẫn giản dị, khiêm nhường, ngày càng vững vàng, hiện đại, đủ bản lĩnh để đứng vững, vượt qua thử thách. Vì vậy, quán triệt và thực hiện khâu đột phá phát huy giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới là cơ sở quan trọng hàng đầu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và tư tưởng chỉ đạo chiến lược “5 vững": Chính trị vững-Kỷ luật vững-Công nghệ vững-Nghệ thuật quân sự vững-Đời sống bộ đội vững” của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address


P4 Bạch Mã, Phường Hòa Hưng
Ho Chi Minh City