Chỉnh Thể Văn Hóa

Chỉnh Thể Văn Hóa

Share

Trang fanpage Chỉnh thể Văn hóa nhằm mục tiêu chia sẻ giá trị Tri thức, Học thuật; Tư tưởng Đông-Tây, Nghệ thuật, Lịch sử, Thi ca, Mỹ học.v.v.

13/03/2026

QUAN ĐIỂM VỀ “DANH” GIỮA LÃO TỬ VÀ KHỔNG TỬ

Nói đến tư tưởng phương Đông, dường như nó hoàn toàn đối lập với tính tri thức của các trường phái phương Tây, sự khác biệt này, nó không biểu thị cho tính đúng sai, cao thấp giữa hai trường phái Đông và Tây, mà nó thể hiện chiều sâu cộng thức Văn hóa của hai nền văn minh tiêu biểu của nhân loại.
Tư tưởng phương Đông, không lấy tính tri thức làm trung tâm, chỉ chú trọng về giá trị sinh mệnh của đời người, tiêu biểu như triết lý cao sâu, điển hình về “Đạo” của Lão Tử. Quan điểm về “Đạo” thời Tiên Tần trong xã hội Trung Hoa cổ đại, đơn thuần chỉ nói đến tính “Thiên đạo” mà thôi, cho đến giai đoạn Lão Tử thì Ông mới chính là người nâng tầm mức cái gọi là “Đạo” lên tầm cao mới, lẽ “Đạo” của Ông là “Cái nó vốn có mặt, vận hành trước khi con người sinh ra và có mặt”, tức “Tiên thiên chi đạo”. Vì vậy, nếu dựa vào mặt “Danh ngôn”, tức thông qua ngôn ngữ hàm súc để biểu đạt khả tính của vạn sự vạn vật, đó là điều bất khả. Cho nên, khi nói về “Đạo”, Lão Tử cho rằng:
“Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh.”
Điều này, không nhằm thể hiện một sự biện minh yếu kém về mặt diễn đạt bản chất của vạn vật, mà nó biểu đạt hàm ý sâu xa rằng một khi “dùng danh ngôn để biểu thị khả tính của Đạo và Danh, thì đó không còn được xem là Đạo và Danh nữa”. Điều này, mang hàm ý và minh chứng rằng “Lẽ Đạo của Lão Tử là Vô danh”, tức “Đạo” thuần túy thuộc về mặt “kinh nghiệm cảm nhận” và “tư duy lý tính” của con người. Vì vậy, chúng ta không thể dùng ngôn ngữ để miêu tả bản chất của của sự vật đã từng có mặt và vận hành trước khi chúng ta sinh ra và có mặt.
Trong thời kỳ Tiên Tần bấy giờ, đối lập với quan điểm “Vô danh” của Lão Tử, chính là quan điểm “Chính danh” của Khổng Tử, “Chính danh” tức cần thông qua từ ngữ, ngôn ngữ để giải thích chuẩn xác, cụ thể đối với vạn vật. Quan điểm “Chính danh” này, thể hiện hàm ý cần sử dụng khái niệm danh từ chuẩn xác để miêu tả tính chất “đạo đức chính trị” của xã hội đương thời. Vì vậy, trong tác phẩm “Luận ngữ” đã nói rằng:
“Danh bất chính, tắc ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, tắc sự bất thành; sự bất thành, tắc lễ nhạc bất hưng; lễ nhạc bất hưng, tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng, tắc dân vô sở trách thủ túc.”
Qua quan điểm này, có thể thấy rằng, nếu Khổng Tử được tham chính tại nước Vệ, điều đầu tiên Ông cần làm là thực thi thiết đặt thuyết “Chính danh”, chỉ khi có “Danh chính”, tức danh nghĩa và danh phận xác đáng thì “Ngôn mới thuận”, tức nguyên tắc đạo đức mới được xác lập phù hợp. Ngôn đã thuận thì mới làm tốt việc mình cần làm, từ đó nền tảng văn hóa và đạo đức mới được thiết lập và được đề cao, tức “lễ và nhạc” được tôn trọng. Cho nên, “Danh” và “Ngôn” là biểu thị của chuẩn mực đạo đức và hành vi nghiêm cẩn, bất luận việc nhỏ nào đó cũng phải cẩn trọng và không thể khinh suất, đó cũng chính là yêu cầu tiên quyết để giữ trật tự qui củ trên mặt đạo đức.
Qua ý nghĩa nêu trên, có thể thấy rõ quan điểm khác biệt về “Danh” giữa Lão và Khổng. Lão Tử chú trọng lập trường “Vô danh” trên mặt bản chất của vũ trụ vạn vật, trái lại Khổng Tử đề cao tính “Chính danh” trên mặt chuẩn mực văn hóa và đạo đức nhằm thiết lập trật tự gia đình và xã hội hỗn loạn đương thời, để cùng kiến tạo một quốc gia an ổn.

Mitra Tử
Tiết Kinh Trập - 13.03.2026

24/02/2026

TỐNG XUÂN TỪ
(LỜI TIỄN XUÂN)
Triều đại: Đường
Tác giả: Vương Nhai

Vương Nhai, hiệu Quảng Luật, sinh vào năm thứ hai Tông Quảng Đức triều Đường, là thời kỳ nền văn học, thi ca hưng thịnh, với sự xuất hiện của nhiều Thi nhân tài năng xuất chúng, Vương Nhai được xem là một Thi nhân đa tài học rộng, tài năng của Ông không chỉ được thể hiện trên mặt thi ca mà còn được thừa nhận trên mặt âm nhạc. Năm hai mươi tám tuổi đã chính thức đỗ Tiến sĩ, sau đó nhậm chức Úy giám điền lúc bấy giờ. Vào thời Nguyên Hòa, Ông giữ chức Trung thư thị lang, cho đến thời Văn Tống, Ông đảm nhiệm chức Thượng thư sử bộ quản lý về mặt tài nguyên như Muối và Sắt, đồng thời cải cách mạnh mẽ về mặt luật pháp, thu thuế để mang lại lợi ích cho người dân.
Tuy mạnh mẽ trên mặt quản trị đất nước, nhưng chất thơ về cái nhìn nhân sinh và vạn vật của Ông phảng phất cái nhìn về nhân sinh trong qui luật biến thiên tự nhiên mang đậm tư tưởng Phật giáo. Quan niệm này, đã được Ông miêu tả rõ nét trong bài thơ “Tống xuân từ” như sau:
Nhật nhật nhân không lão,
Niên niên xuân cánh qui.
Tương hoan tại tôn tửu,
Bất dụng tích hoa phi.

Tạm dịch:
Ngày ngày lại qua đi, đời người mụ mị không hay biết tuổi già lại đến, tuy nhiên ngày xuân mỗi ngày mỗi năm đều sẽ đến. Hãy cùng nhau vui bên chén rượu xuân, đừng dại khờ thương tiếc sắc hoa phai.

Dịch thơ:
Ai biết tuổi già mỗi ngày qua
Sắc xuân nhẹ qua xuân hẹn đến
Cùng vui bên nhau nâng chén rượu
Đừng tiếc hoa xuân sẽ tàn phai

Lẽ thịnh suy của vạn vật trong thế gian là đều tất yếu, chúng chưa bao giờ là cố định, mà là quá trình đổi thay cùng nhau để tồn tại; cái này đi qua thì cái khác sẽ đến. Cuộc đời con người cũng vậy, đông qua xuân đến, tiết trời bốn mùa thay lá, thịnh suy, có và không, chẳng qua chỉ là sự thay đổi trong mối quan hệ giữa nhân sinh và vạn vật mà thôi, đừng vì những điều thay đổi đó mà cảm thấy tiếc nuối, khó chịu và tự làm đau lòng chính mình. Thời khắc hạnh phúc nhất là khi còn bên nhau, còn nói đùa, còn nâng chén rượu mừng trong niềm vui bình an, và hãy tận hưởng niềm vui đang có, cũng đừng bận lòng đến việc ngày tháng dần qua tuổi già đến, hoặc giả xuân đến xuân đi, thậm chí cũng đừng thương tiếc hoa khai hoa tàn, vì đó là lẽ tất yếu giữa cõi nhân gian, ta không thể thay đổi, chỉ có “Chấp nhận” vui tiễn một xuân qua mà thôi.

Mitra Tử
Tiết Vũ Thủy - 24.02.2026

16/02/2026

NGÀY BA MƯƠI TẾT TA

Do năm nay là tháng thiếu, ngày cuối cùng của năm Ất Tỵ là ngày 29, được xem như ngày Ba mươi Tết ta, còn được gọi là “Trừ tịch”, tức thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới trong tiết xuân yên bình. Ngày Ba mươi (29 Tết) được xem là ngày đặc biệt quan trọng trong tâm thức văn hóa của người Việt, nhà nhà đều nôn nao bận bịu quét dọn, bày trí, đốt đèn, thắp hương nghinh đón tổ tiên về nhà cùng cháu con ăn Tết với tâm thành ước nguyện gia tiên độ hộ cho gia đình một năm mới sung túc và an khang.
Trong thời điểm đánh dấu cột mốc mới của sinh mệnh đời người, cùng gió xuân se lạnh, thanh bình dễ dàng làm cho lòng người tĩnh lại để cảm nhận vẻ đẹp của muôn sắc hoa giữa cảnh xuân. Nói đến công việc bày trí, chuẩn bị nghinh đón một mùa xuân mới trong ngày Ba mươi, các loại bông loại hoa vốn được xem là biểu tượng tươi mới không thể thiếu trong mỗi gia đình, có người có gia đình chọn những cánh hoa cao sang, nhưng cũng có những cánh hoa bình dị, mộc mạc lại thân quen đi qua miền ký ức của muôn lớp người khi mỗi độ đông qua xuân đến, đó chính là bông “Mồng Gà” rất đỗi đơn thuần nhưng lại mang cả một miền xuân quê hương ấm áp và yên bình. Dẫu bông Mồng Gà đơn sơ và mộc mạc, nhưng đã đủ sức lay cảm tâm hồn thi nhân mặc khách trong chiều Ba mươi nơi mà phố phường nhộn nhịp lại nhường bước cho “Mặc khách trầm lắng”.
Vì vậy, nhà thơ Phạm Công Thiện trong bài thơ “Tuổi dại” đã miêu tả bông hoa Mồng Gà thân quen đi qua miền ký ức tuổi thơ của riêng ông và của mọi người trong chiều Ba Mươi Tết một cách mộc mạc và hồn nhiên:
Lơ lửng bông mồng gà
Chiều ba mươi tết ta
Tôi ôm gà tre nhỏ
Chạy trốn tuổi thơ qua
Cái nét đẹp mộc mạc của bông Mồng Gà trong nắng chiều Ba mươi Tết yên bình với tiếng gà gáy, giữa thời khắc chuyển giao tiết xuân, cũng như thời điểm chuyển giao của đời người, đã vẽ nên một nỗi nhớ về một cái Tết xưa đầy hồn nhiên, sum vầy, đoàn tụ và ước vọng.v.v mà mỗi người đều từng đi qua. Chính nét đẹp cũ kỹ này, đã trở thành một miền ký ức không thể phôi pha trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam dù đi đâu và ở đâu.

Trăng Hạ
Chiều 29 Tết ta - 16.02.2026

09/02/2026

TRỌNG XUÂN

Trong lịch sử Văn học Trung Quốc, Đào Uyên minh được xem là Thi nhân có cốt cách tu dưỡng và chịu ảnh hưởng trường phái “Ẩn sĩ” thời Ngụy Tấn. Tuy cả cuộc đời của Ông sống không màng danh vị và vật chất, nhưng ông đã thể hiện đời sống tinh thần phong phú qua các thi phẩm mà Ông đã để lại cho hậu thế.
Trong tập thơ “Tựa cổ”, tức vận dụng phong cách thơ cổ để thể hiện quan điểm, gồm có chín bài. Đặc biệt là bài thơ thứ ba miêu tả cảnh vật, côn trùng được đánh thức bởi sự chuyển giao của tiết Kinh trập của tiết Nguyên Tiêu tháng hai mùa Xuân trong khung cảnh Én lượn chao nghiêng, cảnh vật thiên nhiên biến chuyển, vạn vật sinh trưởng và tịch mịch như chính nỗi niềm u hoài của Ông như sau:

Trọng xuân cấu thời vũ,
Thủy lôi phát đông ngu.
Chúng trập các tiềm hãi,
Thảo mộc tung hoàng thư.
Phiên phiên tân lai yến,
Song song nhập ngã lư.
Tiên sào cố thượng tại,
Tương tương hoàn cựu cư.

Tạm dịch:
Vào tiết Trọng xuân cũng là lúc mưa xuân nhẹ bay, từng tiếng sấm rền ở hướng đông, làm cho các Côn trùng đang say giấc ngủ xuân yên bình phải kinh động, giựt mình thức giấc, cỏ cây thiên nhiên đổi thay giao thời sinh sôi nảy chồi. Những đôi Én mới chao lượn nhẹ nhàng bay nghiêng vào nhà theo từng đôi. Tổ cũ vẫn còn đó, chúng đã tìm về tổ ấm cũ kỹ ngày xưa.

Dịch thơ:
Tháng hai trời mưa xuân
Tuyết lạnh về phía đông
Muôn vật khẽ tỉnh giấc
Cỏ cây nảy chồi non
Đàn én xuân bay vội
Tìm về nơi tôi ở
Tổ ấm cũ còn đó
Về bầu bạn bên ta…

Bài thơ vay mượn hình ảnh đàn Én nhỏ giữa mùa xuân yên bình để biểu đạt cốt cách kiên trinh trong quyết định chọn lựa đời sống ẩn dật của Đào Uyên Minh, vượt lên mọi danh lợi quan trường, cũng như khí khí phách “Không cúi đầu khuất phục” trước việc nhà Lưu Tống thay thế nhà Tấn của Ông.

Trăng Hạ
Tiết Lập Xuân - 09.02.2026

06/02/2026

PHẨM CÁCH HOA CÚC

Cơn gió đông bất chợt tìm về, là lúc ta cảm nhận “Xuân vị bình yên” bắt đầu len qua từng hiên nhà trong những ngày cuối năm.
Trong sắc xuân khẽ chào, cũng là lúc muôn trùng hoa khoe vẻ đẹp của riêng mình, tuy nhiên, giữa giá lạnh gió xuân, không phải loài hoa nào cũng đủ vững vàng và hiên ngang đối diện cùng sương gió để có thể khoe sắc đẹp của chính mình, riêng cánh Cúc vàng vẫn một màu vàng ánh muôn thuở dù chịu bao khắc nghiệt khi đông qua rồi xuân đến để trao tặng cho nhân thế cánh hoa vàng đằm thắm, thanh tao nhưng đầy kiêu hãnh trước gió sương giá lạnh. Đó chính là phẩm cách thà chịu khô héo cành phai quyết không cúi đầu trước chúa xuân giá lạnh, phẩm cách “Ngẩng đầu cao thượng” này đủ để ta phải cảm thán, mến yêu, kính phục, chính phẩm cách này đã khích lệ những tâm hồn bé nhỏ yếu đuối nên dõng mãnh, hiên ngang đối diện trước muôn vàn gian khó để ngẫng cao đầu đầy niềm tin vào chính mình mà tiến về phía trước giữa cuộc đời vô vàn thử thách và gian khó. Có thể nói “Không phải vì hoa cúc đẹp kiêu hãnh mà lòng người thiên vị, chỉ yêu riêng mỗi cánh cúc vàng đẹp bình yên tựa nắng chiều vào xuân, mà vì sau khi cánh cúc vàng khai hoa, điểm trang cho mùa xuân yên bình, thì không còn tao hứng để thưởng ngắm những loài hoa khác”.
Hoa Cúc vốn đẹp bình dị, không cao sang như từng cánh Hồng kiêu sa, cũng không nhu mì như những cánh Lan e ấp như thẹn trước chúa xuân, nhưng lòng người yêu Cúc, cảm mến Cúc, thán phục từng cánh Cúc đa diện đa sắc, chính vì phẩm cách kiên cường và khí chất cao khiết của hoa, từ phẩm chất này, đủ làm ấm lại lòng người giữa mùa xuân giá lạnh và cũng đủ làm cho con người cảm thấy bình yên và hạnh phúc giữa nắng xuân dịu nhẹ mà bao nỗi muộn phiền chưa từng chạm đến được dù là một cõi cô đơn riêng đón mùa xuân an bình cho đến được sum vầy bên gia đình đầm ấm.
Ta yêu cánh Cúc đa sắc đa diện, cũng như ta đang yêu chính chuỗi sinh mệnh chưa từng yếu đuối và sợ hãi trước bao nỗi khắc nghiệt của cuộc đời. Có thể nói, tình yêu dành cho cánh Cúc dịu dàng và bình dị, cũng chính là tình yêu thiên chân dành tặng cho một ai đó sống cao thượng, đơn thuần, hiên ngang giữa hiện thực sống đẹp tựa từng cánh Cúc điểm vàng trong chiều xuân yên bình bất tận.

Trăng Hạ
Tiết Lập Xuân - 06.02.2026

04/02/2026

HỌ TỘC BÁT KỲ VÀ NGUỒN GỐC NGƯỜI MÃN CHÂU

Khi nói đến triều đại nhà Thanh trong bối cảnh lịch sử Trung Hoa cận đại, thường nghe nói đến từ “Bát kỳ”, như vậy, khái niệm “Bát kỳ” được hiểu như thế nào? Có ý nghĩa gì trong văn hóa của người Mãn Châu? Và được sắp xếp theo thứ bậc như thế nào?
​ Bát kỳ (cờ), tức biểu trưng của 8 ngọn cờ sắc màu khác nhau, đại diện cho 8 giai cấp địa vị trong một tổ chức do Nurhachi sáng lập, Ông được xem là Thái tổ của nhà Thanh (1559-1626). Tổ chức Bát kỳ, được xem là một đoàn thể biên chế hoàn chỉnh, có tính thống nhất cao trên mặt quản lý, tổ chức, sản xuất chế tạo và luyện binh chinh chiến. Trật tự giai cấp địa vị của tổ chức Bát kỳ được sắp xếp theo thứ bậc sau:
- Một là, Đầu kỳ.
- Hai là, Chánh hoàng kỳ.
- Ba là, Chánh bạch kỳ.
Ba thứ bậc cấp trên này, được gọi là “Thượng tam kỳ”. tức do đích thân hoàng đế nắm quyền điều hành và quản lý, được xem là đội thân binh tinh nhuệ của hoàng đế, có thân phận và địa vị tối cao trong chốn vương triều. Theo biên chế và qui tắc nhà Thanh, chỉ có những nhân tài trong đội tinh binh “Thượng tam kỳ” mới đủ tư cách, danh dự đảm nhận các chức vụ trong “Tử cấm thành” mà thôi.
- Bốn là, Tương bạch kỳ.
- Năm là, Chánh hồng kỳ.
- Sáu là, Tương hồng kỳ.
- Bảy là, Chánh lam kỳ (nền cờ màu xanh da trời).
- Tám là, Tương lam kỳ.
​ Năm thứ bậc cấp dưới này, được gọi là “Hạ ngũ kỳ”, tức do các Vương thần hoàng thân, Bối lặc, Bối tử.v.v thống lĩnh và điều hành quản lý. Chức trách trọng yếu của những quan thần trong đội quân “Hạ ngũ kỳ” chủ yếu trấn thủ kinh thành, các nơi quan yếu, nhưng không đủ danh dự và tư cách để phục vụ trong Tử cấm thành.
​ Trong trật tự của Vương công tôn thất “Bát kỳ”, họ Gūwalgiya được xem là điển hình, giữ vai trò thống lĩnh Đầu kỳ; họ Niohuru thống lĩnh Chánh hoàng kỳ; họ Sumuru thống lĩnh Chánh bạch kỳ; họ Heseri thống lĩnh Tương bạch kỳ; họ Tatara thống lĩnh Chánh hồng kỳ; Họ Gioro thống lĩnh Tương hồng kỳ; họ Tunggiya thống lĩnh Chánh lam kỳ và họ Nara-hala thống lĩnh Tương lam kỳ. Đến nay, tám họ tộc này vẫn được xem là họ tộc chính của người Mãn Châu.
​ Mãn Châu là một nước cổ, vị trí nằm ở hướng Đông của Trung Quốc, phía đông tiếp giáp Triều Tiên, phía Tây-Nam-Bắc tiếp giáp vùng Mông Cổ. Đất nước được quản lý nghiêm, tinh thần chiến đấu dũng mãnh, văn hóa đời sống của người Mãn Châu tương đồng với người Mông Cổ; sống trên yên ngựa và cũng chiến đấu trên yên ngựa, chỉ có ngôn ngữ và canh nông là khác với người Mông Cổ. Đời sống canh nông phong phú, thành lũy được xây dựng kiên cố, kỹ thuật luyện binh vốn nghiêm ngặt và khắc nghiệt.

Mitra Tử
Tiết Lập Xuân - 04.02.2026

Tài liệu tham khảo:
Thanh sử (清史)

28/01/2026

QUAN ĐIỂM VẠN VẬT HỮU LINH

​ Trong xã hội con người nguyên thủy, từ cá nhân cho đến tập thể, mỗi vấn đề xảy ra và xoay quanh họ đều mang yếu tố của tính “Thần bí”, do đó, họ sùng bái đối với tất cả sự vật hiện tượng; động vật, thực vật, các vì sao, mặt trời, mặt trăng.v.v. tất cả sự vật hiện tượng này đều được xem là thế giới tín ngưỡng của chính họ.
​ Vì vậy, họ cho rằng “Vạn vật hữu linh”, tức mọi sự vật, hiện tượng đều có sức mạnh thần bí có thể làm tổn hại đến con người, thậm chí có quyền năng thưởng phạt và chi phối vũ trụ, cũng như đời sống của chính họ. Ví như, tộc người Malay (Malaysia) họ cho rằng “Nguồn gốc của tội ác, tức là Ác quỷ”; có năng lực làm tổn hại con người, được xem là một thế lực tà yêu thần bí. Nó giống như nanh vuốt của con hổ dữ, cây độc và nước dãi của con chó dại vậy. Chính tư duy mông muội này, đã khiến cho con người nguyên thủy phục tùng, sợ hãi và sùng bái sức mạnh của sông, suối, gió, mây.v.v. Họ tuyệt đối tín ngưỡng đối với những điều tạo nên sự nguy hiểm cho họ trong thế giới tự nhiên. Thậm chí, họ cũng tin vào phương hướng hoặc phương vị; đông, tây, nam và bắc, đều có sức mạnh thần bí nào đó, cũng như người Mỹ da đỏ vùng bắc Mỹ, họ cho rằng “Việc cày xới đất đai là sự mạo phạm thần linh, ai phạm phải điều này sẽ chuốc lấy tai họa”. ​Có thể thấy tâm thức suy nghĩ của con người nguyên thủy vốn khác biệt hoàn toàn so với chúng ta đương đại. Suy nghĩ của họ, vốn bị trói buộc trong yếu tố thần bí, nhìn quanh đời sống của họ đều mang màu sắc đời sống “Tín ngưỡng thần linh”.
Xét từ gốc độ này, một khi con người trong xã hội hiện đại còn rơi vào khuynh hướng suy nghĩ “Vạn vật hữu linh”, thì đó được xem là biểu hiện của quan niệm suy nghĩ nguyên thủy không hơn không khác. Đối với quan niệm vạn vật hữu linh, con người nguyên thủy cho rằng có một “linh hồn tồn tại thực” và tách rời khỏi thân thể vật lý sau khi chết, nó mang tính phổ quát trong xã hội nguyên thủy. Sự thực mà nói, quan niệm này, vốn thuộc yếu tố “hoang tưởng” trên mặt tinh thần mà họ không thể kiểm soát mà thôi. Cho dù, giai đoạn sau đó, họ có thể phát triển thành khuynh hướng triết học, nhưng dạng thức triết học này được xem là dạng “Triết học mông muội”, bởi vì, nó không thể chứng minh được dựa trên cơ sở “Dữ liệu thực chứng”.

Mitra Tử
Tiết Đại Hàn - 28.01.2026

Câu hỏi trao đổi:
Có phải cho dù chúng ta đang sống trong xã hội hiện đại, nhưng có những thời điểm, hoàn cảnh, không gian.v.v. chúng ta vẫn sống trong quan niệm suy nghĩ của con người nguyên thủy?

Tài liệu tham khảo:
Lucien Lévy-Bruhl (1927), Linh hồn Con người Nguyên thủy.

25/01/2026

CÕI XUÂN BÌNH YÊN
Chỉ cần một làn gió xuân thổi qua, cũng đủ khiến lòng cảm thấy bình an, mùa xuân được xem là mùa của vạn vật đổi thay và muôn hoa khoe sắc. Mỗi độ gió xuân về, làm cho con người đều cảm nhận được hương hoa vị tình quanh ngôi nhà bình yên của chính mình. Trên cành Mai; Ong, Bướm đùa hoa thưởng mật, ngoài hiên nhà là ánh vàng của nụ Cúc chớm điểm sương và một chút nắng xuân ấm áp nhẹ nhàng khó mà biểu đạt bằng ngôn ý….Quả thực, muôn nơi là tiết xuân rộn ràng, đủ làm lòng người say đắm, cũng đủ khiến người tha phương không khỏi chạnh niềm nhớ quê nhà; trong sắc nắng dịu dàng tiết xuân là một cõi bình yên vô hạn của đời người.
Trong tiết đông phong kính mời Quí đọc giả cùng cảm nhận thi phẩm “Xuân Hứng” của Trần Tế Xương:

Một ngọn đông phong sẽ thổi phào,
Đông quân nhường tỏ lối ra vào.
Tường mai ngõ hạnh tuy như cũ,
Lá bướm cành chim đã thế nào.
Tranh pháo vui xem con trẻ nọ,
Tóc râu thêm sợ tuổi trời cao.
Tìm xuân dễ biết xuân đâu tá,
Hương khói nhà ai cũng ngạt ngào.

Chỉnh thể văn hóa xin chúc Quí đọc giả một ngày Chủ nhật “Vạn niềm vui, Vạn nụ cười”.

BQT. CHỈNH THỂ VĂN HÓA
Tiết Đại Hàn - 25.01.2026

23/01/2026

QUAN ĐIỂM LINH HỒN CỦA ARISTOTLE

Khi nói đến khái niệm “Linh hồn”, cũng như để thấu hiểu tường minh về nó, được xem là một dạng nan đề khó có thể giải quyết nhất trong xã hội con người. Vì vậy, trong xã hội nhân loại, con người không ngừng đặt câu hỏi “Nó như thế nào”? “Dẫn nguyên của nó” từ đâu? Cuối cùng “Nó quy nguyên ở đâu? Cho đến, “Nó tồn tại” hay “Không tồn tại”?.v.v Cho nên, các nhà Vật lý, Triết gia, nhà Tôn giáo luôn cố gắng chứng minh khả tính tồn tại của nó. Trong bài viết này, người viết sẽ nói đến “Câu trả lời” về bản chất tồn tại của “Linh hồn” của Aristotle.
Đối với quan điểm “Linh hồn”, nhiều nhà Triết học, nhà Vật lý, nhà Tôn giáo.v.v dựa vào “Lý luận giáo điều” truyền thống, cho rằng “Linh hồn” là một dạng thức “Hài hòa”, tựa như một giai điệu của một bản nhạc. Aristotle hoàn toàn phủ định quan điểm này, Ông cho rằng bản chất hài hòa hàm tàng tính đối lập hoàn toàn yếu tố “Tổ hợp” và tính “Dung hợp”. Cho dù, bản chất của hài hòa có yếu tố của tính dung hợp hoặc thành phần tỷ lệ phối tạo, thì nó vẫn không thuộc bản chất của linh hồn, vì linh hồn không có yếu tính tỷ lệ phối tạo cụ thể, do đó, cho rằng linh hồn là dạng bản chất của tính hài hòa là điều bất hợp lý, hoàn toàn phi thực tế.
Xét trên mặt hình hài vật lý, vốn thuộc bản chất hài hòa, tuy nhiên nếu dựa vào mặt hình hài vật lý để chứng minh “Linh hồn” thuộc bản chất hài hòa, thì vẫn vô nghĩa. Thậm chí càng sai lầm hơn là rơi vào “Hiểm địa tư duy hoang đường”, tức cho rằng hình hài thân xác và tinh thần (linh hồn) là tổ hợp do các bộ phận cấu thành, vì không thể “Công thức hóa” cụ thể để chứng minh vấn đề này.
Từ trong tác phẩm “Linh hồn luận” của Aristotle, dễ dàng thấy được quan điểm mang tính hệ thống của Ông. Ông cho rằng “Linh hồn là một chuỗi xuyên suốt từ khi nhận thức bắt đầu cho đến khi chuyển hóa thành hành động thực tế”, nó là một dạng tồn tại thực và có mặt khắp nơi”. Nói khác hơn, tâm tư, tình cảm, nhận thức của linh hồn không thể tồn tại độc lập, cũng như không thể tách rời hiện thực sống thông qua mối quan hệ vật chất.

Trăng Hạ
Tiết Đại Hàn - 23.01.2023

Câu hỏi trao đổi:
Theo bạn, “Linh hồn” là thực thể hay phi thực thể? Sau khi hình hài phân rả thì nó trở về đâu?

15/01/2026

MIỀN KÝ ỨC

Có những sự tình; hình ảnh sự vật, người ta thương yêu, dấu ấn thời gian.v.v trôi qua trong tâm trí, trở thành một phần của “Ký ức”, nhưng chính nó lại là tác nhân, động lực có thể làm cho chúng ta đầy niềm vui và là nỗi buồn.
​ Trong chuỗi hoạt động của con người, ký ức được xem là một phần thuộc cấu trúc tâm trí, với chức năng ghi nhớ “Dữ kiện”; từng thấy, từng nghe, từng trải qua trên mặt tâm tư, tình cảm.v.v., nói khác hơn, nó vốn thuộc một phần trong trải nghiệm quá khứ. Đôi khi nó được “Ngủ yên” trong tiến trình hoạt động của tâm trí, sự thực mà nói, khó có thể hình dung và quan sát diễn biến sinh khởi của nó, vì vậy, những “Sai lầm” mà chúng ta phạm phải đều bắt nguồn từ sự vật, sự tình, hiện tượng thuộc ký ức. Điều này, thể hiện rõ ở việc khi chúng ta “Tưởng nhớ”, ví như, trong “Miền ký ức” chưa từng lưu giữ hoặc chưa từng có mặt điều mà ta kỳ vọng trong tương lai, nó sẽ khiến chúng ta trở nên “Khát khao”, “Kỳ vọng”, thậm chí dẫn đến trạng thái tâm trí “Hoang tưởng” và “Huyễn hoặc” đối với chính mình trong đời sống hiện tại.
Sự thực thì “Ký ức” và “Hiện thực” hoàn toàn không có bất kỳ mối liên hệ nào. Ký ức được xem như một dạng chìm đắm trong “Cái cũ”; hiện thực lại là một trạng thái “Khoái cảm” ngay trước mắt, cho nên nó không màng đến tương lai, cũng chẳng bận tâm đối với dữ kiện sự tình đã qua. Tuy nhiên, một khi trạng thái khoái cảm trước mắt không thể thỏa mãn, chính tác nhân này, đã trở thành động lực xung động dẫn đến quá trình kích phát “Miền ký ức” chuyển trạng thái liên tưởng trực tiếp, nhớ đến “Sự tình trong quá khứ”.
​ Cho nên, để đời sống tinh thần tránh rơi vào trạng thái kích phát mãnh liệt, dễ dẫn đến sự yếu đuối”, trốn chạy, khép kín, ảo tưởng, tuyệt vọng.v.v khi miền ký ức sinh khởi, cần giữ được một tâm trí biết “Thích nghi” trước mọi hoàn cảnh, tức thích ứng với mọi sự việc, sự tình đã trải qua, biến “những trải nghiệm” đó thành xung lực có lợi ích cho chính mình. Nói khác hơn, đừng để “Cái biết” quá khứ và “Khoái cảm” trước mắt trở nên xung đột.

Mitra Tử
Tiết Tiểu Hàn - 15.01.2026

11/01/2026

ĐÔNG QUA
Ngồi đây giữa mùa lạnh
Chim Sâu réo gọi đàn
Cành Mai vừa chớm nụ
Mỉm cười gió Đông qua
Mitra Tử
Sáng mùa Đông, 11.01.2026

Cuối cùng thì cảnh sắc Thu buồn cũng nhường chỗ cho mùa Đông giá lạnh, sẵn sàng nghinh đón sắc Xuân đến, tuy gió Đông giá lạnh, đủ làm lạnh lòng người, nhưng ai đó đủ tinh ý, có thể cảm nhận được nét đẹp bình yên trong một buổi sớm mùa Đông.

Chỉnh thể Văn hoá chúc Quí đọc giả ngày Chủ nhật bình an!

Trăng Hạ
Tiết Tiểu Hàn - 11.01.2026

10/01/2026

CHỦ THUYẾT LINH HỒN DO DỰ CỦA PLATO

Plato (427-347 T.CN), Ông xuất thân từ gia đình quí tộc danh giá, là môn đệ của Socrates, được xem là nhà Triết học lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại. Plato sống trong thời đại thành Athens Hy Lạp đầy bạo loạn, bạo lực và biến động, chính vì điều này, khiến Ông trở thành nhà Triết học quan tâm đến vấn đề “Phân tích và điều hướng linh hồn (tinh thần) của con người”, nhằm mục đích thiết lập, duy trì một trật tự xã hội, đồng thời giúp nhân loại tránh tai họa trong các cuộc xung đột bạo lực đương thời.
Vì vậy, trong tác phẩm “Nhà nước Lý tưởng” hay còn gọi là “Cộng hòa” (Latin: De Republica), Plato cho rằng “Để thiết lập một Linh hồn thống nhất không do dự, cần phải thông qua giáo dục lâu dài, đặc biệt là giáo dục nghệ thuật sẽ làm cho linh hôn trở nên lý trí và bất do dự”. Có thể thấy, “Giáo dục kiến thức” chính là mối quan tâm nghiêm túc của Plato đối với “Linh hồn con người”, tức con người muốn đạt đến một “Linh hồn bất do dự”, thì cần phải có đủ “Kiến thức”.
Vì sao Plato quan tâm đến vấn đề “Linh hồn do dự” của con người? Sự thực mà nói, trạng thái “Linh hồn do dự” là một dạng thức “Cảm xúc xung đột nội tâm” mà chúng ta luôn đối mặt và trải nghiệm thường xuyên trong hiện thực sống. Ví như, một khi chúng ta cho rằng đối tượng A là tốt đẹp, là mối quan tâm, nhưng bên trong tâm trí lại hướng đến đối tượng B, cuối cùng thực hiện hành động để đạt được đối tượng B. Đối tượng B này, được xem là đối tượng khác ngoài A, nói khác hơn là bao gồm tất cả đối tượng ngoài A, tức cái “Tham muốn” và “Khát khao” là A, nhưng cuối cùng truy cầu để đạt được đối tượng B hoặc tất cả ngoài A. Cho nên, từ trang (327-354), tức quyển 1, Plato cho rằng “Người tuy khát nước nhưng không muốn uống”, điều này, thể hiện tính chất “Xung đột hai bên” trong một con người; một là tham muốn, hai là ngăn cản người đó uống nước, trạng thái ngăn cản được hiểu là một dạng “Lý trí suy luận”. Xung đột hai bên được xem là một dạng trạng thái “Tâm lý đối nghịch” diễn ra, tồn tại trong cùng tâm thức của một con người, rõ ràng không thể xuất phát từ tính thống nhất cùng một nguồn gốc. Nói khác hơn, đó là biểu hiện của một “Linh hồn do dự” trong một chủ thể.
Xét trên mặt bản chất, “Tham muốn” không hẳn nhiên là biểu hiện của tính xấu, trong chừng mực nào đó nó vẫn được xem là tốt, vì nó không đi kèm với bất kỳ điều kiện nào. Ví như thèm uống, thèm ăn chỉ đơn giản là muốn uống và muốn ăn mà thôi. Tuy nhiên, điều làm cho một “Linh hồn trở nên do dự”, do nó đi ngược lại yếu tố “Suy luận ban đầu”, sâu xa hơn, chính từ tác nhân của “Kiến thức” và “Tham muốn đã tạo nên “Hành động do dự” của một linh hồn, làm cho “Linh hồn trở nên yếu đuối”, chính sự “Yếu đuối” này đã dẫn đến kết quả “Xung đột hai bên” trong cùng một chủ thể nhận thức. Qua đó, khiến cho con người không thể “Kiểm soát, điều chỉnh, làm chủ chính mình” và đạt đến sự “Thống nhất linh hồn”.
Để giải quyết vấn đề “Linh hồn do dự” hay “Linh hồn yếu đuối” này, Plato cho rằng cần phải thông qua giáo dục dài lâu để con người có đủ “Kiến thức”; không nuông chiều bản thân, không phóng túng, dẹp bỏ những “Tham muốn phi lý”, khi đó, nội tâm mới kết thúc “Xung động hai bên”. Tuy nhiên, “Kiến thức” mà Plato tuyên bố, không phải một dạng kiến thức đơn thuần để đạt đến “Lý trí thuần túy”, mà là một dạng “Kiến thức thống nhất linh hồn”. Cho nên, một người đạt đến “Kiến thức thống nhất linh hồn”, thì người đó sẽ “Khả tri” được điều gì là tốt, điều gì nên làm, điều gì không nên làm, trạng thái “Linh hồn do dự” được kết thúc, người đó vẫn hành động trong “Tham muốn”, nhưng hành động đó không đi đến kết cục sai lầm, vì người đó đã “Biết được, điều chỉnh được và kiểm soát được chính mình”.

Mitra Tử
Tiết Tiểu Hàn - 10.01.2026

Câu hỏi:
Tham muốn có phải là một trạng thái thuần túy xấu ác hay nó chỉ đơn thuần là tính chất của “Thiện do dự”?

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


Thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
700000