Vietnam Business Review

Vietnam Business Review

Share

Build your knowledge in Marketing, Finance, HR, Operation, and Management.

31/12/2023

"CHAT GPT" là "TIỀM NĂNG" hay "TIỀM TÀNG" ?

Sự xuất hiện của các công ty công nghệ những năm "1995 - 2002"
-> Đã gây ra sự khủng hoảng tài chính cực lớn với hệ quả là nền kinh tế bị đẩy ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, gây nên sự sụt giảm mạnh về sản lượng, việc làm, đi kèm nguy cơ bùng nổ lạm phát.
-> Vậy bằng cách nào mà các công ty công nghệ đã ảnh hưởng to lớn như thế tới thị trường tài chính toàn cầu như thế. Bài viết hôm nay sẽ đưa ra một lời giải thích chi tiết tới mn.
_______________________________________________________________________
Nguồn gốc của sự việc này được cho là do sự ra mắt của "World Wide Web" năm 1989. Lúc bấy giờ, sự chú ý của giới truyền thông và các nhà đầu tư đổ dồn vào công ty Dotcom tạo nên hiệu ứng b**g bóng khổng lồ. Các doanh nghiệp này thường hoạt động dưới các tên miền là “.com” và phần lớn tham gia vào các nhóm ngành như thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến, cũng như các hoạt động khác liên quan tới internet. Các doanh nhân trẻ hay startup nhận ra tiềm năng phát triển của công ty với internet là vô bờ bến kết hợp với lãi suất ngân hàng được xem là thấp nhất kể từ thập niên 70. Mặc dù đây được xem là cuộc cách mạng hệ thống thông tin toàn cầu, tuy nhiên chỉ có 2.5% người Mỹ hay 0.5% dân số toàn cầu.
-> Bởi thời điểm đó yêu cầu bạn phải am hiểu về Coding mới có thể truy cập vào internet.
-> Nhưng "NỤ CHỈ THẬT SỰ NỞ HOA" khi có sự ra đời của công ty “netscape” -> Netscape Communications là công ty dịch vụ máy tính của Mỹ, sản phẩm được biết đến nhiều nhất là trình duyệt web.

Vì nhận thấy tiềm năng phát triển về mảng công nghệ của công ty mình quá khủng mà ông chủ của Netscape đã đưa ra một quyết định rất mạo hiểm. đó chính là IPO công ty mình (hay còn được hiểu là niêm yết trên sàn chứng khoán). Trong thị trường chứng khoán, IPO nghĩa là hoạt động huy động vốn của công ty thông qua hình thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Nhưng vấn đề nằm ở việc mặc dù đang ở trong giai đoạn đầu tư và phát triển nhưng Founder của Netscape đã mạo hiểm niêm yết công ty chính mình. Bởi lẽ khi IPO chứng tỏ công ty phải hoạt động "CÓ LÃI", và chỉ khi có lãi mới có thể đi lên trên sàn để kêu gọi vốn đầu tư để phát triển tiếp. Nhưng ở thời điểm đó, ai cũng hiểu là internet vẫn sẽ còn trên đà phát triển nữa, nên người người, nhà nhà đầu tư trong khi công ty vẫn đang lỗ nặng.Và ngày IPO là ngày 9/8/1995 và theo nhiều người đây là ngày bắt đầu chuỗi sự kiện của b**g bóng ".COM". Vào ngày đầu tiên lên sàn giá cổ phiếu của công ty này là 58.25 $ và đẩy mức định giá công ty này lên mức 2.7 tỷ $ (một mức giá mà không biết bao nhiêu công ty có mơ cũng ko đạt được).
-> Điều này dĩ nhiên đã khiến rất nhiều nhà đầu tư, các quỹ rất hưng phấn để vung tiền mua cổ phiếu của Netscape.
-> Dẫn đến sự thành lập của hàng loạt các công ty công nghệ khác như là EBAY, AUDIO NET, các công ty này đang cố gắng để làm cho các hoạt động kinh doanh thông thường trở nên số hóa nhằm thúc đẩy sự trao đổi mua bán giữa người với người.

!!! Điều này đã làm cho mình liên tưởng tới một thuật ngữ trong marketing là “HABIT-FORMING PRODUCT” một sản phẩm tạo nên thói quen tiêu dùng trong con người. Chúng ta có thể hiểu đơn giản là những sản phẩm được tạo nên để đáp ứng các nhu cầu cơ bản nhất của con người mà không yêu cầu thao tác quá nhiều. FACEBOOK, là 1 ví dụ điển hình, trang mạng xã hội này nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, kết nối giữa người với người, chỉ qua vài thao tác đơn giản mà mọi người có thể úp hình, kết bạn, chia sẻ dòng trạng thái hoặc thậm chí là phục vụ việc kinh doanh online của bản thân________________________________________________________

Quay trở lại với chủ đề chính, các công ty ".COM" luôn cố gắng để có thể được niêm yết trên sàn chứng khoán, còn nhà đầu tư thì lại tích cực thái quá về sự phát triển vượt bậc trong tương lai của Internet nên là cứ thấy công ty nào liên quan tới ".COM" thì chẳng nghĩ ngợi mà vung tiền đầu tư. Doanh thu hay tiền đầu tư của công ty thì ít, mà có được đồng tiền đầu tư nào thì lại đem đi Marketing, truyền thông, quảng cáo nhằm xây dựng thương hiệu trên thị trường hết. Để làm cho doanh nghiệp của mình trở nên KHÁC BIỆT với các đối thủ ".COM" khác, để các nhà đầu tư, quỹ tiếp tục tăng dòng tiền đầu tư. Các công ty công nghệ này được dự tính là đã đầu tư hơn 90% tiền vào quảng cáo để cho thấy rằng thương hiệu ".COM" của tôi tốt hơn thương hiệu của đối thủ. Và đó là lí do tại sao thì doanh thu trên báo cáo tài chính thì cực kì cao nhưng lợi nhuận thì gần như ở số 0 tròn trĩnh hoặc thậm chí ở mức âm nặng. Vốn mạo hiểm từ đó cũng được huy động rất dễ dàng (đỉnh điểm là năm 1999 khi mà 39% số vốn của các quỹ đầu tư mạo hiểm đổ vào các công ty công nghệ “.COM”. Các ngân hàng đầu tư, vốn rất được lời từ những đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), làm dấy lên làn sóng đầu cơ và khuyến khích đầu tư vào công nghệ.

_BENEFITS_
B**g bóng ".COM" góp phần cùng nhiều nhân tố khác tạo ra sự thịnh vượng kinh tế của Hoa Kỳ trong nửa cuối thập niên 1990 theo những cách sau:
Giá cổ phiếu công nghệ cao tăng nhanh đã khuyến khích sự phát triển của các công ty trong ngành công nghệ thông tin. Điều này làm cho công nghệ thông tin tiến bộ nhanh chóng và việc ứng dụng nó vào quản lý, sản xuất đã làm năng suất lao động tăng lên. Greenspan (2008) cho rằng sự bùng bổ của công nghệ cao diễn ra nhanh chóng đã mở ra một giai đoạn hủy diệt mang tính sáng tạo, làm năng suất lao động và làm thị trường lao động trở nên linh hoạt hơn. Đây chính là những nhân tố quan trọng nhất tạo nên tăng trưởng kinh tế cao và duy trì một thời gian khá lâu. Giá cổ phiếu tăng nhanh khiến các nhà đầu tư cổ phiếu cảm thấy tài sản của mình tăng lên. Lúc đó, họ sẽ tiêu dùng nhiều hơn (hiệu ứng tài sản). Nhu cầu cá nhân nhờ vậy tăng lên cùng hiệu ứng lan tỏa của nó tới sản xuất của các ngành khác nhau trong nền kinh tế khiến đầu tư tư nhân tăng. Nói cách khác, nhìn từ mặt nhu cầu của nền kinh tế, giá cổ phiếu tăng làm tổng cầu tăng lên.

_DRAWBACKS_
Vậy thì còn về mặc tiêu cực của thời kì “B**g bóng .COM” thì sao.

Thị trường -> thì lại quá OVERCONFIDENT (các công ty, nhà đầu tư, truyền thông lạc quan bất hợp lí, không còn logic, cộng với việc nhà nước đẩy lãi xuất cho vay xuống thấp để thúc đẩy, kích cầu sự phát triển kinh tế.)
Đầu năm 2000, sự cố máy tính Y2K – lỗi thiên niên kỷ xảy ra cùng với các chỉ số như sản lượng thiết bị doanh nghiệp tăng 74%, chi phí xây dựng tăng 35% trong khi hàng hóa tiêu thụ chỉ ở mức 18% cũng đồng nghĩa với việc “Cung lớn hơn cầu”. Điều này khiến FED nhận ra nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng quá nóng nên vội vã tăng lãi suất ngân hàng với mong muốn kìm lại đà tăng. Đồng thời lúc này trong đầu nhà đầu tư đã có sự hoài nghi về nhiệm màu của những công ty công nghệ mà họ xuống tiền.
-> Bài báo “Burning Fast” của Barron’s – tổ chức tài chính lớn của Mỹ vạch trần tình trạng các công ty ".COM" đang phải chịu lỗ và không có khả năng sinh lời trong thời gian tới, tồi tệ hơn là người dân đã và đang nhận ra thực chất các công ty công nghệ cũng chỉ là những hố chôn tiền, và điều tất yếu b**g bóng căng tròn đột ngột vỡ tan. Không chỉ vậy, ngta còn điều tra ra được là các ceo của các công ty ".COM" này đã làm giả báo cáo tài chính, khiến cho nó trong như có lời để được ipo, được lên sàn chứng khoán và kêu gọi vốn đầu tư.
Các công ty lớn, nhà đầu tư và các quỹ bắt đầu đặt lệnh bán chính cổ phiếu của họ để chốt lời, kéo theo hệ quả nhiều nhà đầu tư bán tháo nhằm chốt lời, cắt lỗ. Dẫn đến làn sóng panic selling làm thị trường rung lắc mạnh mẽ. Nhà đầu tư nhanh chóng tháo chạy, rút toàn bộ vốn ở những công ty ".COM" vì cho rằng không còn cách nào để kiếm được lợi nhuận bền vững trong tương lai ở công ty này.

_CONSEQUENCES_
→ Kéo theo đó là hơn 400k công việc IT bị mất, các công ty công nghệ hầu hết đều công bố phá sản, các công ty còn sót lại như eBay, Priceline, Amazon (từ 100 $ rớt xuống 7 $ ngay sau khi b**g bóng vỡ), chỉ số NASDAQ phải mất hơn 15 năm sau đó mới ổn định trở về như cũ.
Link https://www.inderscienceonline.com/doi/abs/10.1504/IJITM.2008.015887 (Life after dotcom)

-> Cuộc thăm dò được thực hiện vào ngày 8 tháng 9 năm 2004 chỉ ra rằng 65% người trưởng thành ở Hoa Kỳ có quyền truy cập internet tại nhà của họ . Do việc sử dụng internet tại nhà tăng lên, doanh số bán lẻ trực tuyến ở Hoa Kỳ đạt hơn 74 tỷ $ . Ngoài ra, sự gia tăng tỷ lệ người Mỹ mua hàng trực tuyến hàng năm dự kiến sẽ tăng từ 23% năm 1998 lên 54% năm 2003 . Mặc dù bức tranh màu hồng này, chúng ta không nên bỏ qua thực tế là ước tính có khoảng 519 công ty ".COM" đã nộp đơn xin PHÁ SẢN hoặc ngừng hoạt động bán hàng trực tuyến của họ vào cuối năm 2001.1 Năm 2003, 2000 công ty khởi nghiệp Internet đã không còn tồn tại hoặc đã sáp nhập với các công ty khác. Một số công ty ".COM" thất bại này bao gồm: Boo.com, Chipshot.com, eToys, Toysmart, FreightWise, Go.com, Pets.com.

_TRIGGERS AND LESSONS_
Nhìn lại hành trình, lý do hình thành và sụp đổ của b**g bóng dot com không phải vì do internet tệ nhưng thực tế nguyên nhân cốt lõi đằng sau là do việc thương mại hóa internet. Nhóm marketing đã biến tướng internet thành một cái thứ gì đó rất là thành thánh.

-> NGUYÊN NHÂN
1/ rót mật vào tai của các nhà đầu tư, vào các quỹ, vào các ngân hàng.
2/ nguyên nhân là dòng tiền rẻ (những năm 1970 thì tiền lãi vay ngân hàng rẻ, mức thuế theo chính phủ mỹ công bố ở mức thấp kỉ lục), dòng đầu tư dễ dãi, sự tự tin thái quá của các nhà đầu tư, mà bỏ quên đi các "CHỦ CHỐT" như dòng doanh thu, lợi nhuận, hay lịch sự lợi nhuận của công ty.

-> BÀI HỌC CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ
Không nên quá tin vào truyền thông và Marketing. Bởi bản chất sau những hào nhoáng mỹ huyền ấy có thể là một thuyết âm mưu nhằm lôi kéo thu hút bỏ tiền vào các mồ chôn. Qua đây ta cũng có thể rút ra được góc nhìn sâu hơn về Marketing Vietnam Business Review -> là duy trì niềm tin và tính xác thực, không quảng cáo quá ồ ạt. Là "ETHICAL AND SUSTAINABLE MARKETING" hay được hiểu là “ Marketing nhân đạo và bền vững” mà chính Page cũng đang theo đuổi. Hơn hết, Trong vai trò nhà đầu tư, bạn cần trang bị kiến thức nền và kỹ năng trong lĩnh vực bạn muốn bỏ tiền vào. Công nghệ ngày càng phát triển, nhiều mô thức mới ra đời. Chỉ có kiến thức mới giúp bạn đánh giá hoạt động các công ty có thực chất hay không.

-> Quy chung lại tài chính cũng như tình yêu, dễ đến thì cũng dễ đi, tăng trưởng nhanh thì sụt giảm cũng nhanh, đã bao nhiêu lần những nhà đầu tư xuống tiền cho những thứ họ không hề hiểu bản chất nó là gì, chưa tìm hiểu kĩ càng, chẳng hạn như những sự kiện là: HOA TUY LÍP những năm 1600 tại hà lan , CƠN SÓNG THẦN TÍN DỤNG GIÁ RẺ (một sự cám dỗ), hay sự khủng hoảng về nền kinh tế của Nhật Bản (những năm 1990) mà được tính là tương đương với sự thiệt hại của "2 QUẢ BOM NGUYÊN TỬ" mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2.

CẢM ƠN TẤT CẢ MN ĐÃ DÀNH THỜI GIAN ĐỂ ĐỌC ĐẾN ĐÂY.
SEE U SOON.

29/11/2023

"LÒNG THAM VÔ ĐÁY" trong kinh doanh qua trường hợp của "ENRON".

-> Vào đầu năm 1985, diễn sự sáp nhập của hai công ty là "Houston natual gas" và "Internorth" và đã thuê " Kenneth Lay" để điều hành công ty và đổi tên thành "Enron". Lúc ấy "Enron" cũng là một doanh nghiệp hoạt động ở một mảng công nghiệp có giá trị hàng tỷ đô. Nhưng tầm nhìn của "Kenneth Lay" (người đứng đầu công ty) lại không chỉ dừng lại ở đó. Ông bắt đầu chiến lược của mình ở nhiều mảng khác, và cũng là lúc chính phủ Mỹ cho phép các công ty được áp dụng phương pháp kế toán "Mark to Market" (~ là thủ tục kế toán được gọi là “đánh giá theo thị trường”. Giá trị thị trường của tài sản được tính toán dựa trên những gì một doanh nghiệp sẽ nhận được tại thời điểm cụ thể đó nếu được bán.)
-> Lúc này khách hàng của Enron - các công ty dịch vụ tiện ích và rất ngại rủi ro, họ có xu hướng sẽ trả giá hàng hóa cho Enron trước một thời điểm nhận hàng nào đó trong tương lai. Điều nay đồng nghĩa với việc nếu giá điện trong tương lai giảm xuống thì công ty sẽ ăn "TIỀN HOA HỒNG" từ đó. -> Hoạt động này không khác gì một "Investment bank".

-> Chỉ trong vòng một vài năm "Skilling" đã biến "Enron" từ một công ty buôn bán năng lượng rất cơ bản trở thành một tổ chức tài chính buôn bán hợp đồng "Năng lượng" phức tạp.

-> "10 NĂM từ 1991 đến 2000", Enron đã công khai trong báo cáo tài chính rằng "Doanh thu đã tăng từ 5,5 ngàn triệu $ lên 100 ngàn triệu $" (gấp 18 lần)-> Một sự tăng trưởng vượt bậc khó chấp nhận được, trong khi mức tăng trưởng trung bình hàng năm của ngành "Năng Lượng" theo khảo sát chỉ từ "2-3%/ năm".

VÉN MÀN CHIÊU TRÒ LỪA ĐẢO

1/ "KHAI KHỐNG DOANH THU" TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
->Enron đã ghi nhận doanh thu khống cho toàn bộ hợp đồng, tính tổng cả các chi phí bên ngoài công ty, đặc biệt là chi phí "Môi giới". Ví dụ, một môi giới đứng giữa hai bên A và B ký hợp đồng mua năng lượng 200 triệu USD với mức phí môi giới là 1 triệu USD thì chi phí môi giới này cũng được chính công ty "ENRON" ghi nhận vào doanh thu của công ty mặc dù nó là doanh thu của một công ty khác.

2/ PHÂN BỔ DOANH THU "SAI THỜI ĐIỂM"
-> Enron đã sử dụng chiêu trò ghi nhận doanh thu họ nhận từ hợp đồng phái sinh (~là hợp đồng giữa các bên để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày cụ thể trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận từ trước trong hợp đồng) mà đáng lẽ ra chỉ được ghi nhận là doanh thu trong tương lai. Bằng một cách vô lý, Enron đã ghi nhận doanh thu "CHƯA DIỄN RA CỦA TƯƠNG LAI" là doanh thu thực tại thời điểm hiện tại trong năm. Hay việc Enron ghi nhận doanh thu 110 triệu đô chỉ mới được trình bày trong hợp đồng giữa "ENRON" và "BLOCKBLUSTER VIDEO" trong khi dự án mới bắt đầu triển khai và khi triển khai thì vỡ lỡ ra là không thực hiện được và doanh thu thực tế chỉ có "VÀI ĐÔ", đó là lý do tại sao trong năm 2000, doanh thu của công ty được ghi nhận là tăng khủng khiếp tới hơn 100 ngàn triệu đô. Điều này đã làm nhiều nhà đầu tư quan tâm và tin tưởng vào sự phát triển của Enron mà không ngần ngại bỏ tiền vào, mặc dù số tiền lượng tiền mặt tại công ty thì rất ít.

3/ Sử dụng "SPECIAL PURPOSE ENTITIES"
-> Enron đã tại ra các công ty con, cùng hàng loạt các dự án "được đánh bóng và coi như là rất thành công, kiểu gì cũng ra lãi". Họ đảm bảo trái phiếu này bằng chính cổ phiếu của Enron khi mà cổ phiếu của công ty này trong những năm 2000 lại không ngừng tăng lên (được giải thích ở mục 2 về lý do tại sao). Điều này nhằm mục đích "TẠO RA CÁC GIAO DỊCH NGOẠI BẢNG" và "CHE DẤU CÁC KHOẢN NỢ CAO NGẤT TRỜI" của công ty.

4/ MUA CHUỘC CÔNG TY KIỂM TOÁN
-> Enron đã tạo dựng mối quan hệ thân thiết với Arthur Andersen & Co (lúc ấy là 1 trong BIG 5 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới cùng với KPMG, PWC, EY, và Deloitte.) và được trả 52 triệu USD/ năm để "COOK THE BOOKS" hay còn được hiểu là gian lận báo cáo tài chính, biến những con số giả mạo trở thành có ý nghĩa.

-> "SUSTAINABILITY" chắc có lẻ là từ khóa mà bất kì những nhà đầu tư hay kinh doanh nào cũng nên đặt lên hàng đầu, bởi lẽ công ty không có lõi cứng, không có mục tiêu phát triển bền vững thì sớm hay muộn "KIM TRONG BỌC CŨNG CÓ NGÀY LÒI RA", qua đây chắc mn cũng có thể liên tưởng một vụ án cũng chấn động không kém ở Việt Nam những ngày nay - vụ án của tập đoàn "VẠN THỊNH PHÁT" lừa đảo hơn 30 nghìn tỷ của 42 nghìn nhà đầu tư.

Kết lại, "VỤ ÁN LỪA ĐẢO TÀI CHÍNH CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ" cho bản thân chúng ta, những nhà đầu tư cần phải xem xét rất kĩ trước khi đưa ra quyết định đầu tư, đặc biệt là những công ty đang trên đà phát triển vượt bậc, thần kỳ, bởi biết đâu, sau bức màn đó lại là một sự thật mà khó lòng chấp nhận được.

Page xin cảm ơn mọi người đã dành thời gian để đọc tới đây, nếu thấy hay và bổ ích thì đừng ngần ngại mà cho Page một like và bình luận ý kiến cá nhân của mn ở bên dưới.

18/11/2023

Khi "SẢN PHẨM" tạo nên "THÓI QUEN".

-> Việc tạo ra một sản phẩm được dùng theo thói quen đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra là rất quan trọng đối với sự sống còn và phát triển của cả sản phẩm, dịch vụ và công ty. Vậy thì trong nghiên cứu này, ta sẽ cùng tìm hiểu thêm về những lý do cho những lợi ích to lớn của việc tạo ra "SẢN PHẨM ĐƯỢC SỬ DỤNG THEO THÓI QUEN".

1. High customer lifetime value (giá trị vòng đời của khách hàng cao). Khi một sản phẩm tạo ra đủ tính tiện lợi và thiết thực thì sẽ mang lại được nhiều khách hàng hơn. Hãy lấy google làm ví dụ, ở nó chúng ta có thể thao tác được đại đa số các tác vụ như: tra cứu thông tin, tải các loại ứng dụng, mua bán hoặc chạy quảng cáo,... Tính đa năng là 1 trong 2 lý do (tính đa năng và việc sử dụng thường xuyên của khách hàng) dẫn đến việc truy cập thường xuyên. Thay vì phải tắt ứng dụng một trang đang tìm tài liệu để mở 1 trang mới để tải ứng dụng, thì Google cho phép ta đa năng trong thao tác, tăng hiệu suất công việc mà không mất nhiều thời gian.

2. Supercharge growth (sự phát triển siêu mạnh mẽ) Một khi sản phẩm đã có được một lượng người dùng theo thói quen, sự mở rộng về quy mô và danh tiếng của sản phẩm là điều sẽ được làm bởi chính những khách hàng bị thu hút đó, họ sẽ tiếp tục mời, giới thiệu tới bạn bè, người thân mà công ty không cần phải chi quá nhiều cho việc quảng bá. Facebook, là một ví dụ điển hình, khi người dùng bắt đầu gắn bó với ứng dụng, thì đó cũng là lúc họ sẽ kêu gọi nhiều người quen của họ tham gia chung với mục đích chia sẻ cho nhau những bức hình, trạng thái hoạt động, kết nối từ xa hoặc cũng có thể là gắn thẻ nhau trên các bài viết. Việc liên tục có sự kết nối giữa các người dùng đã trở thành một động lực để họ có thể liên tục kết nối với ứng dụng (giống như external triggers - sự thúc đẩy từ bên ngoài - mà mình đã nhắc tới trong bài trước). Bởi vô hình chung, việc không dùng facebook một khoảng thời gian ngắn sẽ làm cho người ta trở nên mất kết nối và có thể dẫn đến lo lắng.

3. Being less sensitive about prices (Trở nên ít nhạy cảm hơn về giá). Người dùng theo thói quen, được nghiên cứu chỉ ra là sẽ sẵn sàng chi trả cho những dịch vụ mà họ đã trở nên quen thuộc hoặc như một phần của cuộc sống. Các tựa game phổ biến như: Liên quân hay PUBG là những ví dụ thường hay nhắc tới. Người chơi thường xuyên xem việc chơi những game này là điều bắt buộc trong ngày như một sự giải trí, thế nên dễ hiểu khi có một chẳng may có 1 quảng cáo xuất hiện làm mất đi vài chục giây cao trào trong trận game cũng có thể làm họ tụt hứng. Vốn dĩ, não bộ con người ta đều không thích những quảng cáo cắt ngang những sự hưởng thụ ấy, nên việc bỏ tiền ra để sử dụng những gói dịch vụ như “gold, premium,..” hay những trải nghiệm tốt hơn như “thêm mạng sống hay nâng cấp sức mạnh” sẽ trở nên dễ dàng để đưa ra quyết định hơn. Cũng từ đó mà các công ty có thể thu lợi nhuận nhiều hơn từ những người chơi.

4. Sharper competitive edge (Lợi thế cạnh tranh cao hơn). Giáo sư ngành marketing của trường ĐH Harvard - John Gourville từng nói: ““many innovations fail because consumers irrationally overvalue the old while companies irrationally overvalue the new.” (có thể hiểu là rất nhiều phát minh thất bại là bởi khách hàng coi trọng một cách vô lý những thứ cũ trong khi những công ty lại coi trọng một cách vô lý những thứ mới). Cá nhân mình thấy rất đúng, những sản phẩm, dịch vụ lâu đời như Facebook, Microsoft, hay Apple tuy cũ nhưng những dịch vụ đó không yêu cầu người dùng phải nỗ lực tìm hiểu để có thể thao tác được và hơn hết họ đã có một số lượng người dùng thường xuyên quá nhiều, số lượng người này lại liên tục khai thác và gọi mời nhiều người hơn nữa, cho nên những dịch vụ mới ra đời với sự cải tiến đáng kể như Bing, Myspeace hay Friendster lại thất bại ê chề. Bởi lẽ đại đa số những khách hàng đã trở nên thân thuộc dùng Facebook, Microsoft và việc sử dụng một dịch vụ mới, tân tiến hơn trở nên không cần thiết và thậm chí là đòi hỏi phải tìm hiểu để thao tác trong thời gian dài mới có thể thành thục.
(mảng nghiên cứu: tâm lý khách hàng)
Page xin cảm ơn tất cả mọi người đã dành thời gian để đọc tới đây. Đây là những tổng hợp nghiên cứu về chuyên ngành "hành vi của con người trong kinh doanh" hay còn được biết tới là "consumer behaviors in business". Mn có bất cứ thắc mắc thì đừng ngần ngại nhắn tin với page nha. Một lần nữa xin cảm ơn tất cả mn nhiều !!!

17/11/2023

4 "NHÂN TỐ" để biến "SẢN PHẨM" được dùng theo "THÓI QUEN".

Qua cuốn sách “Hooked: How to build habit-forming products" người đọc sẽ có góc nhìn rõ hơn về việc làm thế nào để 1 sản phẩm có thể trở nên vô cùng quan trọng và thậm chí là điều hiển nhiên trong cuộc sống của con người chúng ta (lấy dẫn chứng là các trang mạng xã hội), phần đầu của cuốn sách có đề cập việc 75% người có điện thoại sử dụng chúng khoảng 15 phút ngay sau khi thức dậy, và trung bình một người có thể kiểm tra và sử dụng điện thoại của họ lên đến 150 lần/ ngày. Điều này, từ lâu đã thành một sự bắt buộc, thúc ép chúng ta phải kiểm tra tin nhắn, email liên tục. Sự hình thành nên các trang mạng xã hội, không phải là một điều ngẫu nhiên, mà đã được nghiên cứu và lập trình rất lâu, đi đôi với việc dựa trên những dẫn số liệu, dẫn chứng về khoa học hành vi con người. Vậy thì đâu là 4 nhân tố đã tạo nên một sự ép buộc mang tính phổ rộng của các mạng xã hội như vậy???
1. Trigger (external/ internal) các sự thúc đẩy đến từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Ví dụ bạn thấy một bức ảnh được đăng lên facebook bởi chính gia đình bạn. Và đó quả là một bức ảnh xinh đẹp và gợi nhớ nhiều kí ức. Ngay lập tức, não bộ của bạn sẽ được thúc đẩy để nhấn nút thả cảm xúc, bình luận hoặc gọi điện cho người thân ngay lập tức. Đó chính là sự thúc đẩy từ bên ngoài, còn sự thúc đẩy từ bên trong có thể được hiểu là cảm giác muốn được kết nối, mong muốn được trò chuyện và tâm sự của bạn với mọi người.
2. Action (hành động). Theo tiến sĩ Phillippa Lally, mất khoảng 18-254 ngày để hình thành một thói quen tốt nhưng cần rất nhiều sự kiên trì (vd tập thể dục, học ngoại ngữ, đọc sách,...).Trái lại nghiên cứu cho thấy não bộ con người chúng ta rất dễ thích nghi với những hành động dễ dàng và không yêu cầu một trình độ cao để có thể thao tác được. Việc sử dụng các thiết bị điện tử trông rất dễ dàng và tiện lợi, chỉ vài thao tác đơn giản trên điện thoại mà bạn có thể xem video, chia sẻ bài viết hay gọi bạn bè online.
3. Variable reward (đa dạng các loại phần thưởng). Đây là một trong những công cụ đắc lực mà các công ty dùng để thu hút khách hàng, người sử dụng. Nghiên cứu cho thấy chất dẫn truyền thần kinh dopamine (chất làm cho não cảm giác hưng phấn và hạnh phúc) tăng lên khi não đang mong đợi 1 phần thưởng. Khi bạn dùng mạng xã hội, bạn không chỉ có thể tìm thấy những thông tin bài đọc mà bạn muốn đọc mà thuật toán còn dựa trên những sở thích để có thể làm nổi lên những bài viết liên quan khác. Chẳng hạn bạn có đam mê về du lịch, bạn hay xem và bình luận ở những bài viết về những chuyến du lịch của mọi người, thuật toán sẽ dựa trên những hành động để có thể làm hiện lên những thông tin về những địa điểm du lịch đẹp, những tour du lịch giá rẻ và hàng tá thông tin liên quan nhằm mục đích lôi kéo bạn sử dụng mạng xã hội lâu hơn. Sự đồng điệu mang tính cận kề này có tác dụng rất lớn trong việc tạo nên thói quen dùng 1 sản phẩm mới và coi chúng như 1 phần bắt buộc.
4. Investment (sự đầu tư), sự đầu tư ở đây có thể hiểu về không chỉ tiền bạc mà còn là ở phương diện thời gian, dữ liệu, công sức của cá nhân chúng ta. Qua một khoảng thời gian sử dụng một sản phẩm có tính gây nghiện (nhẹ hơn là thích thú) thì con người ta sẽ tạo nên một mong muốn giữ lại những thứ mà khiến bạn thích thú. Chẳng hạn, sau khi sử dụng Facebook với hàng loạt tính năng, tiện ích, ta có xu hướng sẽ sử dụng lại trong lần tiếp theo với sự đầu tư về thời gian và công sức cho nó với các mục đích như kết nối với bạn bè, chia sẻ trạng thái hoạt động hoặc là giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đó tới nhiều người quen của chúng ta hơn.
(mảng nghiên cứu: tâm lý khách hàng)
Cuối cùng, mình xin cảm ơn tất cả mọi người đã dành thời gian để đọc tới, đây là những gì mình đã đọc, nghiên cứu và dịch lại từ cuốn sách: "Hooked - How to build habit-forming products".

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Hẻm 290, Đường Lý Thái Tổ, Quận 3
Ho Chi Minh City
70000