28/03/2017
BẢNG PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁCH XOAY TẤN CỦA VỊNH XUÂN MIỀN BẮC VN VÀ VỊNH XUÂN CHỢ LỚN, SÀI GÒN, VN
Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Võ Đường Vịnh Xuân.
28/03/2017
BẢNG PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁCH XOAY TẤN CỦA VỊNH XUÂN MIỀN BẮC VN VÀ VỊNH XUÂN CHỢ LỚN, SÀI GÒN, VN
Lực cứng và mềm sử dụng trong Vĩnh Xuân
Trong Vịnh Xuân Diệp Vấn/Ip Man Wing Chun, chúng tôi cố gắng được mềm mại để mang lại cho ưu thế khi đối thủ tấn công chứ không phải là ngăn chặn nó. Nếu đây là là một chiến lược thành công thì chúng ta cần phải biết làm thế nào để chuyển hướng lực đến để chúng ta không nhận được nó. Hãy tưởng tượng một chiếc xe lái xe thẳng vào bạn. Bây giờ tưởng tượng rằng bạn có thể bằng cách nào đó kiểm soát của nó. Vịnh Xuân là cách để dạy cho các tay lái chứ không phải là phá vỡ.
“Khi bạn đổ nước vào ấm trà, nó sẽ trở thành ấm trà”
– Lý Tiểu Long/Bruce Lee
Ở đây, có lẽ đệ tử nổi tiếng nhất của tất cả Vịnh Xuân- Bruce Lee, xuất hiện để nói về khả năng thích ứng, có thể hòa hợp với một tình huống. Đối với một số người điều này có thể âm thanh như đầu hàng hơn chiến đấu nhưng Bruce Lee cũng nói về “chiến đấu mà không cần chiến đấu”. Nước không cần phải được ngừng lại bởi một chướng ngại vật, nó có thể chảy xung quanh nó, đi theo con đường của đơn giản là càng ít đối kháng với mục tiêu càng tốt . Đây là nghệ thuật của sự mềm mại.
Nếu bạn đang rất căng thẳng sau đó chuyển động của bạn có thể là vụng về và cứng, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi nhanh do nỗ lực không cần thiết. Nếu bạn là rất khập khiễng, tư thế của bạn sẽ yếu và chuyển động của bạn có thể được làm chậm và không đáp ứng. Chuyển động là một chu kỳ của sự căng thẳng và thư giãn các cơ bắp khác nhau. Khi chúng ta có thể hài hòa hai đối lập (cứng và mềm) sau đó chuyển động của chúng sẽ được “mịn màng” và khéo léo. Nếu bạn muốn uốn cong cánh tay của bạn , bạn phải thả lỏng cho bắp tay của bạn làm việc hiệu quả.
“Nổi như một con bướm và chích như một con ong”
– Muhammed Ali
Điều này các tờ báo nổi tiếng thanh lịch mô tả sự tương tác của cứng và mềm trong môn thể thao này. Nếu chúng ta sử dụng thuật ngữ của võ thuật Trung Hoa, đấm bốc có thể được coi như là một phong cách cứng và Vịnh Xuân là một phong cách mềm dẻo. Khác biệt nằm ở cách họ sử dụng sự cương lực. Phong cách cứng sử dụng sức mạnh cơ bắp và họ nhấn như một thanh sắt: rắn và kiên quyết, bật các mục tiêu trở lại. Phong cách mềm mại tránh căng thẳng không cần thiết và “đình công” như một roi da: mềm dính thâm nhập vượt ra ngoài bề mặt của các tác động. Phong cách cứng mềm là một cái gì đó của một sự thỏa hiệp và có thể được coi là nổi bật như một thanh sắt nung: lúc đầu tác động khó khăn khi mục tiêu trước khi trở thành mềm dần, một lần nữa, chỉ là một phần của một chuỗi mềm.
Vì vậy, nếu một phong cách “cứng” như đấm bốc được nói về tầm quan trọng của sự mềm mại (ngay cả khi Muhammed Ali đã sử dụng báo để chế nhạo đối thủ) thì chắc chắn là một phong cách “cứng mềm”, đệ tử Vịnh Xuân nên xem xét sự mềm mại như là một điều rất quan trọng một phần của nghệ thuật của họ.
“Để được khó khăn là dễ dàng. Để được mềm mại là khó khăn “
– câu tục ngữ Võ thuật
Nhiều người trong chúng ta đã biết rằng điều quan trọng được mềm mại ở Vịnh Xuân và một số người trong chúng ta thậm chí làm việc rất chăm chỉ cố gắng để thư giãn cơ bắp của mình. Những gì thường tiếp tục giữ ta trở lại là một phần tinh thần.
Tại sao chúng ta luyện tập? Nó để tìm hiểu, để chiến đấu, để bảo vệ bản thân, cho sức khỏe hoặc cho niềm tự hào? Mỗi động cơ của các ý trên có thể bị tổn hại nếu chúng ta đã để thua khi chiến đấu trên đường phố. Trong một cuộc chiến đường phố, “trả giá học phí” đó là điều tốt để giành chiến thắng sau này. Nếu kỹ năng của bạn là cao thủ bạn đủ khả năng có thể để nương tay. Nhưng nếu bạn yếu, đối thủ của bạn có thể không hào phóng …
Vì vậy, nếu mục tiêu chiến đấu là để giành chiến thắng sau đó mà đặt không mục tiêu luyện tập để được như vậy? Tôi sẽ đề nghị rằng mục đích của luyện tập là để tìm hiểu làm thế nào để giành chiến thắng, chứ không phải là chiến thắng bản thân. Nếu tôi thua trong một võ đường nó chỉ là ” niềm tự hào” của tôi đó là một nạn nhân.
“Đầu tư vào sự mất mát”
– câu tục ngữ Trung Quốc
Ở đây nằm trong một vấn đề: bản chất con người có nghĩa là chúng tôi không muốn để thua. Điều đó tự nó không phải là một trạng thái xấu của vấn đề, nhưng khi nói đến va chạm thường thua sẽ dạy chúng ta làm thế nào để cải thiện. Mối lo ngại này với niềm tự hào của chúng tôi, tình trạng của chúng tôi cũng như những người khác, khiến cho chúng tôi phải luyện tập lại.
Cương có thể được nghĩ như là tinh thần cứng, kiên cường; khó khăn nhưng không linh hoạt. Để được mềm mại có thể có nghĩa là không quan tâm nếu chúng ta thắng hay thua nhưng thái độ đó có thể có vấn đề riêng của mình. Nếu chúng ta có thể kết hợp cứng và mềm, biết giá trị của chiến thắng, nhưng cũng đánh giá cao và rút kinh nghiệm sau những thất bại. Đó là một cái gì đó mà nhiều người trong số chúng ta cần phải học tập.
“Để uốn cong giống như một cây sậy trong gió, đó là thực sự sức mạnh”
– Học Vấn triết lý
Lý thuyết là tất cả rất tốt, nhưng làm thế nào để chúng ta đưa những ý tưởng vào thực tế? Sự hiểu biết, thái độ, ứng dụng. Vâng, đó là câu chuyện bình thường của công việc khó khăn, đó là tất cả những gì ‘kung fu’ có nghĩa. Tôi hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp một chút với sự hiểu biết, suy nghĩ, nghiên cứu và kinh nghiệm sẽ giúp phát triển hơn nữa.
Thái độ có để làm với được chuẩn bị để có một bước để tiến hai bước về phía trước để có thể thả lỏng (mềm ý tưởng) để tiến bộ hơn nữa (ý tưởng cứng) so với bạn nếu không sẽ có thể. Tôn trọng Sư phụ của bạn và huynh đệ tỷ muội nhưng đừng quên tôn trọng chính mình. Tinh thần thực sự luyện tập cần đạt được sự đón nhận (mềm ý tưởng) hơn là đối kháng. Nhưng hãy chắc chắn để cố gắng cung cấp một thử nghiệm tốt cho nhau (ý tưởng cứng), hoặc bạn sẽ không sẵn sàng cho một đối thủ đã được xác định. Những ý tưởng này rất đơn giản và họ là như vậy thường bị bỏ qua hoặc dùng cho các cấp. Các sự hiểu biết của bạn tốt hơn, thì thái độ của bạn có thể được tốt hơn.
“Nói nhẹ nhàng và mang theo một cây gậy lớn, bạn sẽ đi xa”
– Proverb
Ứng dụng có thể được nói về gần như vô tận, nhưng tôi sẽ cố gắng cung cấp một số ví dụ đơn giản. Nếu chúng ta nghĩ về Phách thủ/ Pak sao, nó thường là một trong những kỹ thuật đầu tiên chúng ta học hỏi. Nếu chúng ta áp dụng nó quá mạnh mẽ, chúng ta có thể không thể sử dụng cùng một bàn tay tiếp ngay sau đó. Giả sử bạn bật khi bạn áp dụng Pak sao. Nếu bạn muốn để theo dính được thoải mái bạn phải thả lỏng từ bàn tay sau. Nếu bạn muốn Pak sao với cùng một bàn tay sau đó nó phải được thoải mái để di chuyển một cách nhanh chóng. Tâm trí của bạn cũng phải được thoải mái hoặc bạn sẽ không thể nhận ra một cơ hội tốt cho Pak sao từ một người nghèo – chuyển động của bạn sẽ máy móc và dự đoán được chứ không phải là dòng chảy và tự nhiên.
Giả sử từ cùng một vị trí thay vì áp dụng một hoặc Pak sao, bạn muốn sử dụng một cú đấm biến với bàn tay đối diện. Bàn tay mà áp dụng Pak sao vẫn phải được thả lỏng hoặc sẽ thấy nó khó khăn để biến. Cũng giống như lượt đầu tiên là liên hoàn với các Pak sao, vì vậy cả hai cánh tay phải liên hoàn với các lượt tiếp theo hoặc nó sẽ không hiệu quả. Bạn phải hoàn thành chuyển động đầu tiên, cả hai trong cơ thể và tâm trí, cho lần thứ hai sẽ được tự nhiên.
“Hãy để đối thủ của bạn cho bạn thấy làm thế nào để đánh bại anh ta”
– Hoàng Thuần Lương/Wong Shun Leung
Li thủ/Chi sao trong Wing Chun và tập dưỡng sinh tương đương với việc đẩy tay Thôi thủ/Tui sao trong Thái cực/ Tai Chi thường được xem là phát triển các kỹ năng ‘nghe’. Tuy nhiên, kiểu này nghe không được thực hiện với tai nhưng với da. Làm thế nào nhiều người trong chúng ta thực sự có thể nói rằng chúng tôi biết lắng nghe? Nó không chỉ là tốt buổi điều trần (hoặc nhạy cảm) đó là cần thiết, bạn cũng cần một tâm trí cởi mở.
Chi sao thường được so với các trò chơi của đá, giấy, kéo, với lời giải thích đơn giản của một kỹ thuật đánh bại khác, nhưng bao nhiêu lần tập trong chi sao chúng tôi thấy một cố gắng để áp đăt kỹ thuật thông qua các nơi thực sự là có một khoảng cách? Sai lầm này thường là do không đủ kỹ năng nghe và linh hoạt trong khi tấn công (quá nhiều cương cứng, không đủ mềm mại cuốn dính). Thật khó để lắng nghe khi chúng ta đang la hét.
Nếu bạn cố gắng hết sức, bạn có thể cắt giấy với một hòn đá nhưng nó tốt hơn nhiều để tìm hiểu để sử dụng kéo. Chúng ta thường miễn cưỡng để làm điều này bởi vì trước nó có nghĩa là đặt đá xuống. Đôi khi chúng ta phải đi một bước lại trước khi chúng ta có thể đi về phía trước.
“Tất cả những điều tuyệt vời đều mất thời gian”
– câu tục ngữ Trung Quốc
Nếu bạn nhìn vào biểu tượng âm dương, bạn có thể thấy rằng một trong hai nửa uốn lượn của vòng tròn là lúc đó là đầy đủ nhất, có nằm một vòng tròn nhỏ hơn của màu sắc đối diện.Âm và dương là một tiểu bang lẫn liên tục. Trong trường hợp một trở nên đầy đủ, được sinh ra và bắt đầu phát triển.
Biểu tượng đại diện cho một năng động hài hòa, tuy nhiên sự tĩnh của nó có thể xuất hiện động. Tìm hiểu để tìm mềm trong cứng và cứng trong mềm. Cứng không cần phải có nghĩa là bướng bỉnh và mềm không cần phải có nghĩa là lười biếng. Phong cách cứng vẫn có thể là chất lỏng và phong cách mềm vẫn có thể được dùng trực tiếp. Công thức nấu ăn có thể khác nhau nhưng các thành phần thực phẩm đều giống nhau.
Nếu bạn có thể tìm hiểu để chiến thắng như là một kẻ yếu đuối sau đó bạn không cần phải lo sợ đối thủ mạnh hơn. Có, nó có thể là quá mềm, nhưng bao nhiêu lần bạn cảm thấy rằng luyện tập với một đồng môn là quá cương cứng? Lần tới khi bạn cảm thấy thế, hãy thử nói để mình tự thả lỏng thay vì đồng môn của bạn và xem những gì sẽ xảy ra … bạn có thể ngạc nhiên.
Vĩnh Xuân được sáng lập bởi Ngũ Mai Lão Ni cách đây 300 năm. Trong số các môn phái võ thuật ở Trung Hoa, tôi thích môn Vĩnh Xuân nhất. Không phải vì tôi là võ sư Vĩnh Xuân, mà vì lý thuyết và cấu trúc của Vĩnh Xuân rất khoa học và đã đạt đến mức độ hoàn hảo cao nhất. Theo lời kể của võ sư Diệp Vấn (Yip Man), ni sư Ngũ Mai khi về già, cảm thấy mình yếu dần và sức lực cũng giảm, bà nhận thấy những môn công phu truyền thống mà bà đã luyện tập trở nên kém hiệu quả trong chiến đấu vì đều phụ thuộc vào sức mạnh thể chất. Để vượt qua điều này, bà cố gắng sáng tạo một loại công phu đặc biệt mà không dựa vào sức mạnh thể chất của một người, khiến cho hiệu quả của trận đấu không bị giảm sút do tuổi già. Sau 1 thời gian dài nghiên cứu, môn công phu tuyệt hảo Vĩnh Xuân đã ra đời. Vĩnh Xuân công phu được xem là hoàn mỹ. Lý thuyết, cấu trúc và kỹ thuật của nó trong tấn công cũng như phòng thủ là rất sâu sắc và bao gồm nhiều khía cạnh, như là đặc tính cơ bắp con người, cấu trúc xương, lý thuyết về lực, những suy nghĩ và tiềm năng của một con người. Việc làm quen và hiểu rõ về các khía cạnh trên sẽ dẫn đến một kỹ thuật chiến đấu cao cấp. Một người theo đuổi võ thuật, sẽ cảm thấy vô cùng thích thú khi hiểu được lý thuyết 1 cách đầy đủ qua việc nghiên cứu và luyện tập bền bĩ.
Vĩnh Xuân bao gồm 3 bài quyền : Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều và Tiêu Chỉ, mỗi bài có 1 lý thuyết của riêng nó. Nói cách khác, mỗi bài nhắm đến một mục tiêu riêng. Dựa vào mỗi bài, người tập sẽ hình thành được 1 loại hiệu quả chiến đấu khác nhau. Sự kết hợp của những kết quả trên sẽ tạo nên một nghệ thuật chiến đấu vô địch, hiệu quả cả trong tấn công và phòng thủ. Bên cạnh 3 bài quyền trên, việc thực tập trên Mộc nhân với Mộc nhân pháp sẽ làm tăng sự thích thú và hiệu quả trong việc luyện tập.
Trước tiên, tôi sẽ đưa ra những mô tả tổng quát về mặt lý thuyết. Sau đó, tôi sẽ phân tích chi tiết kỹ hơn. Hy vọng rằng, bằng cách này, người học sẽ hiểu được cách thực hành như thế nào để đạt được hiệu quả tốt nhất.
1. Tiểu Niệm Đầu: Mục tiêu căn bản của bài Tiểu Niệm Đầu là làm quen với 1 số động tác đơn giản, và kỹ năng sử dụng lực kết hợp với sự tập trung tinh thần vào những phần khác nhau trên cơ thể. Bằng cách này, mọi cử động đơn giản sẽ trở nên mạnh mẽ và có thể chịu được những tác động mạnh cũng như hiệu quả trong tấn công.
2. Tầm Kiều: Khái niệm cơ bản của bài Tầm Kiều là sử dụng sức nặng cơ thể kết hợp với những động tác di chuyển của bài Tiểu Niệm Đầu để tạo nên những loại kỹ thuật khác nhau trong việc sử dụng lực. Bằng cách này, người tập có thể chiến thắng đối thủ một cách dễ dàng mà không mất nhiều sức lực.
3. Tiêu Chỉ: Ý niệm chính của bài này là tạo ra khả năng phát lực bằng sức nặng toàn thân khi chuyển động nhanh. Một cách cơ bản, đây là việc sử dụng những động tác đơn giản của bài Tiểu Niệm Đầu kết hợp với kỹ năng xoay chuyển của bài Tầm Kiều thêm vào việc gia tăng tốc độ. Khi luyện tập tốt bài này, người tập có thể phát ra 1 lực đánh tập trung và rất mạnh. Đó là lý do nó được đặt tên là Tiêu Chỉ (phát ra 1 lực tập trung mạnh từ đầu ngón tay).
Sau khi đã quen với mọi động tác của các bài quyền Vĩnh Xuân, người tập phải nghiên cứu và hiểu sâu hơn về lý thuyết và nội dung của các bài để hình thành khái niệm trong khi luyện tập, từ đó mới khám phá được những nguyên lý võ thuật. (Nghĩa là : dùng quá trình suy nghĩ để đạt được những nguyên tắc cơ bản của Vĩnh Xuân – theo lời của lão sư Diệp Vấn). Luyện tập theo cách này, người tập có thể đạt được kết quả lý tưởng và nhiều bổ ích.
Bây giờ, tôi sẽ giới thiệu tổng quát về triết lý của Vĩnh Xuân. Môn công phu Vĩnh Xuân luôn nhấn mạnh đến việc không sử dụng lực cơ bắp, mà phải kết hợp với ý chí và vận dụng nó như một nguồn năng lượng. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc hiểu nguyên lý trong suốt quá trình tập. Tôi hy vọng những người theo học Vĩnh Xuân có thể tìm thấy sự tương đồng với lý thuyết khoa học hiện đại bằng việc phân tích các động tác của nó, nhờ vậy mọi người có thể học nhiều hơn về hệ thống Vĩnh Xuân và dễ dàng hiểu được tại sao Vĩnh Xuân có những nguyên lý thật sâu sắc.
Vào triều Mãn Thanh ở Trung Hoa, Vĩnh Xuân được tạo nên từ kinh nghiệm võ thuật một đời của Ngũ mai Lão Ni trong những năm cuối đời của bà. Đến nay, đã vài trăm năm trôi qua, khi người ta dùng những kiến thức khoa học hiện đại để phân tích Vĩnh Xuân, thì mọi động tác của 3 bài Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều hay Tiêu Chỉ đều phù hợp với những quy tắc vật lý, động học và lý thuyết về cấu trúc cơ thể. Đó là lý do tôi tin rằng Vĩnh Xuân là một phát minh võ thuật vượt thời gian.
Nói chung, khi một người bắt đầu học những động tác của bài quyền Vĩnh Xuân, hầu hết đều cảm thấy nó khó hiểu. Vì thế, họ sẽ tập trung vào những kỹ thuật ứng dụng thực tế và bỏ qua những quy tắc quan trọng về lý thuyết lực và cấu trúc. Khi phân tích Vĩnh Xuân theo nguyên lý đòn bẩy, người ta có thể hiểu thêm và tin rằng đây là kỹ thuật cao nhất của Vĩnh Xuân, nhưng không thấy được những tiến bộ có thể đạt được do phát triển ý lực, đó là lý do tại sao Vĩnh Xuân có thể tiết kiệm sức lực. Chính nhờ nguyên lý về lực và cấu trúc này mà một người có thể tiến lên một cấp độ cao hơn.
Khi tôi cố gắng giải thích về lý thuyết sâu sắc của công phu Vĩnh Xuân, tôi cảm thấy thật khó khăn để diễn đạt và ghi lại chúng. Ngay cả khi tôi mô tả những động tác đã làm trong các buổi thảo luận trước, tôi vẫn nghĩ rằng nó đang sắp sửa diễn ra. Vì thế, người ta khó có thể tin được hiệu quả thực tế của Vĩnh Xuân khi đạt đến một độ tập trung nào đó thì lực có thể được tạo ra.
Khi luyện tập Vĩnh Xuân, bên cạnh việc nghiên cứu những ứng dụng của các động tác, người tập không nên bỏ qua nguyên lý của các bài tập. Ví dụ, ở bài Tiểu Niệm Đầu, dĩ nhiên những động tác của nó có thể được dùng trong phòng thủ và tấn công, nhưng thực tế, người tập cần định hướng tất cả các động tác của bài tập bằng ý nghĩ. Khi tạo nên ý lực này, bằng việc không sử dụng bất kỳ lực cơ bắp nào, người tập có thể tìm thấy những kỹ năng để phát ra lực bằng ý. Một ví dụ cụ thể của điều này là Bàng Sẩu. Tay Bàng có thể dễ dàng chuyển xuống dưới lực đánh của đối phương mà không sử dụng bất kỳ lực cơ bắp nào.
Thuật ngữ trong Vịnh Xuân Quyền
Đây là những thuật ngữ sử dụng trong Vịnh Xuân Quyền. Rất tốt cho việc nghiên cứu tài liệu tiếng Trung và tiếng Anh. Các bạn có thể tham khảo dưới bảng sau:
Tiếng Hán Việt – Hán tự – Phiên âm tiếng Anh thường gặp Ghi chú
Đối luyện – Drill. Mộc nhân – Wooden dummy. Binh khí – Weapons.
Hữu Hình Đả Hình Vô Hình Đả Ảnh 有 形 打 形 無 形 打 影
Hữu Ảnh Tục Lưu Vô Ảnh Phá Trung 有 影 續 流 無 影 破 中
Liên Tiêu Đái Đả Bàng Bất Đình Lưu 連 消 帶 打 膀 不 停 留
Lai Lưu Khứ Tống Sủy Thủ Trực Xung 來 留 去 送 甩 手 直 衝 Một số đúc kết trong Vĩnh Xuân quyền
Túc Bất Ly Địa Dĩ Thủ Vi Công 足 不 離 地 以 守 為 攻
Địch Nhất Di Động Trung Tâm Dĩ Không 敵 一 移 動 中 心 已 空
Thủ Do Tâm Phát Nhân Thời Nhi Công 手 由 心 發 因 時 而 攻
Dĩ Công Vi Thủ, Tiên Phát Chế Nhân 以 攻 為 守 先 發 制 人 Một số đúc kết trong Vĩnh Xuân quyền
Nhị Tự Kiềm Dương Mã/ 二 字 钳 羊 马 /Yee Chi Kim Yeung Ma Thế tấn cơ bản, hai bàn chân song song hình chữ nhị
Tiểu niệm đầu/ 小念 頭 /(Siu Nim Tao) Litle Idea Form Bài Quyền cơ bản của một số phái Vịnh Xuân Quyền
Thủ Đầu Quyền /手 頭 拳 – Basic hand techniques Bài Quyền cơ bản của Vĩnh Xuân Việt nam
Tầm Kiều/ 撏 橋 / Chum Kiu – Seeking Bridge Bài Quyền trung cấp của một số phái Vịnh Xuân Quyền
Tiêu Chỉ /標 指 / Biu tze – Darting Finger Bài Quyền trung cao cấp của một số phái Vịnh Xuân Quyền
Mộc Nhân Thung/ 木人樁/ Muk Yan Chong – Wooden Dummy Bài Quyền cao cấp của một số phái Vịnh Xuân Quyền
Li Thủ /黐 手 /Chi Sau, Chi sao – Sticky Hand Một cách gọi của “Linh giác” trong sách báo tiếng Anh
Than Thủ/ 摊 手 / Tan Sau, Palm-up Hand Thế tay mở của Vịnh Xuân Quyền
Bàng Thủ /膀 手 / B**g sau, Wing – Arm Thế tay bên của Vịnh Xuân Quyền
Phục Thủ/ 伏 手 / F**k sau, Bridge-on Arm Thế tay ẩn của Vịnh Xuân Quyền
Canh Thủ/ 耕 手/ Garn Sau Thế tay trong một số chi phái Vịnh Xuân Quyền
Cổn Thủ/ 滾 手 /Kwun-sau, Rotating Arm Thế tay trong một số chi phái Vịnh Xuân Quyền
Trẩm thủ/ 抌 手 /Jum sau Thế tay trong một số chi phái Vịnh Xuân Quyền
Đài lực /抬 力 (Trút lực)/ Giving-up Force Nguyên tắc quyền thuật Vĩnh Xuân
Tá lực/ 借 力 (Mượn lực) /Borrowing Force Nguyên tắc quyền thuật Vĩnh Xuân
Tá lực/ 卸 力 (Lái lực) /Defecting Force Nguyên tắc quyền thuật Vĩnh Xuân
Chuyển Mã/ 轉 馬 – Change stance Chuyển thế tấn
Tọa Mã/ 坐 马 Giữ tấn
Bát Trảm Đao/ 八斩刀/ Bart Cham Dao – Eight Cutting Knive Song Đao, Hồ Điệp Đao,
Lục Điểm Bán Côn/ 六 点 半 棍 /Luk Dim Boon Kwun – Six and half point pole Côn pháp Vĩnh Xuân
Sáo lộ / 套 路/ Tao lu Tập hợp các bài luyện tập theo giáo trình
Tản Thức/ 散 式/ San s*k Tập hợp các bài luyện tập thêm
Ngũ Hình Quyền /五形拳/Five Animal Forms 5 bài quyền trung cấp của Vĩnh Xuân
Ngũ Mai Sư thái/ 五 枚 師 太/ Ng Mui Si Tai Tên một số sư tổ trong lịch sử Vĩnh Xuân
Nghiêm Vĩnh Xuân/ 嚴 永 春/ Yim Wing Chun, Vingtsun, WengChun
Bạch My / 白 眉/ Pak Mei
Miêu Hiển/ 苗 睍/ Miu Hin
Chí Thiện Thiền sư/ 至 善 禪 師/ Chi Shin
Lương Bác Trù/ 梁 博 儔/Leung Bok Chau
Lương Lan Quế / 梁 兰 桂 / Leung Lan Kwai
Trương Ngũ (Than Thủ Ngũ)/张 五 (摊 手五) / Tan Sau Ng. Sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 18. Được coi là thầy của Lương Nhị Đệ, Lục Lan Quan và Đại Hoa Diện Cẩm
Hoàng Hoa Bảo/ 黄 华 宝/ Wong Wah Bo Dạy cho Hoắc Bảo Tòan và Phùng Thiếu Thanh
Lương Nhị Đệ/ 梁 二 娣 /Leung Yee Tai
La Vãn Cung /罗 晚 恭
Lục Cẩm (Đại Hoa Diện Cẩm) /陸 锦 (大 华 面 锦)/ (Dai Fa Min Kam) Dạy cho Hoắc Bảo Tòan và Phùng Thiếu Thanh
Lục Lan Quan (Đại Hoa Diện Tân Cẩm)/ 陸 兰官(大 华面 新 锦)/ San Kam Dạy cho Phùng Thiếu Thanh
Lê Phúc Tôn/ 黎 福 孙
Hoắc Bảo Tòan/ 霍 保 全 /Fok Bo Chuen (Song Đao Hoắc) Bộ đầu ở Phật sơn, nổi tiếng về Song đao. Đã truyền dạy cho Sư tổ Tế công và em.
Lương Tán/ 梁 赞/ Leung Jan Có khả năng đã truyền dạy một số công phu cho Sư tổ Tế công
Phùng Thiếu Thanh/ 冯 少 青/ Fung Siu Ching Đã truyền dạy cho Sư tổ Tế Công và em tại nhà họ cho đến khi mất (190?). Ông có thể đã luyện cả Hình Ý Quyền
Quách Bảo Tòan/ 郭 宝 全 Có thể chính là Hoắc Bảo Tòan ?
Trần Hoa Thuận (Trảo Tiền Hoa)/ 陈 华 顺 (找 钱 华)/ Chan Wah Shan Có khả năng đã truyền dạy một số công phu cho Sư tổ Tế công
Lương Bích/ 梁 壁/ Leung Bik Con Lương Tán, sau này có thể đã truyền dạy cho Diệp Vấn ở Hồng Kông
Nguyễn Tế Vân/ 阮 济 云/ (Cụ Tế Công, Tài Cống, Lão Tứ, Tế Mặt Rỗ), Yuen Chai Wan, Dao Pei Chai, Sư tổ Vĩnh Xuân Việt nam
Nguyễn Kỳ Sơn/ 阮 其 山/ Yuen Kay Shan Em Sư tổ Tế Công, Sư tổ của nhánh Sầm Năng – Mễ Cơ Vương, Quảng Châu.
Diệp Vấn/ 叶 问/ Yip Man Học chủ yếu từ Trần Hoa Thuận, Ngô Trọng Tố, Lương Bích. Sư tổ của nhánh Vịnh Xuân Hồng Kông
Nói đến Vịnh Xuân quyền, những người yêu võ thuật ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn liền nghĩ ngay đến quyền sư Lục Viễn Khai và đồ đệ Lục Hào Kim, những truyền nhân đưa môn võ học này tồn tại và phát triển ở Việt Nam.
Vịnh Xuân quyền do danh sư Nguyễn Tế Công truyền bá tại Hà Nội. Đến năm 1954, di cư vào nam, ông tiếp tục dạy môn công phu này tại Chợ Lớn cho 3 đồ đệ Quang Sáng, Trương Cao Phong và Lục Viễn Khai tại nhà nhị đệ tử Trương Cao Phong (tiệm may Thượng Hải, đường Đồng Khánh, Q.5). Ngoài dạy võ, Nguyễn Tế Công còn chữa trật đả, gãy xương tại tiệm thuốc Lôi Công đường (cạnh rạp hát Lido, Q.5).
Sau 8 năm thụ đắc Vịnh Xuân quyền từ Nguyễn sư phụ, Lục Viễn Khai chỉ truyền dạy cho 3 đồ đệ là bằng hữu Lương Kiều Vũ, bào đệ Lục Hào Kim và nữ võ sĩ Lý Huỳnh Yến tại tiệm photo Thần Quang (Tản Đà, Q.5), bởi Lục Hào Kim là thợ “tút rửa” ảnh tại đây và tiệm này có khoảng sân để luyện tập. Trong suốt thời gian truyền bá Vịnh Xuân quyền, không may quyền sư Lục Viễn Khai bị bệnh và ông tạ thế năm 1981, hưởng thọ 60 tuổi. Những gì ông truyền đạt lại đã được 3 đồ đệ nỗ lực giữ gìn, chỉ tiếc là người con trai Nguyễn Trí Thành lại không theo nghề võ.
Lục Hào Kim (sinh năm 1934) tại huyện Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), vốn là vận động viên bơi lội, đến năm 22 tuổi mới theo sư huynh Lục Viễn Khai tập Vịnh Xuân quyền. Ông Lục Hào Kim cho biết: “Lấy nền tảng từ một môn võ có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, môn phái Vịnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc trở thành một trong những phái võ được nhiều người biết đến và say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử và hàng chục hệ phái trên toàn thế giới”. Vịnh Xuân quyền chỉ duy nhất bài Tiểu Luyện Đầu. “Theo sư huynh tôi truyền lại thì môn phái không có Ngũ Hình quyền và nội công như ở Hà Nội, tại Hồng Kông, danh sư Diệp Vấn (sư phụ ngôi sao điện ảnh Lý Tiểu Long - NV) gọi là Tiểu Niệm Đầu và chế tác thêm chiêu thức Trầm Kiều và Biêu Chỉ”, lão võ sư Lục Hào Kim tâm sự.
Bài danh quyền Tiểu Luyện Đầu gồm 36 chiêu thức như Vân trung hạc (hạc trong mây) là động tác khởi động, Hạc hình thư bộ (bộ pháp khoan thai), Đại Phật chuyển thân (luyện xoay eo lưng), Song xà xuất động (công kích địch thủ), Nhị tử kiềm dương mã (tấn pháp), Mai hoa bộ (thân, thủ, bộ pháp), Hạc hình (đánh chỏ, gối và 5 đầu ngón tay), Xà hình (hai tay dính liền với tay đối phương, luyện khớp dẻo dai), Tam tinh quyền (3 quả đấm thôi sơn liên hoàn) cùng 8 phương pháp gồm Thán (ém tay), Phục (đè tay), Bòn (lật vai), Trầm (ém tay), Xuyên (xỉa gạt từ dưới hất lên), Biếu (dùng Song chỉ thọc mắt), Lòn (lật mu bàn tay đánh lên), Tắc (dùng ức bàn tay đánh xuống).
Vịnh Xuân quyền không múa may hoa mỹ lại ít sử dụng đòn chân, chiêu thức tập trung ở mười đầu ngón tay, cạnh mu bàn tay và cùi chỏ, tấn công yếu huyệt địch thủ từ đỉnh đầu xuống thắt lưng như trán, mắt, cổ, họng, màng tang, yết hầu… Môn sinh phải luyện hai cánh tay linh hoạt, dẻo dai và uy lực qua phương pháp Tiêu đả (đối kháng, tiêu nghĩa là hóa giải, đả là tấn công), Niêm thủ (dính tay) kết hợp luyện đánh mộc nhân và bao cát mỗi ngày.
Năm 2014, quyền sư Lục Hào Kim bước sang tuổi 80 nhưng trông ông vẫn nhanh nhẹn, tráng kiện và minh mẫn. Mỗi ngày hai giờ ông lên tận tầng 3 luyện Tiểu Luyện Đầu, đánh mộc nhân và bao cát.
02/02/2016
18 thế tay của Vịnh Xuân Hồng Kông.
ĐẶC ĐIỂM CÚ ĐẤM TRONG VĨNH XUÂN
- Vì Vĩnh Xuân luôn chú trọng vào đường trung tâm, cú đấm thẳng được coi là đòn tấn công phổ biến nhất. Đặc điểm cơ bản của đòn đấm là phát lực theo đường thẳng - khoảng cách ngắn nhất giữa đầu quyền và đối thủ. Nhiều người cho rằng quyền pháp Vĩnh Xuân có lực yếu hơn quyền pháp của những môn phái khác, không tận dụng được hết lợi thế của toàn bộ cơ thể vì không có những đòn vòng, xoay tận dụng trọng lượng cơ thể. Tuy nhiên, theo nhiều võ sư, những cú đấm của Vĩnh Xuân vẫn mượn được trọng lượng của toàn bộ cơ thể và có sức công phá lớn. Ví dụ như trong cú đấm một inch (thường được gọi là thốn quyền), người thực hiện sẽ đẩy toàn bộ trọng lượng cơ thể về đối thủ làm tăng lực đấm. Khi đó, đầu quyền (phần tiếp xúc với đối thủ) được ví như cái đinh còn cơ thể của họ được ví như búa. Sau mỗi đòn đấm, người tập Vĩnh Xuân ngày càng tiến gần về phía đối thủ.
Vĩnh Xuân thường sử dụng cú đấm thẳng vì các lí do sau:
- Tính trực tiếp: Khi thực hiện đòn đánh, người tập không cần phải co khuỷu tay hẳn về phía sau rồi mới ra đòn mà tay ở đâu thì sẽ thực hiện phát lực ngay ở đó. Vì không mất thời gian co tay, việc ra đòn sẽ nhanh hơn, khoảng cách ngắn hơn. Điều này rất có lợi trong cận chiến. Nhiều người có thể cho rằng phát lực ở cự li ngắn sẽ hạn chế sức mạnh của đòn đánh nhưng thực ra Vĩnh Xuân có bí quyết để phát lực trong nhưng đòn đánh có cự li rất ngắn như vậy.s
- Có lợi cho phòng thủ: Khuỷu tay thấp, khép sát thân giúp bảo vệ mạng sườn, tránh bị bẻ, khóa và có thể tận dụng lực toàn thân thi ra đòn
- Sự liên kết của cơ thể và thế: Vĩnh Xuân rất quan trọng “thế” (thế giúp giữ cân bằng và sự tiên lợi cho cả phòng thủ lẫn tấn công) nên rất ưa cú đấm thẳng vì nó giúp người tập giữ tâm, mà giữ được tâm thì có thế.
Khi thực hiện cú đấm thẳng, người tập Vịnh Xuân ở trong một tư thế mà tay đặt trước ngực, khuỷu tay thấp, khép gần thân tạo ra sự liên kết giữa các bộ phận như eo, thân, tay… . Khi đã có sự liên kết, người tập dễ dàng mượn lực của các bộ phận khác ngoài cánh tay truyền vào đầu quyền. Vì là lực tập trung của cả cơ thể nên đòn đánh sẽ có sức mạnh rất lớn.
Linh giác, kình và lực
Cơ thể con người là một khối hoàn thiện, kinh lạc, mạch được trải khắp toàn cơ thể là hệ thống truyền thông tin về não và đưa khí huyết nuôi cơ thể. Da, cơ, xương với các tạng phủ là những bộ phận chính tạo nên cơ thể và các hoạt động. Con người có rất nhiều giác quan, trong đó có xúc giác và cảm giác. VD: khi con người không có đèn trong đêm tối nhưng vẫn xác định được những đồ vật quen thuộc bằng cách sờ nắn bằng tay cũng có thể xác định được là vật gì, khi người ta bắt tay nhau thì cũng có thể cảm nhận được lực nặng nhẹ, nóng lạnh, yêu ghét.
Linh giác là tập luyện các động tác riêng biệt của đôi tay, quay tay, dẫn tay, lùa tay nhằm mục đích đánh thức cảm giác, xúc giác toàn thân nhờ đó mà người tập nghe biết và hiểu đường đi lại vận dụng lực tinh tế của gân, cơ, xương phát lực của đối phương định trước được di chuyển đòn thế của đối phương trong thôi thủ. Nhờ tập luyện chuyên cần, đúng cách mà dần dần cảm giác sinh ra từ cơ, gân, xương một cách đồng bộ. Khi đó người tập cảm nhận được vận động của đối phương nặng, nhẹ, cao, thấp, trùng, giãn, lên, xuống rồi bám dính, treo, dựa, nương dựa vào đối phương mà hóa giải hoặc tấn công như thôi thủ với các bóng của mình (không còn khoảng cách, không ta không địch, dĩ bất biến, ứng vạn biến).
Kình lực, nhiều người tập võ cũng chưa hiểu rõ về kình và lực, khi hiểu rõ người ta mới thấy có rất nhiều điểm khác nhau. Thật là đáng tiếc khi có người tập võ nhiều năm nhưng không hiểu rõ điều này
Lực thì xuất phát từ xương, thường được giữ lại ở vai và lưng nên không phát ra hết được. Kình xuất phát từ gân, đi tới tay chân để phát ra. Lực thì hữu hình, còn kình thì vô hình, lực thì vuông, còn kình thì tròn. Lực thì trệ rít, mà kình thì thông xuốt. Lực thì tán ra, còn kình thì tụ lại. Lực thì trôi nổi, còn kình thì trầm lặng. Qua đó, ta hiểu lực thì cùn, còn kình thì bén. Trong võ thuật người ta tập luyện rất nhiều các loại kình mang tính đặc trưng khác nhau. VD: trực lực, hoành lực, hư lực và thực lực. Trực lực thì hiển lộ. Hoành lực thì ẩn tàng. Hư lực thì cương. Thực lực thì nhu. Lúc chưa học hay người mới tập võ thì có tính trực lực mà hư đó là “chân lực”. Sau tập luyện một thời gian rồi thì lực có tính hoành mã thực đó là “kình lực”.
Trong kình lực phân biệt ra nhiều loại kình. VD: sang kình , công kình, băng kình, niêm kình. Người mới tập luyện chỉ có sang kình, công kình và băng kình. Sang kình thì quá thẳng nên khó lên xuống được, công kình thì quá chết nên khó biến hóa được, băng kình thì quá ngắn nên khó nối tiếp được. Ba loại kình trên là loại cường kình lộ hình, chính vì vậy mà không thể linh hoạt được. Người tập võ đến trình độ cao sau nhiều năm tập luyện đúng cách họ sẽ tự hình thành “niêm xảo kình” đó là loại kình không lộ trạng, mẫn tiệp, linh hoạt không dừng.Tay đến là kình phát, chưa trúng đích thì không có kình, trúng xong rồi cũng không có kình, kình chỉ phát đột biến khi trúng đích mới có kình. Nhanh như điện chớp, phát ra liền thu ngay “niêm ý ngưng thần” không phí một chút sức lực nào. Nói chung, dương kình thì dùng cương để thắng, âm kình thì dùng nhu để thắng như trận gió thoảng qua trăm hoa, cỏ phải cúi rạp, đó là công phu thượng thừa của người tập võ.
Linh giác là phương pháp tập luyện mà ở đó người tập phải phối hợp hài hòa giữa quyền thuật với linh cảm của cơ thể, kình lực thành một thể thống nhất nhuần nhuyễn, thông suốt khi vận dụng thôi thủ thì mềm mại, uyển chuyển nhưng mạnh mẽ như trận lũ nguồn, cuốn phăng tất cả những gì gặp trên đường đi.
Kình lực được phân ra nhiều loại. VD: triêm niêm kình, linh kình, đổng kình, hóa kình…..mỗi loại kình đều có đặc điểm riêng và tính chuyên biệt riêng trong võ thuật. Người rèn luyện võ thuật khi tập luyện thành công đem áp dụng vào bản thân mới hiểu được cái ảo diệu của nó trong quyền thuật. Tuy rằng khi đạt đến mức độ thành công chỉ chú ý chứ không chú trọng kình. Người mới học muốn tiến bộ nhanh thì phải đi qua cửa này không đốt cháy giai đoạn, từ từ luyện kình mà đi lên thành công vậy. Nếu không biết dùng kình thì không biết công phu vận khí. Không biết công phu luyện khí thì không biết rõ chân ý của quyền thuật do đó dùng kình chính là cương lĩnh sơ bộ cho việc học quyền thuật.
Có rất nhiều loại kình để phối hợp với niêm dính bộ pháp mà thôi thủ trong tập luyện, như triêm niêm kình (triêm thấm, niêm dính) là loại kình thông suốt linh hoạt không bao giờ dứt không dời là nội kình căn bản tối cần thiết nhất nhưng phải luyện tập lâu dài nhờ thôi thủ mà có được. Người tập võ khi mới rèn luyện hai tay chưa lường được cảm giác, tay thô cứng như khúc gỗ sau nhiều ngày tập luyện các phương pháp quay tay, dẫn tay, nghe tay dần dần bàn tay, cánh tay, ngực, lưng rồi toàn thân đều nảy sinh cảm giác. Khi có cảm giác tốt rồi mới thấm dính được. có thấm dính rồi mới có thể bám vào kẻ địch nương theo kẻ địch công thủ rồi chế ngự kẻ địch. Loại kình này phải có bậc thầy cao minh truyền thụ hàng ngày quay tay lùa tay, chạy tay thôi thủ linh dính mới lĩnh hội được.
Tóm lại, niêm dính – linh giác hay linh kình không phải là nghe bằng tai mà phải bằng cảm giác của da, thịt toàn thân cho nên phải luyện triêm niêm kình rồi mới có thể niệm “linh” được. linh giác, linh kình trong quyền thuật không thể dùng lực thô bạo khí ô trọc mà nghe được, trái lại người tập người rèn luyện phải buông lỏng cơ thể vai trầm, ngực ngậm, thượng hư, hạ thực, tĩnh tâm, niêm ý, niêm khí, ngưng thần để linh.
Đổng kình là hiểu biết các đường đi thôi thủ của kè thù, kẻ địch, phương pháp này phải do chân sư truyền thụ và tập một thời gian dài mới hiểu được. Có linh rồi mới có đổng, linh không chuẩn xác thì đổng không toàn diện được. Nếu chưa biết đổng kình thì dễ phạm phải các sai phạm như cao quá, lệch bên hoặc là bỏ mất không dính đối lực và chống cự, nếu biết đổng kình không chính xác thì phạm phải đứt đoạn, kình không thông suốt hay kết dính trùm, cúi quá hay ngửa ra quá. Người rèn luyện phải đạt tới cảnh giới hư không tiến thoái xoay chuyển tự nhiên tùy theo tâm mới có thể đổng kình một cách chân chính được. Khi có đổng kình chân chính, thực thụ mới đạt tới các hiệu quả trong thôi thủ như là co lại duỗi ra tĩnh tụ khai hợp thăng giáng, hài hòa tức là đã nhập vào lĩnh vực thần linh rồi. Tập đến cảnh giới này trong cơ thể người tập được xoay ngược lại, loại bỏ phần âm điềm đạm không vọng đọng, người ta thường gọi là thủy hỏa ký tế, kiền khôn giao phối, tính mệnh bảo chân. Ở người tập trong cảm giác biến hóa khôn hình dung (không nghĩ tới đòn thế quyền pháp trước sau đánh gì, phòng gì mà toàn bộ thân pháp, thủ pháp nã pháp tùy nghi nghinh chiến, tùy nghi thôi thủ) không suy nghĩ trước đó là trình độ đại thành của quyền thuật.
Tẩu kình: trong linh giác tẩu kình là phương pháp tập quan trọng thường để tránh né trực lực, đòn tấn công của đối phương, tránh không để lọt vào tình thế giằng co đối kháng với đối phương. Tẩu kình thường do đổng kình mà có, không có đổng làm sao có thể có tẩu? Trong thôi thủ khi cảm thấy địch trầm trọng liền biến ra hư. VD: địch đè nặng một bên(thiên trọng) liền buông lỏng bên kia(thiên tung) cơ thể để hóa địch theo tức là tùy theo hướng của địch tấn công mà làm cho đòn và lực của địch trôi đi ra khoảng không, không có chút đề kháng gì. Phương pháp này làm cho địch vô cùng bối rối vì có lực mạnh đến đâu cũng bị rơi vào khoảng trống vô định mà tất cả các đòn thế đều không có tác dụng gì. Then chốt của phương pháp này là phải dựa vào sự vận chuyển tinh tế của đùi và eo lưng.
Hóa kình: là một phần tập luyện trong linh giác hóa kình thường từ do niêm kình với tẩy kình kết hợp mà thành, khi giao thủ không bỏ mất cũng không giằng co tùy theo sự cảm biến mà biến hóa khôn lường nhưng điểm yếu của hóa kình là do ta ở thế thuận mà địch đang ở thế nghịch lúc đó dù địch có ngàn cân cũng không sao sử dụng được không dùng tay hay vai để hóa mà dùng eo đùi vận chuyển để hóa. Việc hóa kình không nên sớm quá hay trễ quá vì sớm quá tất kình của địch chưa đến chẳng có gì để hóa, nếu mà trễ quá thì nó đã đến trước rồi không kịp hóa nữa thật vô ích. Trong giao thủ phải hóa kình lực của địch xong rồi mới phát kình đánh địch được.
Dẫn kình: tức là trong thôi thủ địch được ta dẫn đến thế phải động hoặc địch tấn công bị ta dẫn vào lộ tuyến của ta định trước trong linh giác thì hóa kình dẫn kình có phần khó hơn nhiều. Đại thể là thế tấn công của đối phương ít khi lọt vào ý muốn của ta cho nên ta phải dùng dẫn kình mà đưa đối phương vào. Phương pháp dẫn là phải hóa kình của đối phương cho đến sắp tận nhưng chưa tận nhờ đó mới có thể dẫn kình đó vào đích ngắm của ta được. trong linh giác phép dẫn kình phải được chuyên luyện nhiều năm vì phương pháp này không chỉ dùng tay mà dẫn được còn phải đồng thời dùng cả thân pháp yếu pháp bộ pháp để dẫn vậy.
Niêm dính – Linh giác được sử dụng trong thôi thủ đòi hỏi sự linh hoạt kết hợp nhuần nhuyễn đan xen nhiều công pháp mới đạt kết quả cao trong đó có phương pháp dùng kình lực tấn công địch gọi là nã kình. Để tập được phương pháp nã kình phải kết hợp được giữa nã kình với dẫn kình nó là một phương pháp khó cần được chuyên luyện nhiều năm. Nã không được tất là phát kình không được, phát kình không trúng đích là nã không chuẩn xác. Như vậy có thể nói nã là tiên phong của phát kình. Trong khi nã phải để cho thế của địch bị đình trệ lúc đó ý của ta mới nhắm tới liền phát kình nhắm vào đích ngắm của ta nếu thực hiện đúng thì không bao giờ không thành công hoặc không trúng đích. Kỹ thuật nã là động tác phải nhẹ nhàng nếu nặng nề ắt đối phương phát hiện trước dễ thoát thân. Cái khó là ở chỗ giữa lúc sắp nã và lúc nã vừa đến thân địch còn sau khi nã xong thì địch không thể nào thoát được. thường phải nã vào các khớp của địch như là cổ tay, trỏ, vai….còn ở những chỗ khác địch rất dễ thoát thân. Trong khi nã hai tay người phải giống như cái cân hễ cân vật nặng thì đẩy quả cân ra ngoài đòn, cân nhẹ thì đẩy vào trong. Trong lúc nã hoặc tấn công phải chú ý giữ trọng tâm của ta để ổn định đầu gối không nên vượt quá mũi chân, vĩ lư phải trung chính then chốt là ở eo đùi và không dùng lực để nã mà hoàn toàn dùng ý trí để nã.